tìm hiểu về tư tưởng Hồ Chí Minh - Pdf 75

Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài.
Trong quá trình gian nan và vô tận, con người tìm được những hình
mẫu có thật trong cuộc đời, để tôn vinh và mong muốn mình ngày càng
hoàn thiện hơn, đẹp hơn. Một trong những hình mẫu ấy mà tôi đã, đang và
sẽ đi theo là Hồ Chí Minh- người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân
văn hoá thế giới, bởi đạo đức cách mạng và đặc biệt là hệ thống tư tưởng vô
giá mà người để lại cho dân tộc Việt Nam và cả nhân loại.
Chúng ta đều biết rằng, Việt Nam đã và đang tiếp tục thực hiện công
cuộc đổi mới tiến hành Công Nghiệp Hoá- Hiện Đại Hoá trong bối cảnh
quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp CNXH trên thế giới tuy đang lâm vào
thoái trào nhưng vẫn là ước mơ và mong muốn của đại đa số nhân loại
trong tương lai, đây đó vẫn không ngừng diễn ra những cuộc chiến tranh
phi nghĩa, sự phân biệt sắc tộc mất ổn định chính trị…Hơn lúc nào hết dân
tộc Việt Nam và nhân dân thế giới nhận rõ chân giá trị của tư tưởng Hồ Chí
Minh- là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của CMVN
đồng thời góp phần phong phú thêm kho tàng lí luận chủ nghĩa Mác-
LêNin. Do vậy mà hệ thống tư tưởng HCM, đang và sẽ còn rất nhiều tổ
chức và các quốc gia quan tâm, nghiên cứu.
Mặt khác, bất cứ một học thuyết, một tư tưởng vĩ đại nào ra đời cũng
đều có nguồn gốc xã hội của nó. Tư tưởng HCM cũng vậy, được hình thành
và phát triển trong lòng XH thuộc địa nửa phong kiến nhưng lại có một
truyền thống tốt đẹp, giữa lúc trên thế giới đã có nhiều biến động lớn-
CNXH đã trở thành hiện thực…Vì vậy mà khi nghiên cứu tư tưởng HCM
không thể không gắn liền việc nghiên cứu những nhân tố khách quan và
chủ quan, thế giới và trong nước đã tác động đến sự hình thành và phát
triển tư tưởng của người: Trong đó có tinh hoa văn hoá Việt Nam- một
trong những nguồn gốc quan trọng hình thành nên tư tưởng HCM. Xuất
phát từ lí do trên, tôi đã chọn đề tài:
Hồ Chí Minh- người kế thừa và phát triển tinh hoa văn hoá Việt
Nam, làm tiểu luận thu hoạch sau khi học xong học phần lịch sử tư

chứng ; đặc biệt trọng tâm là phương pháp đối chiếu, so sánh.
6. Đóng góp của tiểu luận.
Tiểu luận hoàn thành sẽ góp phần làm rõ hơn phần nào đó những giá
trị tinh hoa văn hoá Việt Nam, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời góp phần làm rõ hơn nữa sự kế thừa và phát
triển những tinh hoa đó của chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tiểu luận hoàn thành còn có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo cho
những người quan tâm nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phần nội dung
Chương 1: Một số vấn đề chung của tinh hoa văn hoá Việt Nam.
1.1. Một số khái niệm.
Để làm rõ được nội dung của tiểu luận trước hết cần phải hiểu một số
khái niệm cơ bản sau:
- Theo từ điển tiếng việt thì văn hoá: là tổng thể nói chung những giá
trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trinh lịch
sử.
- Văn hoá Việt Nam: là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo,
đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân
tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền
văn minh thế giới, không ngừng hoàn thiện mình hơn.
- Tinh hoa: là phần tinh tuý nhất tốt đẹp nhất .
 Từ đây ta có thể nói tinh hoa văn hoá: Đó là những gì tinh tuý nhất,
tốt đẹp nhất do con người sáng tạo ra(bao gồm cả giá trị vật chất và
giá trị tinh thần) trong quá trình lịch sử.
Trải qua mấy nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông
ta, nhìn từ thực tế lịch sử chúng ta có thể quan niệm:
- Tinh hoa văn hoá Việt Nam gồm: Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự
lực tự cường của dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn
kết cá nhân- gia đình- làng xã- tổ quốc, lòng nhân ái khoan dung,
trọng nghĩa tình, đạo lí, đức tính cần cù sáng tạo trong lao động; sự

