CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP - Pdf 69

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH
GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
1.1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây lắp có ảnh hưởng tới công tác kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong các
doanh nghiệp xây lắp
1.1.1. Đặc điểm chung của các doanh nghiệp xây dựng cầu đường
Xây dựng cầu đường là một ngành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Sự hoạt
động hiệu quả của công tác xây dựng công trình giao thông có ý nghĩa đối với sự phát
triển chung của quốc gia.
Hoạt động của ngành xây dựng cầu đường là hoạt động hình thành nên năng lực sản
xuất cho các ngành, các lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế. Nói một cách cụ thể hơn
sản xuất xây dựng cầu đường bao gồm các hoạt động: xây dựng mới, mở rộng, khôi
phục, cải tạo lại, hay hiện đại hóa các công trình hiện có thuộc về hệ thống giao thông
vận tải.
Doanh nghiệp xây lắp nói chung và doanh nghiệp xây dựng cầu đường nói riêng là
đơn vị kinh tế cơ sở, là nơi trực tiếp sản xuất kinh doanh, gồm một tập thể lao động
nhất định có nhiệm vụ sử dụng các tư liệu lao động và đối tượng lao động để sản xuất
ra các sản phẩm xây lắp phục vụ cho nhu cầu tái sản xuất cho nền kinh tế.
Xây dựng được coi là một ngành công nghiệp đặc biệt vì nếu xét về mặt tài chính và
theo đà công nghiệp hóa ngành xây dựng trong điều kiện hiện nay thì ngành xây dựng
sẽ càng giống các ngành kinh tế khác hơn. Về mặt tài chính ngành xây dựng có các đặc
điểm riêng sau:
Do thời gian thi công dài nên phải tổ chức nghiệm thu và thanh toán theo từng phần
khối lượng công trình chứ không chờ đến khi công trình hoàn tất mới thanh toán như
trong các ngành công nghiệp khác.
Phần lớn số vốn của ngành xây dựng bỏ vào những công trình chưa hoàn thành. Vì
vậy phải cố gắng tập trung tiền vốn để rút ngắn thời hạn thi công xây dựng. Càng rút
ngắn được kỳ hạn thi công xây dựng thì càng giúp tăng lợi nhuận và tiết kiệm vốn cho
ngành xây dựng. Đặc điểm này cũng thể hiện sự khác biệt giữa ngành xây dựng với các
ngành công nghiệp khác.
Mặt khác do điều kiện xây dựng mỗi công trình không giống nhau nên việc kiểm tra

toán, các nhà thầu phải có trách nhiệm bảo hành công trình tức là việc chủ đầu tư giữ lại
một tỷ lệ nhất định trên giá trị công trình, khi hết thời hạn bảo hành công trình, mới trả
lại cho đơn vị xây lắp. Đặc điểm đó cũng ảnh hưởng và tạo nên điểm riêng biệt trong
công việc của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp so với các sản
phẩm khác.
Từ những đặc điểm riêng của ngành xây dựng dẫn đến những đặc điểm có tính chất
đặc thù của các sản phẩm xây lắp đã ảnh hưởng đến việc tổ chức công tác kế toán hạch
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp như ảnh hưởng đến việc phân
loại chi phí sản xuất, nội dung, phương pháp trình tự hạch toán chi phí sản xuất, cơ cầu
giá thành sản phẩm xây lắp.
1.2. Chi phí sản xuất và hạch toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp
xây lắp.
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng là quá trình biến đổi một
cách có ý thức, có mục đích các yếu tố đầu vào: đối tượng lao động, tư liệu lao động và
lao động sống tạo thành các công trình, hạng mục công trình, các sản phẩm, lao vụ…
Các yếu tố về tư liệu lao động, đối tượng lao động (mà biểu hiện cụ thể là các hao
phí về lao động vật hóa) dưới sự tác động có mục đích của sức lao động (biểu hiện là
hao phí lao động sống) qua quá trình biến đổi sẽ trở thành các sản phẩm, công trình…
Để đo lường các hao phí mà các doanh nghiệp đã bỏ ra trong từng thời kỳ hoạt động
kinh doanh là bao nhiêu nhằm tổng hợp, xác định kết quả đầu ra, phục vụ yêu cầu quản
lý. Mọi hao phí cuối cùng đều được thể hiện bằng thước đo tiền tệ gọi là chi phí sản
xuất kinh doanh.
Do vậy chi phí sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp xây dựng là biểu hiện bằng
tiền, hao phí về lao động và lao động vật hóa mà doanh nghiệp xây lắp đã bỏ ra trong
quá trình sản xuất thi công và bàn giao sản phẩm xây lắp trong một kỳ nhất định. Mặc
dù vậy trên góc độ nghiên cứu và quản lý khác nhau có những cách hiểu về chi phí sản
xuất khác nhau, cụ thể ở đây ta xét trên góc độ kế toán thì chi phí sản xuất kinh doanh
luôn gắn liền với một kỳ sản xuất kinh doanh nhất định và phải là chi phí thực. Nên cần
phân biệt rõ về chi phí và chi tiêu:
Chi phí là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật

