T ì m v ề t ư t ư ở n g H Ồ C H Í M I N H
Hà văn Thùy
Việc lãnh tụ nước này mượn ý tưởng , lời nói của hiền triết nước khác để dạy dân mình là chuyện
bình thường. Nhưng khi coi những điều được nhắc lại đó là tư tưởng của vĩ nhân nước mình thì
chuyện đã khác ! Chính vì thế, những trí thức tự trọng không khỏi phân vân: Việc gọi những điều
Hồ Chí Minh nhắc lại từ Thi, Thư, Khổng, Mạnh...là tư tưởng Hồ Chí Minh liệu có thỏa đáng ? Một
bài báo với cái tên to tát " Triết học phương Ðông và tư tưởng Hồ Chí Minh" có một dòng như thế
này " Các sách của Khổng tử và Mạnh tử có những luận điểm tương đồng (HVT nhấn mạnh) với
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân cách của người làm quan và người cán bộ cách mạng và về lấy
dân làm gốc v.v..." (VNCA số 14.2005) Lạ nhỉ, sao lại là sự tương đồng giữa hai người cách nhau
2500 năm ? Trong luật bản quyền mà chúng ta bắt đầu học thì tác quyền phải là của người làm ra
trước ! Ở đây, cách nhau 25 thế kỷ mà những tư tưởng của cổ nhân thì đã lưu truyền cùng khắp
nhân gian ! Chữ tương đồng không danh chính ngôn thuận ! Có một hiện tượng khá phổ biến là,
vô ý hay cố tình, một số người thích chuyển những câu nói trong kinh sách thánh hiền Trung
Quốc sang cho Hồ Chí Minh, rồi gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh ! Việc làm này không thuyết phục
được nhiều trí thức người Việt cũng như học giả thế giới, thậm chí làm cho không ít người nghĩ sai
về Hồ Chí Minh.
Sinh thời Hồ Chí Minh chưa bao giờ nói đến tư tưởng của mình. Người từng nói đại ý: nhiều bậc
tiền bối đã lập thuyết rồi nên Người không viết lý luận nữa. Có thể, khi khiêm nhường nói như vậy
là Hồ Chí Minh đã học từ Khổng tử ngô thuật nhi bất tác. Nhưng sự thuật của Khổng tử và Hồ Chí
Minh không giống nhau. Khổng tử là người đầu tiên thuật lại những tư tưởng của cổ nhân khi nó
mới chỉ là tượng tản mát mông lung trong Tam phần, Ngũ điển thời tiền sử. Nhờ công việc san
định như vậy mà tư tưởng của cổ nhân mới thành hình, mới thành những Kinh, những Thư mà
còn đến ngày nay. Nếu không được Khổng tử nhắc lại ( thuật ) thì rất có thể tư tưởng của cổ nhân
đã biến mất như sách Ðiển, Phần. Vì vậy, tuy Khổng chỉ khiêm tốn nói mình kể lại chứ không sáng
tạo thì hậu thế cũng công bằng chính trực gọi đó là tư tưởng của Ngài. Công san định ở đây sánh
ngang công sáng tạo.
Chính vì hiểu lẽ đó nên Hồ Chí Minh không lập thuyết. Việc nhắc lại những điều trong sách của
Khổng Mạnh ấy, Người chưa bao giờ gọi là tư tưởng của mình ! Chắc rằng, trong thâm tâm,
văn hóa cội nguồn của dân tộc. Ðấy là việc tách Việt nho ra khỏi cái mớ hỗn tạp Hán nho và
Tống nho để trả lại cho dân tộc ta văn hóa gốc của mình.
Khi kiến nghị điều này, tôi đã nghĩ tới việc phải trả lời hai câu hỏi sau:
1- Văn hóa gốc của người Việt là gì?
2- Nó giúp gì cho phục hưng dân tộc?
Ðây là một chương trình quá lớn đòi hỏi sự đóng góp trí tuệ của nhiều bậc thức giả. Với kiến văn
hạn hẹp của mình, tôi chỉ xin nêu một vài gợi ý từ những điều học được trong sách vở cổ kim cũng
như chiêm nghiệm của bản thân:
Trong cốt lõi, văn hóa Lạc Việt là sự tổng hòa của ba yếu tố nhân chủ, thái hòa và tâm linh. Trong
quan hệ Thiên - Ðịa - Nhân thì con người là trung tâm, là chủ. Kinh Thư nói: Thiên thông minh tự
ngã dân thông minh, Thiên minh úy tự ngã dân minh úy (Trời thông minh là do dân ta thông minh.
