Nền kinh tế nhỏ, tỷ giá hối đoái thả nổi
Chính sách tiền tệ
Ảnh hưởng của chính sách tiền tệ mở rộng trong ngắn hạn với tỷ giá hối đoái thả
nổi
Để tăng sản lượng Y thì chính phủ tăng cung tiền làm lãi suất trong nước tạm
thời giảm xuống so với lãi suất nước ngoài, tạo ra một dòng vốn lớn chảy ra
nước ngoài. Chính sách tiền tệ mở rộng làm đường LM dịch chuyển sang phải,
còn đường IS thì đứng yên. Nhà đầu tư trong nước tìm cách chuyển từ đồng nội
tệ sang đồng ngoại tệ, làm giá của đồng nội tệ giảm. Trong dài hạn, tỷ giá hối
đoái giảm làm tăng xuất khẩu và làm giảm nhập khẩu. Việc chuyển đổi đồng nội
tệ sang đồng ngoại tệ diễn ra cho đến khi tỷ giá hối đoái tăng đủ để lãi suất trong
nước tăng ngang bằng với lãi suất nước ngoài.
Do vậy: Trong ngắn hạn, với tỷ giá hối đoái thả nổi và vốn chu chuyển hoàn hảo
thì chính sách tiền tệ là có hiệu quả.
Nền kinh tế nhỏ, tỷ giá hối đoái cố định
Chính sách tiền tệ
Ảnh hưởng của chính sách tiền tệ mở rộng trong điều kiện tỷ giá hối đoái cố định
Khi chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng bằng việc tăng cung tiền sẽ
tạo áp lực làm tăng tỷ giá hối đoái, đường LM dịch chuyển sang phải. Để giữ cho
tỷ giá hối đoái cố định thì cung tiền phải giảm dẫn đến đường LM phải dịch
chuyển sang trái về vị trí ban đầu.
Do vậy: Trong ngắn hạn, với tỷ giá hối đoái cố định thì chính sách tiền tệ không
có hiệu quả.
Trích Tham luận của TS. Trần Du Lịch, Ủy viên Ủy ban kinh tế, Phó Trưởng
đoàn ĐBQH TPHCM, Ủy viên HĐTVCSTCTTQG
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
LÀ MỘT TRONG NHỮNG CÔNG CỤ CHỦ YẾU
ĐỂ PHỤC VỤ MỤC TIÊU KINH TẾ VĨ MÔ Ở NƯỚC TA
Dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chình và suy thoái kinh tế toàn cầu
cùng với nhửng tồn tại, yếu kém nội tại của nền kinh tế, trong 2 năm qua nền
kinh tế nước ta đã có những biến động về phương diện kinh tế vĩ mô. Do đó chỉ
(2) Kiểm soát giá cả thông qua chỉ báo CPI hay thường nói là kiểm soát lạm phát
là chỉ báo quan trọng nhất phản ảnh tính ổn định của kinh tế vĩ mô. Chỉ báo này
còn được sử dụng như một công cụ giải quyết mối quan hệ giữa mục tiêu tăng
trưởng kinh tế với an sinh xã hội.
(3)Tạo việc làm mới cho xã hội, kiểm soát tỷ lệ thất nghiệp là chỉ báo vừa phản
ảnh tình trạng của nền kinh tế, vừa phản ảnh tính ổn định về mặt an sinh xã hội.
Thông thường ở các nước đây là chỉ báo rất quan trọng không chỉ có ý nghĩa
kinh tế mà còn có ý nghĩa chính trị phản ánh năng lực quản lý điều hành của một
chính phủ. Số việc làm mới tạo ra một năm còn phản ánh mối quan hệ giữa đầu
tư với tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ giữa các chính sách kinh tế tài chính
với chính sách nhân dụng.
(4)Tăng xuất khẩu ròng (lấy kim ngạch xuất khẩu – kim ngạch nhập khẩu); nhất
là đối với những nền kinh tế hướng về xuất khẩu.
Bốn mục tiêu nêu trên được sử dụng khá phổ biến ở các nước như là những
mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô. Những mục tiêu này cũng chính là những sản
phẩm đầu ra của quan hệ tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế. Vai trò của nhà
nước thông qua các chính sách và giải pháp kinh tế để tác động đến tổng cung
và tổng cầu nhằm tạo được “đầu ra” theo ý muốn, với nguyên tắc: nhà nước
không tác động trực tiếp vào chủ thể tạo cung hay tạo cầu, mà tác động vào thị
trường (sự vận động của tổng cung và tổng cầu được xem như “hộp đen”) và
chính thị trường sẽ tác động đến các chủ thể của nền kinh tế (người sản xuất,
người tiêu dùng).