công trình. Phục cấp làm thêm giờ, các khoản phụ cấp có tính chất lương như phụ cấp
trách nhiệm, phụ cấp tổ trưởng, nóng độc hại.. Tiền ăn giữa ca.. Trong chi phí nhân
công trực tiếp không bao gồm: lương của công nhân vận chuyển ngoài công trường,
lương công nhân sản xuất phụ, nhân viên quản lý, công nhân điều khiển sử dụng máy
thi công, những người làm công tác bảo quản công trường.
Chi phí sử dụng máy thi công
Chi phí sử dụng máy thi công, trong hoạt động xây lắp cần phải sử dụng các loại
máy thi công chuyên dùng. Máy thi công xây lắp là một bộ phận của TSCĐ, bao gồm
tất cả các loại xe máy kể cả thiết bị được chuyển động bằng động cơ (chạy bằng hơi
nước, diezel, xăng…) được sử dụng trực tiếp cho công tác xây lắp trên các công trường
thay thế cho sức lao động của con người trong các công việc làm đất, làm đá, làm bê
tông, làm nền móng, xúc, nâng cấp, vận chuyển… như máy nghiền đá, máy trộn bê
tông, máy sản nền, máy xúc, máy vận thăng, máy cạp chuyển, cần cẩu… Chi phí máy
thi công chiếm một tỷ trọng khá lớn trong giá thành sản phẩm xây lắp và là một khoản
mục chi phí có công dụng riêng biệt, do vậy cần phải tổ chức theo dõi riêng và có
phương pháp phân bổ khoa học hợp lý cho các đối tượng sử dụng. Do đó, người ta chia
chi phí sử dụng máy làm thành hai loại:
Chi phí thường xuyên, chi phí hàng ngày cần thiết cho việc sử dụng máy thi công.
Các chi phí này khi phát sinh được tính hết một lần vào chi phí sử dụng máy. Chi phí
nhiên liệu, động lực dùng cho máy thi công. Tiền lương, phụ cấp…Khấu hao máy thi
công. Chi phí thuê máy thi công (nếu có), chi phí sửa chữa thường xuyên máy thi công.
Các chi phí khác: công cụ, dụng cụ…
Chi phí tạm thời: chi phí pháp sinh một lần tương đối lớn, không định mức hay tính
trước được. Các chi phí này khi phát sinh không tính hết 1 lần vào chi phí sử dụng máy
mà được phân bổ theo thời gian sử dụng ở công trường. Chi phí sử dụng máy thi công
liên quan đến nhiều đối tượng xây lắp nên việc phân bổ chi phí sử dụng máy thi công
cho các đối tượng xây lắp được thực hiện theo từng loại máy, nhóm máy căn cứ vào số
ca máy hoạt động thực tế hoặc khối lượng công việc hoàn thành của máy.
Đối với máy theo dõi được quá trình hoạt động và tập hợp được chi phí riêng cho
từng loại máy, nhóm máy:

Đơn giá 1 ca máy
tiêu chuẩn
=
Tổng chi phí sử dụng máy thực tế phát sinh
Tổng ca máy tiêu chuẩn của các loại máy
Chi phí sử dụng máy:
Chi phí sử dụng máy phân bổ
cho từng đối tượng xây lắp
=
Đơn giá 1 ca máy tiêu
chuẩn

Số ca máy tiêu chuẩn phục vụ cho
từng đối tượng
Chi phí sản xuất chung: là những chi phí phục vụ cho sản xuất xây lắp, những chi
phí có tính chất dùng chung cho hoạt động xây lắp gắn liền với từng công trường cụ
thể: chi phí nhân viên phân xưởng, tiền lương của công nhân phục vụ trên công trường
như khuân vác máy móc trong lúc thi công từ chỗ để của công trường đến nơi xây
dựng,… và các khoản trích theo lương. Chi phí vật liệu: chi phí vật liệu xuất dùng
chung cho hoạt động xây lắp như vật liệu dùng để bảo dưỡng, bảo trì công cụ, dụng cụ
trên công trường… Chi phí dụng cụ sản xuất xây lắp: vắn khuôn, đà giáo, cuốc xẻng…
Chi phí khấu hao TSCĐ. Chi phí dịch vụ mua ngoài chi phí điện, nước, điện thoại, chi
phí sửa chữa TSCĐ thuê ngoài,…Chi phí bằng tiền khác: những chi phí bằng tiền nhằm
phục vụ hay liên quan đến hoạt động xây lắp trên công trường nhưng không thuộc
những khoản trên.
Cách phân loại này có tác dụng:
• Cung cấp thông tin để kiểm soát thực hiện chi phí theo định mức.
• Cung cấp số liệu để tính giá thành sản phẩm.
• Cung cấp thông tin để định mức chi phí, xác định giá thành định mức.
1.2.1.2. Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí

