CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNGVỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP - Pdf 68

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNGVỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Sự cần thiết của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong
doanh nghiệp:
1.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất – giá thành sản phẩm
1.1.1.1. Chi phí sản xuất
Quá trình sản xuất là sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu lao động và đối
tượng lao động để tạo ra sản phẩm. Trong quá trình này các doanh nghiệp phải bỏ ra
một số khoản chi phí nhất định để tiến hành sản xuất. Các chi phí phát sinh trong quá
trình này được gọi là chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất của doanh nghiệp có thể được
hiểu là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết
khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất, biểu hiện bằng
tiền và tính cho một thời kỳ nhất định.
Xét về bản chất chi phí sản xuất là sự chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đại
lượng tính giá thành nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất.
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh thường xuyên trong quá trình sản xuất và
hoạt động của doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là các tư liệu lao động, các chi phí
dịch vụ mua ngoài và các chi phí bằng tiền... Để phục vụ cho quản lý và hạch toán kinh
doanh thì mọi chi phí chi ra đều được biểu hiện bằng thước đo tiền tệ và phải được hạch
toán theo từng thời kỳ hàng tháng, hàng quý, hàng năm phù hợp với kỳ báo cáo. Như
vậy, chi phí gắn liền với một kỳ, là đại lượng xác định, có thể đo lường tính toán.
1.1.1.2. Giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí về lao động
sống và lao động vật hoá và chi phí khác được tính trên một khối lượng kết quả sản
phẩm lao vụ, dịch vụ hoàn thành.
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định, vừa mang
tính chất khách quan vừa mang tính chủ quan. Trong hệ thống các chỉ tiêu quản lý của
doanh nghiệp, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả sử dụng
các loại tài sản, vật tư, lao động động tiền vốn trong quá trình sản xuất cũng như các
giải pháp kinh tế, kỹ thuật doanh nghiệp đã thực hiện nhằm mục đích sản xuất khối
lượng sản phẩm nhiều nhất với chi phí ít nhất. Giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những

1.1.2.1. Phân loại chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là toàn bộ chi phí có liên quan đến việc chế tạo sản phẩm sản
xuất trong kỳ. Chi phí sản xuất ở doanh nghiệp gồm nhiều loại, mỗi loại có nội dung,
công dụng tính chất kinh tế khác nhau. Để đáp ứng yêu cầu quản lý thì chi phí sản xuất
được phân loại tuỳ theo mục đích của người sử dụng:
1.1.2.1.1. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích công dụng kinh tế của chi phí sản
xuất
- Nội dung: Chi phí sản xuất của doanh nghiệp bao gồm:
+Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ chi phí của những loại nguyên vật
liệu cấu thành thực thể của sản phẩm, có giá trị lớn và có thể xác định một cách tách
biệt, rõ ràng cho từng sản phẩm. Nguyên vật liệu được nhận rõ trong từng sản phẩm vì
nó đặc trưng cho đặc tính dễ thấy nhất của sản phẩm đã được sản xuất. Ngoài ra, việc
sản xuất sản phẩm cũng cần có các chi phí nguyên vật liệu gián tiếp như: các nguyên vật
liệu phụ, nhiên liệu… Chi phí nguyên vật liệu chính có thể xác định cho từng đơn vị sản
phẩm nên được tính thẳng vào từng đơn vị sản phẩm. Chi phí nguyên vật liệu gián tiếp
không thể tính trực tiếp cho từng sản phẩm nên được đưa vào chi phí sản xuất chung rồi
phân bổ sau.
+ Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm tiền lương và các khoản phải trả cho
công nhân trực tiếp sản xuất như KPCĐ, BHXH, BHYT... Chi phí nhân công trực tiếp
cũng giống như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, có thể xác định rõ ràng và cụ thể cho
từng đơn vị sản phẩm.
+ Chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến việc phục
vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, đội sản xuất và các chi phí khác
ngoài chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Chi phí sản xuất
chung chủ yếu bao gồm ba loại chi phí. Đó là:
Chi phí nguyên vật liệu gián tiếp: là những yếu tố vật chất không tạo nên phần
chính của sản phẩm, nếu có thì đó cũng không phải là nguyên vật liệu quan trọng.
Chi phí nhân công gián tiếp: là các chi phí tiền lương của tất cả các lao động
gián tiếp như: đốc công, nhân viên kỹ thuật phân xưởng, thợ sửa chữa… và các khoản
trích theo lương.

