Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Đức Toàn
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
THÔNG TIN PHỤC VỤ KIỂM SOÁT CHI PHÍ
TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP.
I. KHÁI QUÁT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ.
1. Khái niệm, bản chất kế toán quản trị.
Kế toán là công cụ không thể thiếu trong quản lý kinh tế với chức năng là
cung cấp thông tin kinh tế về một tổ chức cho các đối tượng sử dụng thông tin khác
nhau. Mục đích sử dụng thông tin kế toán của các đối tượng khác nhau nên thông tin
mà kế toán cung cấp rất đa dạng và khác nhau về nội dung, phạm vi, mức độ, tính
chất và thời gian cung cấp kể cả pháp lý của thông tin. Sự khác nhau đó là tiêu thức
để chia hệ thống thông tin kế toán thành 2 bộ phận. Một bộ phận luôn cung cấp
thông tin cho các đối tượng bên ngoài gọi là kế toán tài chính và một bộ phận cung
cấp thông tin theo yêu cầu của các nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp gọi là kế
toán quản trị. Hoạt đông sản xuất kinh doanh ngày càng phát triển và đa dạng thì sự
tách biệt giữa kế toán quản trị với kế toán tài chính nhằm cung cấp thông tin riêng
biệt cho các nhà quản trị là tất yếu.
Có nhiều khái niệm về kế toán quản trị đã được đưa ra, mỗi khái niệm nhấn
mạnh một vấn đề nào đó của kế toán quản trị. Kế toán quản trị không chỉ tạo ra
thông tin cung cấp cho các nhà quản lý để ra quyết định kinh doanh, quyết định sử
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thuỷ
1
Trang 1
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Đức Toàn
dụng các nguồn lực, mà còn cả thông tin về mặt kỹ thuật để các nhà quản lý thừa
hành sử dụng thực thi trách nhiệm của mình. Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ năm 1982 đã
định nghĩa về kế toán quản trị: “Kế toán quản trị là nhận diện, đo lường, tổng hợp,
phân tích, lập báo cáo, giải trình và truyền đạt thông tin tài chính và phi tài chính cho
các nhà quản trị doanh nghiệp để hoạch định, đánh giá và điều hành hoạt động sản
xuất kinh doanh trong phạm vi nội bộ của doanh nghiệp nhằm sử dụng hiệu quả các
tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản đó”. (Giáo trình KTQT - Trường Đại học Kinh
đòi hỏi mặt khác tìm biện pháp cạnh tranh để tiêu thụ hàng hoá, nghiên cứu các
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thuỷ
2
Trang 2
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Đức Toàn
chính sách giá cả, tính toán được các bước phát triển, mở rộng doanh nghiệp trong
từng thời kỳ, từng giai đoạn theo chiều hướng có lợi. Như vậy kế toán quản trị là
một phương pháp xử lý các dữ kiện để đạt được các mục tiêu sau đây:
Một mặt:
- Đo lường toàn bộ các chi phí, tính toán và tổng hợp chi phí sản xuất, giá
thành cho từng loại hoạt động mà doanh nghiệp thực hiện.
- Xác định cơ sở để đánh giá các yếu tố của bảng cân đối kế toán doanh
nghiệp.
Mặt khác:
- Thiết lập hệ thống dự toán trong doanh nghiệp như dự toán doanh thu, dự
toán chi phí,…
- Kiểm soát thực hiện và giải trình các nguyên nhân chênh lệch giữa chi
phí theo dự toán với thực tế phát sinh.
- Cung cấp các thông tin cần thiết để có các quyết định kinh doanh hợp lý.
Trong số các mục tiêu kể trên nhà quản trị cần tập trung
vào các mục tiêu sau:
- Kế toán quản trị dành cho tất cả các cấp lãnh đạo trong doanh nghiệp
không kể cấp bậc, chức vụ.
- Kế toán quản trị cần cung cấp các thông tin một cách nhanh chóng, kịp
thời. Giữa sự chính xác của thông tin và sự kịp thời của thông tin thì yếu tố kịp thời
được nêu lên trước.
- Kế toán quản trị là một bước để thực hiện việc kiểm soát tổng thể quá
trình quản lý của doanh nghiệp.
