1.Mở bài :
Kim Lân viết truyện ngắn không nhiều nhưng được coi là một trong những cây bút tài năng để lại những
áng văn đặc sắc của văn học Việt Nam hiện đại, ông rất sành về cảnh quê, người quê và thế giới của
hương đồng gió nội . Trên 50 năm lao động nghệ thuật , ông chỉ có hai tập truyện ngắn ít ỏi .
Vợ Nhặt là một chương được viết lại của truyện dài Xóm ngụ cư mà ông đã làm thất lạc 1946. Hòa bình
1954 được lập lại , theo đơn “ đặt hàng” của báo Văn nghệ nhân kỉ niệm Cách mạng tháng Tám , tác giả
đã công bố truyện Vợ Nhặt. Như vậy, truyện ngắn này nó có được cái độ chín của một quá trình nghiền
ngẫm lâu dài và kĩ lưỡng về mặt nghệ thuật.
2.Thân bài:
Khi đề cập đến truyện ngắn , người ta thường quan tâm tới ba yếu tố: tình huống truyện ; nhân vật của
truyện, giọng điệu trần thuật của tác giả. Có nhiều truyện ngắn sự sáng tạo tình huống đóng vai trò then
chốt, đặt vào trong tình huống ấy, nhân vật truyện thường bộc lộ sâu sắc , tâm lí và tính cách ; tư tưởng
nghệ thuật của thiên truyện cũng nhờ thế mà đậm đà ; các chi tiết xoay quanh tình huống ấy trở lên hấp
dẫn và giàu ý nghĩa. Phát hiện ra tình huống trong cuộc sống đời thường chằng chịt nhiều mối quan hệ đã
là rất khó , thế nhưng, giải quyết tình huống ấy lại cần đến tài năng, bản lĩnh nghệ thuật và quan trọng
nhất là tấm lòng người viết. Chỉ có vậy thì tình huống ấy, nhân vật ấy mới trở thành điển hình nghĩa là rất
cá biệt , rất lạ đồng thời cũng nói lên được bản chất sâu sắc của cuộc sống.
- Bối cảnh rộng lớn nhất để cho một tình huống này xuất hiện chính là nạn đói khủng khiếp 1945 và qua
đây ta thấy được số phận bi thảm của con người . Chính Kim Lân đã công khai ý đồ sáng tác của mình “
trong sự túng đói quay quắt , trong bất cứ hoàn cảnh khốn khổ nào người nông dân ngụ cư vẫn khao khát
vươn lên trên cái chết, cái thảm đạm để mà vui để mà hi vọng( Báo Văn nghệ- số 19-1993).
Vợ nhặt đã nói lên cái hình tượng nghệ thuật về một sự thực lịch sử là nạn đói 1945 từ Quảng Trị đến Bắc
Kì hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói ( Tuyên ngôn Độc lập, cái nạn đói mà trong Đôi mắt của Nam
Cao, nhân vật Độ đã hồi tưởng “ Cái hồi đói khủng khiếp mà có lẽ đến năm 2000 , con cái chúng ta vẫn
còn kể lại cho nhau nghe để rùng mình” 2 triệu người quằn quại chết trên tổng dân số 20 triệu người
không phải là con số ít ỏi. Bóng đen chết chóc đã phủ xuống xóm làng Việt Nam. Cái đói “ đã tràn đến”
quả là hình bóng của thần chết đang lạnh lùng đi gây niềm kinh hoàng cho người dân nước Việt , tràn đến
gợi đến những cơn đại hồng thủy, gợi một sự tàn diệt không thể tránh khỏi của con người. Tác giả đã gây
ra một ám ảnh thê lương qua hai loại hình ảnh con người năm đói và hoàn cảnh không gian của nạn đói .
Tất cả đều đầy âm khí chết chóc. “ Những gia đình từ những vùng Nam Định , Thái Bình đội chiếu lũ
lượt bồng bế dắt nhau lên, xanh xám như những bóng ma và nằm ngổn ngang khắp lều chợ . Người chết
cái anh chàng vừa thô, vừa xấu vừa dở hơi về làng là bọn trẻ con cứ đu lấy anh mà trêu chọc cười đùa.