Biến phí tỷ lệ: là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận trực tiếp với biến
động của mức độ hoạt động căn cứ như: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao
động trực tiếp…
Biến phí cấp bậc: là những khoản chi phí chỉ thay đổi khi mức độ hoạt động
thay đổi. Nó bao gồm các khoản chi phí như: chi phí lao động gián tiếp, chi phí bảo trì,
chi phí sửa chữa máy móc thiết bị…
+ Chi phí bất biến (Định phí): Là những chi phí sản xuất mà tổng số không thay
đổi khi có sự thay đổi về mức độ hoạt động của đơn vị. Định phí chỉ giữ nguyên trong
phạm vi phù hợp của doanh nghiệp. Tổng định phí giữ nguyên khi sản lượng thay đổi
trong phạm vi phù hợp, còn định phí trên một đơn vị sản phẩm thay đổi khi sản lượng
thay đổi. Trong các yếu tố của chi phí sản xuất, các chi phí sau được xếp vào chi phí
bất biến như: chi phí thuê nhà xưởng, chi phí khấu hao nhà xưởng, chi phí khấu hao
máy móc thiết bị, lương của nhân viên phân xưởng…
+ Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả các yếu tố định phí lẫn
biến phí. Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm của định
phí còn qua mức đó, nó lại thể hiện đặc tính của biến phí. Chi phí điện, chi phí điện
thoại, chi phí thuê máy móc, thiết bị… là những ví dụ điển hình về chi phí hỗn hợp.
- Tác dụng: Có ý nghĩa lớn với quản trị kinh doanh, phân tích điểm hoà vốn và phục vụ
cho việc ra các quyết định quản lý cần thiết để hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu
quả kinh doanh
1.1.2.1.4. Phân loại chi phí sản xuất theo khả năng quy nạp chi phí vào đối tượng kế
toán chi phí
- Nội dung: Theo cách phân loại này chi phí sản xuất bao gồm:
+ Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế
toán tập hợp chi phí. Chúng ta có thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí
căn cứ vào chứng từ ban đầu. Loại chi phí này thường chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí,
chúng dễ nhận biết và hạch toán chính xác. Như vậy, xét về bản chất thì chi phí trực
tiếp là chi phí mà tự bản thân nó hiển nhiên được chuyển vào đơn vị sản phẩm.
+ Chi phí gián tiếp: Là các loại chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán
tập hợp chi phí nên không thể quy nạp trực tiếp được mà phải tập hợp, quy nạp cho

xuất, là căn cứ ghi số sản phẩm hoàn thành nhập kho hoặc giao cho khách hàng.
- Giá thành toàn bộ: Gồm giá thành sản xuất sản phẩm cộng chi phí bán hàng và
chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm đó. Nó chỉ tính toán được khi sản
phẩm, lao vụ được tiêu thụ, là căn cứ tính thu nhập trước thuế của doanh nghiệp.
1.1.3. Yêu cầu quản lý đối với chi phí sản xuất- giá thành sản phẩm
- Nhận định và thấu hiểu cách phân loại và ứng xử của từng loại chi phí:
một trong các thông tin quan trọng đối với các nhà quản lý doanh nghiệp là các thông tin
về chi phí, vì mồi khi chi phí thay đổi sẽ có ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
Do vậy, chi phí cần được phân loại nhằm kiểm soát chặt chẽ tổng chi phí và các chi phí
riêng biệt, xác định chính xác những khoản chi tiêu tiết kiệm hay lãng phí để kịp thời
điều chỉnh.
- Xây dựng định mức chi phí trong sản xuất và quản lý theo định mức:
Yêu cầu này cho phép phân tích, so sánh các thông tin kế toán phục vụ quá trình ra
quyết định theo các tiêu chuẩn hoặc đối tượng tương ứng của các cấp ra quyết định.
- Quản lý chi phí theo từng loại chi phí và địa điểm phát sinh chi phí nhằm
đảm bảo chi phí được sử dụng tiết kiệm ở từng bộ phận sử dụng chi phí. Trong điều
kiện hoàn cảnh khác nhau thì yêu cầu trong quản lý đòi hỏi khác nhau, để đảm bảo sự
phù hợp giữa quy định quản lý và môi trường quản lý phải không ngừng hoàn thiện
công tác quản lý chi phí –giá thành sản phẩm.
1.1.4. Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất- giá thành sản phẩm
Kế toán doanh nghiệp cần phải xác định rõ vai trò và nhiệm vụ của mình trong
việc tổ chức kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm như sau:
- Cần nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm trong toàn bộ hệ thống kế toán doanh nghiệp, mối quan hệ với các bộ phận kế
toán liên quan, trong đó kế toán các yếu tố chi phí là tiền đề cho kế toán chi phí và tính
giá thành.
- Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ sản xuất, loại
hình sản xuất, đặc điểm của sản phẩm, khả năng hạch toán, yêu cầu quản lý cụ thể của
doanh nghiệp để lựa chọn, xác định đúng đắn đối tượng kế toán chi phí sản xuất, lựa
chọn phương pháp tập chi phí sản xuất theo các phương án phù hợp với điều kiện của