- Kế toán quản trị không phụ thuộc vào các nguyên tắc cứng nhắc mà nó
thích ứng theo sự phát triển của doanh nghiệp.
hoạch đinh, kiểm soát và ra quyết định. Theo đó, chi phí có thể là những phí tổn thực
tế phát sinh gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh hằng ngày của doanh nghiệp,
chi phí cũng có thể là những phí tổn ước tính để thực hiện một dự án hoặc là những
lợi nhuận bị mất đi do lựa chọn phương án, hi sinh cơ hội kinh doanh và những chi
phí sẽ được kiểm soát bởi một cấp quản lý khác.
2. Đặc điểm chi phí trong hoạt động xây lắp.
Trong xây lắp có các loại chi phí:
Chi phí bán hàng.
Chi phí bán hàng hay còn gọi là chi phí lưu thông và tiếp thị là dòng phí tổn
cần thiết để đảm bảo cho việc thực hiện chính sách bán hàng và để đảm bảo đưa
hàng hoá đến tay người tiêu dùng.
Chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: nguyên vật liệu là một trong
ba yếu tố cơ bản chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất kinh doanh của công
ty. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp chỉ liên quan đến một công trình, hạng mục công
trình.
Chi phí nhân công trực tiếp: thực hiện việc trả lương cho công
nhân viên theo các hình thức:
+ Đối với công nhân trực tiếp xây lắp trả lương theo khối lượng công
việc thực hiện trong tháng hoặc trả theo hợp đồng giao khoán.
+ Đối với công nhân thuê ngoài thi công các hạng mục công việc áp
dụng chế độ trả lương theo hợp đồng giao khoán.
+ Đối với công nhân vận hành máy thi công áp dụng phương pháp trả
lương theo ca máy hoạt động thực tế.
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thuỷ
4
Trang 4
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Đức Toàn
Trong chi phí nhân công thuê ngoài không phản ánh chi phí trích bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn.
phụ không những liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất sản phẩm mà còn bao
gồm những chi phí liên quan với quá trình phục vụ quản lý sản xuất, công việc văn
phòng. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thường được thiết lập định mức từng loại
trong sản xuất, chi phí nguyên vật liệu phụ không liên quan trực tiếp vì vậy khó thiết
lập định mức theo từng loại, chúng thường được ước tính tỷ lệ trên chi phí nguyên
vật liệu chính. Về phương diện hạch toán, chi phí nguyên vật liệu chính được hạch
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thuỷ
5
Trang 5
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Đức Toàn
toán trực tiếp cho từng quá trình sản xuất sản phẩm còn chi phí nguyên vật liệu phụ
được tập hợp chung sau đó mới phân bổ. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sai lầm
trong các quyết định liên quan đến chi phí trong từng sản phẩm dịch vụ một khi sự
lựa chọn tiêu thức phân bổ không phù hợp giữa nguyên nhân phát sinh chi phí với
đối tượng chịu chi phí.
3.1.1.2 Chi phí nhân công trực tiếp.
Chi phí nhân công trực tiếp là các chi phí phải trả cho công nhân trực tiếp sản
xuất sản phẩm, trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ như tiền lương chính, lương
phụ, các khoản phụ cấp, tiền công, các khoản trích theo tiền lương của công nhân
trực tiếp lao động do doanh nghiệp quản lý. Riêng đối với lao động thuê ngoài không
tính các khoản trích theo lương.
3.1.1.3 Chi phí máy thi công.
Chi phí máy thi công là toàn bộ chi phí sử dụng máy thi công gồm chi phí
thường xuyên như lương, chi phí vật liệu, khấu hao… và chi phí như chi phí sửa
chữa lớn, chi phí công trình tạm.
3.1.1.4 Chi phí sản xuất chung.
Chi phí sản xuất chung là chi phí phục vụ quản lý đội, công trường xây dựng,
bao gồm: lương nhân viên quản lý đội xây dựng, tiền ăn giữa ca của nhân viên quản
lý đội, của công nhân xây lắp, các khoản trích KPCĐ, BHYT, BHXH theo tỷ lệ quy
định hiện hành trích trên tiền lương phải trả của nhân viên quản lý đội, công nhân
- Chi phí dịch vụ điện nước, điện thoại, bảo hiểm phục vụ chung cho toàn
doanh nghiệp.