Trời ban phúc, gieo họa theo sự yêu ghét của dân ta. Kinh Thư, Cao Dao mô, câu 7). Vị trí con
người đứng trước cả trời. Với đất, con người là chủ địa chủ. Các bậc vua vừa là chủ đất vừa là
chủ các vị thần. Như vậy là trong mối quan hệ hữu cơ thiên-địa-nhân thì con người phải được tôn
trọng phải được đề cao. Ðó chính là tiền đề cho nền dân chủ mà tiêu biểu là câu nói của Mạnh tử:
dân vi qúy hay lời nói của Lục sinh vương giả dĩ dân vi thiên! (vua lấy dân làm trời). Nhân chủ dân
chủ là nguyên lý là lẽ sống còn của người Việt. Khi có nhân chủ, dân chủ thì trị. Khi mất nhân chủ
dân chủ thì suy loạn.
Thái hòa là đặc trưng quan trọng thứ hai trong văn hóa Việt. Ðó là mối quan hệ giữa các nguyên
lý khác nhau của cuộc sống. Trong quan niệm của người Việt, không có yếu tố nào độc tôn lấn át
hay phủ định các yếu tố khác. Dương là tích cực nhưng cuộc sống không chỉ có dương mà là sự
hài hòa: trong dương có âm, trong âm có dương. Ngũ hành có tương sinh lại có tương khắc,
không yếu tố nào thống trị tuyệt đối không yếu tố nào không cần cho vũ trụ, nhân sinh. Chỉ có tổng
hòa các nhân tố đó làm nên trị. Trái lại là loạn. Con người sống trong mối thái hòa với nhau và với
vũ trụ, thiên nhiên. Thiên nhiên nuôi sống con người nên con người phải bảo vệ thiên nhiên để
tìm về phương Ðông mà những quan niệm nhân chủ, thái hòa, tâm linh có thể là phương cách tốt
nhất cứu thế giới!
Việt Nam chúng ta lạc hậu, chậm phát triển nhưng nếu biết phát huy văn hóa triết học phương
Ðông tìm ra con đường độc đáo của mình, nhiều khả năng chúng ta tiến nhanh vượt bậc. Nếu cứ
lẽo đẽo theo chân các nước phương Tây có lẽ chẳng bao giờ chúng ta đuổi kịp họ. Nhưng nếu
phát huy được nhân chủ, dân chủ, nhận được năng lượng từ văn hóa cội nguồn rất có thể chúng
ta đưa đất nước đi lên một cách nhàn nhã mà kết quả lớn!
Chính vì thế việc tìm về văn hóa cội nguồn là điều vô cùng cần kíp hiện nay.
Người sớm làm được điều này chính là Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh không chỉ bằng cuộc đời thực của mình sống cần kiệm, khiêm cung, thân dân, nhân
ái như vua Nghiêu vua Thuấn mà những lời nói của Người đều thấm nhuần văn hóa Việt nho. Hồ
Chí Minh chính là người đưa văn hóa cội nguồn của dân tộc trở về với cuộc sống hiện đại.
Khi phát hiện ra văn hóa cội nguồn của dân tộc, chúng ta nhận ra rằng, sinh thời, tuy chưa có
những thông tin như chúng ta hôm nay nhưng bằng linh cảm thiên tài của mình, Hồ Chí Minh đã
nhìn thấu 4-5000 năm lịch sử để tìm lại tư tưởng của tổ tiên đem về giáo dưỡng tinh thần dân tộc.
Ðấy là việc làm sáng suốt và dũng cảm, bởi giữa cao trào chống phong kiến cực thịnh, ngay bên
Trung Quốc Khổng tử cũng bị đả phá, việc nhắc đến những lời thánh nhân trong kinh điển rất dễ bị
quy kết về lập trường, quan điểm. Chính nhờ Hồ Chí Minh thường nhắc lại lời của các thánh nhân
mà văn hóa Việt, linh hồn tổ tiên Việt được trở về sống tự do, công khai trong cộng đồng. Nếu
không có việc làm này, thì cùng với lớp nhà nho mỗi ngày một thưa vắng, nhiều khả năng văn hóa
xưa của dân tộc bị cuốn đi trong những bão tố mấy chục năm qua!