Để thực hiện 4 mục tiêu kinh tế vĩ mô nêu trên, nhà nước thường sử dụng 4
nhóm chính sách hay còn gọi là các nhóm công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô:
(i) Chính sách tài khóa bao gồm các chính sách thuế và chi tiêu của chính phủ.
Đây là những chính sách quan trọng nhất vì nó không chỉ tác động đến tổng
cung và tổng cầu của nền kinh tế mà còn có ý nghĩa dẫn dắt, định hướng thị
trường. Chính sách tài khóa thường rất linh hoạt để điều chỉnh kịp thời các mục
tiêu kinh tế vĩ mô. Ví dụ chính sách tăng công chi để kích thích sức cầu của nền
kinh tế chẳng hạn hay tăng thuế để hạn chế tiêu dùng.
tốc độ tăng dư nợ tín dụng của các ngân hàng thương mại, giảm tổng cung tiền
trong lưu thông... dẫn đến giảm tổng cầu của nền kinh tế, tạo sự thăng bằng mới
trong quan hệ giữa Tổng cung - Tổng cầu. Khi một nền kinh tế lâm vào tình trạng
lạm phát, thì có nhiều nguyên nhân, bao gồm trực tiếp và gián tiếp, nhưng luôn
luôn được thể hiện qua tiền tệ, nên “toa thuốc tiền tệ” có tác dụng nhanh nhất.
+ Từ đầu năm nay, nền kinh tế nước ta có tốc độ tăng trưởng suy giảm khá
mạnh (GDP quý 1/2008 tăng 7,4% nhưng quý 1/2009 chỉ còn 3,1%), mục tiêu
kinh tế vĩ mô là ngăn chặn suy giảm, nên phải áp dụng các giải pháp để tăng
tổng cầu của nền kinh tế. Một lần nữa chính sách tiền tệ được sử dụng như công
cụ chủ yếu để phục vụ mục tiêu kinh tế. Trong 5 nhóm giải pháp chính phủ thực
thi từ tháng 12/2008 đến nay, thì nổi bật vẫn là việc sử dụng công cụ của chính
sách tiền tệ như: nới lỏng chính sách tín dụng, hạ lãi xuất cơ bản, hạ tỷ lệ dự trữ
bắt buộc đối với ngân hàng thương mại, trả nợ tín phiếu bắt buộc, tái chiết khấu
và tái cấp vốn qua nghiệp vụ thị trường mở, mở rộng biên độ tỷ giá VND... để
kích thích sự gia tăng tổng cầu của nền kinh tế, qua đó làm tăng cả tổng cung.
Để thực hiện gói kích thích kinh tế với quy mô 8 tỷ USD, mà chính phủ công bố,
thì cho đến nay việc thực hiện bù lãi xuất 4% cho các doanh nghiệp thuộc đối
tượng vay vốn lưu động vẫn là chính sách có nhiều tác dụng nhất.
3. Chính sách tiền tệ trong giai đoạn “hậu khủng hoảng”.
3.1. Kinh tế toàn cầu bước vào thời kỳ “ hậu khủng hoảng”.
Theo dõi diễn biến tình hình kinh tế thế giới từ đầu năm đến nay cho thấy, cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu chắc chắn không dẫn đến một cuộc đại khủng
hoảng kinh tế như thời kỳ 1929-1933, mà đã có nhiều người lo lắng.Tác động
của khủng hoảng tài chính đã dẫn đến suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng đến nay
có thể tin rằng, sự suy giảm đã chạm đáy.
Thật vậy,đối với thị trường tài chính,thì đáy của khủng hoảng đã không lập lại
sau ngày 10/3/2009, ngày có các chỉ số của các thị trường chứng khoán Mỹ đạt
mức thấp nhất. Đối với suy giảm kinh tế thì hầu hết các nền kinh tế chịu ảnh
hưởng lớn nhất đều tin rằng đã đến đáy: Ba nền kinh tế lớn Mỹ, EU và Nhật bản
đã có dấu hiệu tăng trưởng dương; tỷ lệ thất nghiệp giảm; các nền kinh tế khác