- Các khoản thuế, lệ phí chưa tính vào giá trị tài sản.
- Các khoản phí liên quan đến sự giảm sút giá trị tài sản như dự phòng nợ
phải thu khó đòi, hao hụt trong khâu dự trữ.
Như vậy chi phí quản lý doanh nghiệp cũng là một khoản mục chi phí gồm
nhiều thành phần có đặc điểm khác nhau và khá phức tạp. Đây là khoản mục chi phí
liên quan khá chặt chẽ đến quy mô, trình độ tổ chức quản trị doanh nghiệp. Vì vậy
sự nhận diện và phân cấp quản lý, phân bổ chi phí quản lý doanh nghiệp rất khó
khăn, đôi khi dẫn đến mức phân bổ sai lệch cho các sản phẩm, dịch vụ làm đánh giá
sai lầm thành quả đóng góp, kiềm chế tính năng động và sáng tạo của các bộ phận.
3.2 Phân loại theo cách ứng xử chi phí.
3.2.1 Biến phí.
Biến phí là những khoản mục chi phí thay đổi tỷ lệ với mức độ hoạt động của
đơn vị. Mức độ hoạt động có thể là số lượng sản phẩm sản xuất ra, số lượng sản
phẩm tiêu thụ, số giờ máy vận hành… Trong doanh nghiệp, biến phí tồn tại khá phổ
biến như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí năng
lượng… Những chi phí này khi mức độ hoạt động của đơn vị gia tăng thì chúng
cũng gia tăng tỷ lệ thuận và ngược lại. Biến phí không thuần nhất một hình thức tồn
tại mà còn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau:
- Biến phí tuyệt đối: là một loại biến phí mà sự biến động của chúng thực sự
thay đổi tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động. Để thực sự kiểm soát biến phí tuyệt đối,
nhà quản lý không chỉ kiểm soát tổng số mà còn phải kiểm soát tốt biến phí trên một
mức độ hoạt động ở mức độ a
i
khác nhau. Hoạch định, xây dựng và hoàn thiện định
mức biến phí tuyệt đối sẽ là tiền đề tiết kiệm, kiểm soát biến phí và giá thành sản
phẩm một cách chặt chẽ hơn.
- Biến phí cấp bậc: là một loại biến phí mà sự thay đổi của chúng chỉ xảy ra
khi mức độ hoạt động đạt đến một giới hạn nhất định.
phí, chi phí hỗn hợp được phân tích và lượng hoá theo yếu tố bất biến và khả biến.
3.3 Phân loại theo mối quan hệ kiểm tra và ra quyết định.
3.3.1 Chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.
- Chi phí trực tiếp là những chi phí quan hệ trực tiếp đến việc sản xuất một
loại sản phẩm, một công việc hoặc một hoạt động, một địa điểm nhất định và hoàn
toàn có thể hạch toán quy nạp trực tiếp cho sản phẩm, công việc đó.
- Chi phí gián tiếp là chi phí liên quan đến nhiều sản phẩm, công việc, nhiều
đối tượng khác nhau nên phải tập hợp quy nạp cho từng đối tượng bằng phương
pháp phân bổ gián tiếp.
3.3.2 Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được.
- Chi phí kiểm soát được là những chi phí mà ở cấp quản lý nào đó nhf quản
trị xác định được chính xác sự phát sinh của nó đồng thời nhà quản trị cũng có thẩm
quyền quyết định về sự phát sinh của nó.
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thuỷ
8
Trang 8
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Đức Toàn
- Chi phí không kiểm soát được là những chi phí mà nhà quản trị không thể
dự đoán chính xác sự phát sinh của nó hoặc không có thẩm quyền ra quyết định về
loại chi phí đó.
3.3.3 Chi phí cơ hội.
Chi phí cơ hội có thể định nghĩa là một khoản lợi nhuận tiềm tàng bị mất đi
hay phải hi sinh để lựa chọn, thực hiện hoạt động này thay thế một hoạt động khác.