1.2. Sự hình thành và phát triển của Dân Tộc Việt ảnh hưởng đến đặc điểm
văn hoá.
Việt Nam là nước nằm ở miền Đông Nam lục địa châu á. Nơi đã có
một quá trình hình thành lâu đời (cách đây khoảng 500 triệu năm), Việt
Nam cung như nhiều vùng khác của châu lục, có đầy đủ những điều kiện
cần thiết cho con người hình thành và phát triển.
Nằm gần trung tâm Đông Nam á- Việt Nam là chiếc cầu nối liền giữa các
nước Đông Nam á lục địa với các nước trên đại dương. Với vị trí địa lý như
vậy, đặt ra nhiều vấn đề về các mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, văn hoá,
chính trị giữa các nước cận kề cũng như các nước trong khu vực và trên thế
giới, trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Về tự nhiên: Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió
mùa, thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp đa dạng. Đồng thời vị trí
nước ta la giao thoa của các luồng di cư thực vật từ Tây Bắc xuống, từ
Đông Nam lên, tạo nên sự phong phú đa dạng về hệ động- thực vật, tài
nguyên thiên nhiên.
Về văn hoá: Việt Nam là nơi tiếp giáp với các nền văn minh
lớn(Trung Quốc- ấn Độ), là nơi chuyển giao của các nền văn hoá tạo nên sự
đa dạng về văn hoá, dân tộc.
Về giao thông vận tải: Nằm ở vị trí chiến lược của vùng Đông Nam
á, trên các đường giao thông thủy, bộ,hàng không quan trọng, huyết mạch
lối Đại Tây Dương với Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông
với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước Đông Nam á.
Với vị trí địa lý như vậy cùng với lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc
đã tạo cho văn hoá Việt Nam những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Việt Nam không trải qua thời kỳ phát triển của chiếm hữu
nô lệ. Vì vậy mà quan hệ nô tỳ( hay còn gọi là chế độ gia thương), tuy có
phát triển nhưng không bao giờ trở thành quan hệ chi phối thống trị của xã
hội và nô tỳ chưa bao giờ giữ vai trò là lực lượng sản xuất chủ yếu của xã
hội.

nước
Yêu nước là một trong những tình cảm sâu sắc nhất, đã được củng cố
qua hàng trăm năm, hàng ngàn năm tồn tại của các tổ quốc biệt lập. Chủ
nghĩa yêu nước là nguyên tắc đạo đức và chính trị, một tình cảm xã hội mà
nội dung là tinh yêu và long trung thành đối với tổ quốc, lòng tự hào về quá
khứ và hiên tại của tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của tổ quốc.
Như vậy chủ nghĩa yêu nước là một phạm trù thuộc lĩnh vực tư
tưởng, tình cảm của nhân dân tất cả các quốc gia, của các dân tọc trên thế
giới. Nội dung chính của chủ nghĩa yêu nước là tình yêu và lòng trung
thành đối với tổ quốc.
Đối với Việt Nam , yêu nước là truyền thống cực kỳ quý báu được
hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước, trở thành
tình cảm thiêng liêng trong mỗi người chúng ta. Chủ nghĩa yêu nước là sợi
chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại, nó giữ vị
trí chuẩn mực cao nhất của đạo lý và đứng đầu trong lấc thang giá trị văn
hoá tinh thần của dân tộc Việt Nam, là động lực nội sinh to lớn của DTVN,
tạo nên sức mạnh vô địch trong các cuộc kháng chiến chống giặc goại xâm
và trong công cuộc xây dựng đất nước.
Mỗi thời kỳ phát triển của tiến trình lịch sử dân tộc thìi chủ nghĩa yêu
nước được biểu hiện ra dưới các hình thức khác nhau xong đúc chung lại đó
là:
Yêu quê hương xứ sở.
Yêu nước gắn liền với thương nòi, thương nhà, thương mình trọng tình
nghĩa, nhân hậu, thuỷ chung.
Sự gắn bó và cố kết trong cộng đồng hướng vào dân, lấy dân làm
gốc. Xây dựng và bảo vệ truền thống lịch sử văn hoá chung.
ý thức sâu sắc về độc lập dân tộc, tự chủ, bảo vệ chủ quyền và toàn
vẹn lãnh thổ của quốc gia.
Tư tưởng đại nghĩa hào hiệp
Ngay từ buổi đầu dựng nước, chủ nghĩa yêu nứơc đã biểu hiẹn rõ nhất ở