Để xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở từng doanh nghiệp, cần căn cứ vào
các yếu tố như tính chất sản xuất, loại hình sản xuất, đặc điểm quy trình công nghệ sản
xuất sản phẩm, đặc điểm tổ chức sản xuất, yêu cầu tính giá thành, đối tượng tính giá
thành, yêu cầu quản lý, khả năng, trình độ quản lý doanh nghiệp…
Như vậy đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là từng sản phẩm, chi tiết sản
phẩm, toàn bộ quy trình công nghệ, từng giai đoạn công nghệ, từng phân xưởng sản
xuất, từng đội sản xuất, từng đơn đặt hàng. Đối tượng kế toán chi phí sản xuất có thể là
nơi phát sinh chi phí hoặc có thể là các đối tượng chịu chi phí. Như vậy, thực chất của
việc xác định đối tượng tập hợp chi phí là xác định nội dung chi phí và giới hạn tập hợp
chi phí đó.
 Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất
Do đối tượng kế toán chi phí khác nhau nên cũng có nhiều phương pháp khác nhau
để kế toán chi phí sản xuất phù hợp với từng đối tượng. Vì thế, trong thực tế thường áp
dụng các phương pháp kế toán chi phí sau đây:
Kế toán theo chi tiết hoặc bộ phận sản phẩm (hạng mục công trình): là các giai đoạn
xây lắp của các công trình hạng mục công trình có dự toán riêng. Hàng tháng, chi phí
sản xuất phát sinh được tập hợp cho từng giai đoạn xây lắp có liên quan. Khi hoàn
thành, tổng cộng chi phí theo các giai đoạn chính là giá thành sản phẩm xây lắp.
Kế toán theo sản phẩm: theo sản phẩm hay theo đơn đặt hàng, sản phẩm trong
doanh nghiệp xây lắp là công trình, hạng mục công trình hoàn thành. Hàng tháng, chi
phí sản xuất phát sinh có liên quan đến công trình, hạng mục công trình nào thì được
tập hợp vào đối tượng đó một cách thích hợp. Khi hoàn thành, tổng chi phí theo đối
tượng hạch toán cũng chính là giá thành sản phẩm xây lắp.
Kế toán chi phí theo giai đoạn công nghệ: theo giai đoạn công nghệ, được áp dụng
đối với doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất cấu kiện lắp sẵn. Trong các
doanh nghiệp đó, toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm được chia thành nhiều
giai đoạn công nghệ, số liệu được chế biến liên tục từ khâu đầu cho đến khâu cuối theo
một trình tự nhất định.
Kế toán theo dây truyền sản xuất.
Kế toán chi phí theo đơn vị sản xuất.

mua nguyên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc đối
tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ, hoặc nếu mua nguyên liệu, vật
liệu không qua nhập kho đưa vào sử dụng ngay cho hoạt động sản xuất, kinh doanh thì
trị giá nguyên liệu, vật liệu sẽ không bao gồm thuế GTGT.
5. Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ, nếu
mua nguyên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không
thuộc diện đối tượng chịu thuế GTGT hoặc thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo
Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất
chung cho các sản phẩm có liên quan
Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
phương pháp trực tiếp và doanh nghiệp nộp thuế GTGT tính theo phương pháp trực
tiếp, thì giá trị nguyên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất kinh doanh sẽ bao gồm cả
thuế GTGT của khối lượng nguyên liệu, vật liệu mua vào sử dụng ngay không qua kho.
Kết cấu của TK621:
Bên Nợ:
 Trị giá thực tế nguyên liệu, vật liệu xuất dùng trực tiếp cho sản xuất, thi công
xây lắp.
Bên Có:
 Kết chuyển trị giá nguyên liệu, vật liệu thực tế sử dụng cho sản xuất, thi công
xây lắp vào TK154: “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” hoặc TK632: “ Giá
thành sản phẩm” và chi tiết cho các đối tượng để tính giá thành sản phẩm
 Trị giá nguyên liệu, vật liệu trực tiếp sử dụng không hết được nhập lại kho.
 TK 621 cuối kỳ không có số dư.
Sơ đồ 1.1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
TK152
TK621
TK111, 112, 331…
TK133
(2)
(1)