Chi phí cơ hội không xuất hiện trên sổ sách kế toán nhưng lại là cơ sở để lựa chọn
phương án hành động.
3.3.4 Chi phí chìm.
Chi phí chìm là những dòng chi phí luôn luôn xuất hiện trong tất cả các
phương án sản xuất kinh doanh. Đây là một dòng chi phí mà nhà quản trị phải chấp
nhận không có sự lựa chọn.
4. Các báo cáo về chi phí và phân tích tình hình thực hiện chi phí.
biến động về giá của từng khoản chi phí, đồng thời tính mức chênh lệch giữa chi phí
định mức theo số giờ thực tế với chi phí định mức theo số giờ định mức cho từng
khoản chi phí để xác định mức biến động năng suất cho từng khoản chi phí. Cộng
mức chênh lệch về giá và năng suất để xá định tổng mức biến động.
Báo cáo tình hình thực hiện định mức chi phí sản xuất chung bất biến.
Mục đích: Kiểm tra, đánh giá việc sử dụng chi phí sản xuất chung bất biến.
Cơ sở lập: Đơn giá định mức của chi phí sản xuất chung bất biến lấy từ thẻ chi
phí định mức chi phí sản xuất, số giờ máy chạy hoặc số giờ lao động trực tiếp theo
kế hoạch, chi phí sản xuất chung bất biến thực tế.
Phương pháp lập: Tính mức chênh lệch giữa chi phí sản xuất chung bất biến
theo thực tế và theo kế hoạch để xác định mức biến động kế hoạch, đồng thời tính
mức chênh lệch giữa chi phí sản xuất chung bất biến theo kế hoạch với chi phí sản
xuất chung bất biến tính theo số giờ định mức và đơn giá định mức để tính mức biến
động số lượng. Cộng mức biến động kế hoạch và biến động số lượng để xác định
tổng mức biến động.
Báo cáo giá thành sản phẩm.
Mục đích: Cung cấp thông tin về tổng giá thành sản xuất thực tế, giá thành đơn
vị thực tế của từng loại sản phẩm hoặc từng loại hoạt động dịch vụ và giá thành kế
hoạch theo từng đơn vị để so sánh, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành
của từng đơn vị của các bộ phận sản xuất trong doanh nghiệp, cung cấp thông tin
cho việc lập kế hoạch và đưa ra quyết định liên quan đến việc đánh giá sản phẩm.
Cơ sở lập: Các bảng tính gía thành của các bộ phận sản xuất và kế hoạch giá
thành.
Phương pháp lập: Liệt kê các chỉ tiêu giá thành kế hoạch đơn vị, giá thành đơn
vị thực tế, tổng giá thành đơn vị thực tế theo từng đối tượng tính giá thành và cho
từng phân xưởng, mỗi đối tượng tính giá thành được theo dõi trên cùng một dòng.
Báo cáo phản ánh các thông tin thích hợp cho việc ra quyết định.
Mục đích: Cung cấp các thông tin nhanh chóng, ngắn gọn và thích hợp về
doanh thu, chi phí liên quan đến các phương pháp để nhà quản trị ra các quyết định
riêng biệt như: tự sản xuất hay mua ngoài, tiếp tục kinh doanh hay loại bỏ một sản
Tổng
BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
(Theo sắp xếp chi phí thành định phí và biến phí)
Đơn vị tính :
Doanh thu
Các biến phí
Gía vốn hàng bán
Biến phí bán hàng
Chi phí vật liệu, bao bì
Chi phí giao hàng
Hoa hồng hàng bán
Cộng biến phí bán hàng
Biến phí quản lý doanh nghiệp
Vật liệu, đồ dùng văn phòng
Thuế, phí và lệ phí
Chi phí dịch vụ khác
Cộng biến phí quản lý
Tổng cộng biến phí
(=) Số dư đảm phí
Các định phí
Định phí bán hàng
Chi phí nhân viên bán hàng
Khấu hao TSCĐ bán hàng
Chi phí quảng cáo
Cộng định phí bán hàng
Định phí quản lý doanh nghiệp
SVTH: Nguyễn Thị Thanh Thuỷ
11
Trang 11