Tuy nhiên, có sự thật là, mấy chục năm qua cũng như hàng trăm năm trước, nhắc tới kinh điển
Nho giáo, chúng ta thường mang nặng mặc cảm của kẻ đọc nhờ học mướn từ văn hóa phương
Bắc. Người trí thức có lập trường dân tộc thường bối rối : liệu mình hiểu thế này, nghĩ thế này, làm
cần cho con người trong thời buổi kinh tế tri thức. Dịch chỗ cao siêu thì tìm hiểu suy ngẫm về vũ
trụ nhưng chỗ gần gũi thì lại rất gắn bó với con người. Tám 0chữ Hà Lạc do nhà văn Xuân Cang
quảng bá là một thí dụ. Ðó là môn khoa học dự báo. Từ tám chữ Hà Lạc ông tìm ra quỹ đạo đời
người giúp con người thấy một cách chung nhất quỹ đạo mình sẽ đi trong cuộc đời để rồi có cách
sống hợp tự nhiên. Khoa học này người nông nổi võ đoán sẽ gọi là mê tín dị đoan nhưng thử hỏi
thế nào đây mới không là dị đoan mê tín?
Nhưng trùm lên trên tất cả, cần thiết hơn tất cả, theo tinh thần văn hóa Việt là phải xây dựng một
xã hội nhân chủ trong đó con người được coi trọng hơn tất cả, dù đó là xã tắc hay quân vương
chứ chưa kể đến những chủ thuyết. Mọi chủ thuyết chỉ là phương tiện. Con người mới là cứu
cánh. Một xã hội như thế phải là xã hội dân chủ cao. Người ta thường lo rằng, nước ta nghèo nàn
lạc hậu, dân trí thấp nên chưa thể sử dụng được quyền dân chủ! Lầm to. Thời thượng cổ người
Bách Việt đã từng sống dân chủ vào bậc nhất nhân loại. Chính vì thế chúng ta góp cho nhân loại
văn minh lúa nước rồi văn minh đồng rực rỡ. Sử gia người Việt Lê Thành Khôi, một nhà thông thái
từ sử liệu thế giới cho hay: cho đến thế kỷ XX, người đàn bà Việt có địa vị cao hơn người đàn bà
Pháp trong xã hội!(LTK phê bình Cơ sở Văn hóa Việt Nam.) Thời chống Mỹ có câu: Dễ trăm lần
không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong! Dân chủ chính là chìa khóa vạn năng, là
cuốn sách thần giải được mọi khó khăn trên đường đi của dân tộc. Nếu dân tộc này mở mày mở
mặt lên được cũng chỉ có con đường duy nhất là dân chủ!
* Ðây là chuyên đề lớn, trong phạm vi của bài viết, tôi xin nêu mấy dòng ngắn gọn: Ngày
29/9/1998 nhóm nghiên cứu trong " Chương trình đa dạng di truyền người Hán" gồm các nhà khoa
học Mỹ và Trung Quốc thông báo kết quả nghiên cứu sau: Khoảng 100.000 năm trước, con người
tiền sử Homo Sapiens từ Ðông Phi di chuyển tới Trung Ðông. Từ đây một nhánh theo đường bờ
biển Nam Á đặt chân tới miền Trung và miền Bắc Việt Nam khoảng 60-70.000 năm trước. Họ đến
châu Úc 50.000, Tân Ghi nê 40.000 năm trước. 40.000 năm trước tiến lên khai phá Trung Quốc rồi
qua Sibêri, vuợt eo Bêring sang chiếm lĩnh châu Mỹ, sau này thành người da đỏ thổ dân."
(Los Angeles Times 29.9.1998).
Kết hợp với tư liệu khảo cổ và lịch sử, được biết, trong thời gian 3-4 vạn năm, người Bách Việt đã
có mặt khắp lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử xây dựng nền văn hóa nông nghiệp lúa nước phát