 Đơn giá tiền lương
Tiền lương trả theo khối lượng công việc giao khoán có thể được tính cho từng người
lao động hoặc chung cho cả nhóm tổ công nhân.
Hàng tháng căn cứ vào bảng chấm công, hợp đồng làm khoán và chứng từ khác có
liên quan, kế toán làm bảng thanh toán tiền lương theo từng tổ, đội sản xuất, các phòng
ban và kiểm tra việc trả lương cho cán bộ công nhân viên. Sau đó kế toán lập bảng
thanh toán lương cho toàn doanh nghiệp và làm thủ tục rút tiền gửi về quỹ tiền mặt để
trả lương.
Việc thanh toán lương được thực hiện mỗi tháng hai kỳ: kỳ 1 tạm ứng, kỳ 2 nhận
phần còn lại sau khi đã trừ đi các khoản nợ phải khấu trừ như tiền nhà, tiền điện nước,
các khoản tạm ứng… Tiền lương phải phát tận tay người lao động hoặc đại diện tập thể
lĩnh lương.
Kế toán sử dụng TK622: “ Chi phí nhân công trực tiếp” để hạch toán.
Tài khoản này dùng để tập hợp và kết chuyển số chi phí tiền công của công nhân xây
lắp trực tiếp (bao gồm tiền công, tiền lương, tiền thưởng, và các khoản phải trả khác có
tính chất tiền lương của công nhân sản xuất xây lắp). Cuối kỳ kết chuyển sang TK154:
“Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”. TK622 không phản ánh chi phí trích 19%
(BHXH, BHYT, KPCĐ).
Kết cấu TK 622:
Bên Nợ: Chi phí nhân công trực tiếp trong kỳ
Bên Có: Kết chuyển, phân bổ vào TK 154
TK622 cuối kỳ không có số dư
Sơ đồ1.2. Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
TK111, 112
TK622
TK141
(3)
(2)
(1)
(4)

Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm toàn bộ chi phí về vật tư, lao động, khấu hao
và chi phí bằng tiền trực tiếp cho quá trình sử dụng máy thi công của doanh nghiệp.
Kế toán sử dụng TK 623 để hạch toán chi phí sử dụng máy thi công
Tài khoản này dùng để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng máy phục vụ trực tiếp cho
hoạt động xây lắp công trình.
Tài khoản này chỉ sử dụng trong những doanh nghiệp xây lắp, tổ chức thi công xây
lắp hỗn hợp vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy (doanh nghiệp xây lắp có đội xe máy,
đội xây lắp…)
Kết cầu TK623: “Chi phí sử dụng máy thi công”
Bên Nợ: Chi phí sử dụng máy thi công phát sinh trong kỳ (nhiên liệu, tiền lương,
khấu hao, chi phí bảo dưỡng sửa chữa máy thi công…)
Bên Có: Kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công vào TK154
TK623 cuối kỳ không có số dư.
TK623 có 6 tài khoản cấp 2:
TK6231: chi phí nhân công – Dùng để phản ánh tiền lương chính và phụ của công
nhân điều khiển máy (tài khoản này không phản ánh trích 19% theo lương)
TK6232: Chi phí vật liệu - Phản ánh chi phí nhiên liệu xăng dầu, vật liệu khác.
TK6233: Chi phí dụng cụ sản xuất - Phản ánh chi phí dụng cụ phục vụ máy thi công.
TK6234: Chi phí khấu hao máy thi công
TK6237: Chi phí dịch vụ mua ngoài – Thuê sửa chữa, bảo hiểm xe máy, chi phí điện
nước, chi phí trả cho nhà thầu phụ.
TK6238: Chi phí bằng tiền khác.
Nếu tổ chức đội xe, máy thi công riêng, được phân cấp hạch toán và có tổ chức kế
toán riêng, thì công việc kế toán được tiến hành như sau:
Hạch toán các chi phí liên quan tới hoạt động của đội xe, máy thi công, ghi:
Nợ các TK621,622,627
Có các TK 111, 112, 152, 331, 334, 214
Hạch toán chi phí sử dụng xe, máy và tính giá thành ca xe, máy thực thiện trên
TK154: “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang” căn cứ vào giá thành ca máy (theo giá
thành thực tế hoặc giá khoán nội bộ) cung cấp cho các đối tượng xây, lắp (công trình,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status