của phật giáo, tư tưởng “ dân vi lâu”, “ dân vi quý ” của nho giáo buổi đầu,
nên trong chính sự các nhà vua thời Lý- Trần đã thể hiện được tinh thần coi
trọng dân, lấy dân làm gốc. Mỗi khi quyết định những việc lớn có tầm quốc
gia họ thường khảo ý kiến của dân như vua Lý Thái Tổ với việc rời Đô năm
1010, Trần Thánh Tông với hội nghị Diên Hồng 1825, để hỏi ý kiến các bô
lão, điều này đã thể hiện các nhà vua đã tôn trọng và hỏi ý kiến dân chứ
không phải hỏi ý kiến người đứng đầu các điều trang thái ấp vốn là người
của hoàng tộc. Các vua Lý cũng hết sức coi trọng quyền tố cáo, khiếu nại
của dân. Ngay khi vừa lên ngôi, Lý Thái Tổ đã xuống chiếu “ Từ đây ai có
việc oan ức, cho đến chiều tâu vua thân xét quyết (đại việt sử ký toàn thư…
trang 151), song song với đó, ở hương thôn, làng Việt Nam là một cộng
đồng tự quản, các chức sắc trong làng như các hội đồng tộc biểu, giáp biểu
đều cho dân cư ra theo đúng nghĩa của nó, tức là có tranh cử quyết liệt giữa
các họ tộc , phe giáp trong làng để xử lý các quan hệ cộng đồng ngoài pháp
luật của nước,chế độ phong kiến Việt Nam còn cho phép các làng được lập
ra khoán lệ, hương ước như các chế định, luật tục của làng xã để quản trị
việc làng, mỗi người dân phải coi đó là chuẩn mực buộc phải tuân theo
trong quan hệ làng xã. Đây thực sự là một hiện tượng đặc biệt, một “ngoại
lệ” không có trong nền chuuyên chế quân chủ nói chung, có lẽ chỉ có ở Việt
Nam. Bởi hương ước tuy hướng vào mục đích chung là đưa sinh hoạt của
dân vào trật tự, quy củ làm cho nước thịnh dân giàu, nhưng cũng có thể
việc thực thi hương ước làm mờ nhạt hiệu lực cai trị của quan dẫn đến tình
trạng “Phép vua thua lệ làng”. Nếu thiếu đi một tinh thần “thân dân”, tôn
trọng ý dân và quyền tự quản xã thôn thì không một nhà nước tập quyền
phong kiến nào chấp nhận tình trạng này.
Trong thời kỳ chống Chủ nghĩa thực dân, đế quốc giành lại độc lập
cho nhân dân, thống nhất cho Tổ quốc, chủ nghĩa yêu nước đã phát triển
đến đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Đó là ý chí tự lực tự
cường với tình thần “đem sức ta mà giải phóng cho ta”.
Yêu nước trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, hoàn cảnh nào cũng đặt

Và nhân nghĩa đã trở thành nét riên có của Việt Nam.
Điều kiện tự nhiên và hoàn cảnh lịch sử của dân tộc ta đã tạo nên mối
quan hệ đoàn kết, gắn bó chặt chẽ với nhau trong chống chọi với thiên
nhiên cũng như trong chốn giặc ngoại xâm của cha ông ta và cả cộng đồng
người Việt. Lịch sử đã chứng minh truyền thống đoàn kết, ý chí độc lập tự
chủ tự cường của dân tộc được hun đúc qua hàng ngàn năm dựng nước và
giữ nước. Từ thế kỷ thứ III người Âu Lạc đã đánh tan 50 vạn quân xâm
lược nhà Tần, sau nhà Tần là các đế quốc phong kiến phương Bắc: Hán,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status