đang sản xuất, công trình, đơn đặt hàng...
Việc lựa chọn đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở từng doanh nghiệp là không
giống nhau, phụ thuộc vào đặc điểm, tình hình tổ chức kinh doanh , yêu cầu về trình độ
quản lý cũng như quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm.
Việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là khâu đầu tiên, cần
thiết của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất. Có thể xác định đúng đắn đối tượng
tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với đặc điểm tình hình hoạt động, đặc điểm quy trình
công nghệ sản xuất sản phẩm và đáp ứng được yêu cầu quản lý chi phí sản xuất của
doanh nghiệp mới giúp cho tổ chức tốt nhất công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất.
Khi xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí phải căn cứ vào:
-Tính chất sản xuất và quy trình công nghệ sản xuất như : Sản xuất giản đơn hay sản
xuất phức tạp, quá trình chế biến liên tục hay quá trình chế biến kiểu song song.
- Loại hình sản xuất: Sản xuất đơn chiếc hay sản xuất hàng loạt
- Đặc điểm tổ chức sản xuất: có phân xưởng hay không có phân xưởng.
- Yêu cầu và trình độ quản lý của doanh nghiệp
- Đơn vị tính giá thành áp dụng trong doanh nghiệp.
Đối tượng tính giá thành là các sản phẩm, công việc, lao vụ do doanh nghiệp
đã sản xuất hoàn thành đòi hỏi phải tính tổng giá thành và các giá thành đơn vị. Cũng
như khi xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất, việc xác định đối tượng tính giá
thành cũng cần phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quản lý sản xuất, quy trình
công nghệ sản xuất sản phẩm, khả năng và yêu cầu quản lý cũng như tính chất của từng
loại sản phẩm cụ thể.
Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần phải tiến hành các
công việc tính giá thành cho các đối tượng tính giá thành.
Khi xác định kỳ tính giá thành cần căn cứ vào:
- Đặc điểm tổ chức sản xuất: Nếu tổ chức sản xuất nhiều, khối lượng lớn chu kỳ
sản xuất ngắn, xen kẽ và liên tục thì kỳ tính giá thành thích hợp là hàng tháng. Nếu tổ
chức sản xuất đơn chiếc hoặc sản xuất hàng loạt theo đơn đặt hàng thì khi nào sản phẩm
hoàn thành hoặc đơn đặt hàng hoàn thành mới tính giá thành.
- Ngoài ra còn căn cứ vào đặc điểm của sản phẩm, yêu cầu và trình độ quản lý

+Ti là tiêu chuẩn phân bổ cho từng đối tượng i
+H là hệ số phân bổ
Ưu điểm: Giảm bớt khối lượng công việc kế toán, không phải theo dõi chi tiết, cụ
thể mỗi lần chi cho từng đối tượng
Nhược điểm: Tính chính xác không cao, sự chính xác phụ thuộc chủ yếu việc lựa
chọn tiêu thức phân bổ.
1.2.2.2. Phương pháp tính giá thành sản phẩm:
Phương pháp tính giá thành sản phẩm là phương pháp sử dụng số liệu chi phí
sản xuất đã tập hợp được trong kỳ để tính toán tổng giá thành và giá thành đơn vị theo
từng khoản mục chi phí quy định cho các đối tượng tính giá thành.Có rất nhiều phương
pháp tính giá thành nhưng việc lựa chọn phương pháp nào phải căn cứ vào đối tượng
tính giá thành, đặc điểm và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Có một số phương pháp
tính giá thành cơ bản sau:
1.2.2.2.1.Phương pháp tính trực tiếp:
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
cũng là đối tượng tính giá thành.
Z = Giá trị sản phẩm + Chi phí SXKD - Giá trị sản phẩm
dở dang đầu kỳ phát sinh trong kỳ dở dang cuối kỳ
(Trong đó: Z là tổng giá thành sản phẩm)
1.2.2.2.2. Phương pháp tổng cộng chi phí:
Z = C1 + C2 + C3 +....+ Cn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status