TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NÔNG HỌC
BỘ MÔN CÂY LƯƠNG THỰC
TIỂU LUẬN
MẬT ĐỘ VÀ KHOẢNG CÁCH
TRỒNG NGÔ
Sinh viên thực hiện:
Huỳnh Nhật Vũ
Lớp: DH07NHB
Tháng 3/ 2010
1
I. Đặt vấn đề:
Ngành sản xuất ngô thế giới tăng liên tục từ đầu thế kỷ XX đến nay, nhất là trong hơn 40
năm gần đây, ngô là cây trông có tốc độ tăng trưởng về năng suất cao nhất trong các cây
lương thực chủ yếu. vào năm 1961, năng suất ngô trung bình của thế giới chưa đến 20
tạ/ha, năm 2004 đã đạt 49,9 tạ/ha…năm 2007, theo USDA, diện tích ngô đã vượt qua lúa
nước, với 157 triệu ha, năng xuất 4,9 tấn/ha và sản lượng đạt kỷ lục với 766,2 triệu tấn.
Đặc biệt, từ 10 năm nay, cùng với những thành tựu mới trong chọn tạo giống lai nhờ kết
hợp phương pháp truyền thống và công nghệ sinh học thì việc ứng dụng công nghệ cao
trong canh tác cây ngô đã đưa sản lượng ngô thế giới vượt lên trên lúa mì và lúa nước.
năng suất ngô việt nam nhưng năm 1969 trên 1 tấn/ha, với diện tích 200 nghìn ha; đến đầu
những năm 1980, năng suất cũng chỉ đạt 1,1 tấn/ha và sản lượng 400.000 tấn do vẫn trong
các giống ngô địa phương với kỹ thuật canh tác lạc hậu. từ giữa năm 1980, nhờ hợp tác với
trung tâm cải tạo ngô và lúa mì quốc tế (CIMMYT), nhiều giống ngô cải tiến được đưa
vào trồng ở nước ta, góp phần tăng năng suất lên gần 1,5 tấn/ha vào đàu những năm 1990.
Tuy nhiên, ngành sản xuất ngô nước ta thực sự có nhưng bước tiến nhảy vọt từ đầu những
năm 1990 đến nay, gắn liền với việc không ngừng mở rộng giống ngô lai ra sản xuất, đồng
thời cải thiện những biện pháp kỹ thuật canh tác theo đòi hỏi của giống mới, trong đó việc
nghiên cứu về mật độ và khoảng cách để giải quyết về vấn đề năng suất cũng là vấn đề cần
quan tâm.
II. Mật độ (MĐ) và khoảng cách (KC):
3
Thí nghiệm cũng theo dõi các chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng, đặc điểm hình thái, khả
năng chống chịu với sâu bệnh và đổ gãy, các yếu tố cấu thành năng suất. Kết quả cho thấy
chỉ có chỉ tiêu về cao cây và chiều cao đóng bắp ở khoảng cách hàng 90cm có xu hướng
thấp hơn một ít so với các công thức khác nhưng không có ý nghĩa. Còn các chỉ tiêu khác
hầu như không có sự khác biệt rõ ràng giữa các công thức, kể cả mức độ nhiễm sâu bệnh
và đổ gãy. Các chỉ tiêu trên chỉ phụ thuộc vào giống, tức là những giống dễ đổ gãy hay dễ
nhiễm sâu bệnh thì ở mật độ và khoảng cách nào cũng bị ảnh hưởng nặng hơn các giống
khác.
Tăng 1 triệu tấn ngô, chỉ cần thay đổi cách trồng?
TS Phan Xuân Hào cho rằng nên trồng theo hàng kép với khoảng cách hàng hẹp khoảng
35cm và khoảng cách hàng rộng dưới 65cm, khoảng cách giữa các cây trong hàng khoảng
26 - 28cm để đạt mật độ từ 7 – 7,5 vạn cây/ha. Ở phía Nam, do dùng thuốc trừ cỏ và ít vun
xới, KC hàng rộng có thể khoảng 60 cm, hàng hẹp dưới 40 cm và khoảng cách cây khoảng
25 cm để đạt mật độ xung quanh 8 vạn cây/ha.
Thí nghiệm với 7 giống ngô lai (LVN10, LVN4, LVN99, LVN184, LVN45, LVN9,
LVN145) có thời gian sinh trưởng, đặc điểm hình thái, khả năng chống chịu khác nhau
trong 3 vụ (xuân 2006, xuân và thu 2007) tại Đan Phượng – Hà Tây cho thấy: Thu hẹp
khoảng cách hàng là biện pháp tăng mật độ và năng suất ngô rất rõ. Với cùng một mật độ,
nhưng ở khoảng cách hàng hẹp hơn cho NS cao hơn với tất cả các giống và mật độ. Tất cả
các giống ngô thí nghiệm cho năng suất cao nhất khi trồng với khoảng cách hàng 50cm
(hoặc 40cm), tiếp đó là 70cm và thấp nhất là ở 90cm ở tất cả các mật độ.
Các giống thí nghiệm cho năng suất cao nhất ở mật độ 8 vạn cây/ha với khoảng cách
50x25cm, chỉ riêng giống LVN10 là ở 7 vạn cây/ha và khoảng cách 50x28cm hoặc
40x35cm. Các giống cho năng suất cao ở mật độ thấp thì cũng cho năng suất cao ở mật độ
cao. Tăng mật độ chỉ có hiệu quả cao khi đồng thời thu hẹp khoảng cách hàng. Ở khoảng
cách hàng 50 cm năng suất ở mật độ 8 vạn cây/ha vượt 5 vạn cây/ha là 1.623 kg, tương
đương với 23%, còn ở khoảng cách hàng 70 cm chênh lệch NS giữa 2 mật độ là 721 kg,
tương đương với 10,8%, và ở khoảng cách 90 cm chỉ có 623 kg, tương đương 9,9%.
4