Khi nhận cô gái về làm vợ, Tràng thấy “ chợn” nhưng rồi anh cũng chậc lưỡi đánh liều. Hai cái liều gặp
nhau để định hướng vấn đề rất nghiêm túc. Đó là chuyện lập gia đình, đó là cơ hội duy nhất để Tràng vứt
bỏ cái dở hơi của mình. Đúng như bà cụ Tứ nghĩ “ Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này người ta
mới lấy đến con mình mà con mình mới có vợ được”. Nhân vật Tràng trên đường đưa vợ về nhà thấy mọi
người nhìn ngó đã lấy đó làm niềm tự hào “ Cái mặt cứ vênh lên tự đắc” với mình niềm vui lấn át nỗi lo.
Anh không hiểu nổi tại sao vợ lại buồn , mẹ lại khóc , “ Chán quá chẳng đâu vào đâu tự nhiên cũng
khóc”. Tràng bỗng nhiên nhặt được vợ , hạnh phúc của Tràng quá lớn và quá đột ngột mãi đến sáng hôm
sau Tràng vẫn thấy “ Trong người êm ái lửng lơ như người ở trong giấc mơ đi ra”. Và cùng với niềm vui
ấy, Tràng ý thức rõ rệt hơn về trách nhiệm với tổ ấm gia đình . Anh yêu thương, anh muốn gắn bó với mẹ
mình, với vợ mình, với cái nhà, cái sân mảnh vườn của mình “Một nguồn vui sướng phấn chấn đột ngột
tràn ngập trong lòng bây giờ hắn mới thấy hắn lên người”, hi vọng đã nhen lên. Ở phần cuối tác phẩm
Tràng đã nhớ ra “ Cảnh những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp “ để phá kho thóc của
Nhật” Tràng tự dưng thấy ân hận , tiếc rẻ vẩn vơ khó hiểu, khi nghĩ đến chiếc xe thóc mà mình vẫn đẩy
lên làm công cho Liên Đoàn. Biến cố Cách mạng tháng Tám đang đến gần, lá cờ đỏ sao vàng đang phấp
phới bay trong óc Tràng sẽ cho hai cái liều của vợ chồng Tràng thoát hiểm, có hi vọng, có tương lai.
Buồn tủi nhất là tâm trạng của người vợ mà tràng nhặt được. Lấy chồng là chuyện thiêng liêng phó thác
cả đời mình cho người đàn ông mà mình yêu kính. Thế mà cô vợ của Tràng hoàn toàn đi theo tiếng gọi
của cái ăn, không phải đáp ứng nhu cầu của trái tim mà là phải giải quyết quyền lợi của bao tử. Người
phụ nữ này không biết Tràng xấu tốt thế nào, chỉ một câu hò bâng quơ và mấy chiếc bánh đúc riêu cua là
cô nàng theo không về nhà. Người đọc cảm thấy ghê sợ đến tởm lợm một nhân cách mà là nhân cách phụ
nữ: cái ăn đã hạ thấp nhân phẩm; cái ăn khiến cho ta thấy cái nhục kèm theo, cái ăn đã tước đoạt luôn giới
tính ngàn đời phụ nữ Việt Nam. Người đàn bà trơ tráo , nhâng nháo không biết đến sĩ diện chút nào!. Sự
xấu hổ và ý thức tự trọng đã không còn chút mảy may trong tính cách của người đàn bà nhặt được này.
Hoàn toàn có thể hiểu được , khi người ta tự coi mình là cái rơm cái rác mà ai cũng có thể nhặt đầu đường
xó chợ. Tuy nhiên trên con đường đi về nhà chồng người vợ nhặt đã lầm lũi lấy nón che mặt như sợ người
ta phát hiện mình là một kẻ tội phạm. Cái hành động chào đến ba lần người mẹ của Tràng cụ mới nghe
được cùng với cái chi tiết lặng im “ mân mê tà áo đã rách bợt” cho thấy ý thức về bổn phận, ý thức mình
là dâu, là vợ đã trở về với cô gái mà mới đây thôi “ đanh đá, ngoa ngoắt chỏng lỏn”. Chính cái việc phục
hồi lại nhân phẩm cho mình và những hành động dọn dẹp nhà cửa của người vợ nhặt đã nhen lên một
gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình mà con mình mới có được vợ”. Thôi bổn
phận bà làm mẹ, bà đã chẳng lo lắng gì được cho con, nghĩ vậy nên cuối cùng dồn tụ trong bao nhiêu lo
lắng yêu thương ở câu nói giản dị “ chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá”. Như vậy , trên những bề
bộn ngổn ngang buồn lo, niềm vui của mẹ vẫn ánh lên, và tỏa hơi ấm kì diệu từ …nồi cháo cám. Nỗi hân
hoan của mẹ được thốt lên như tiếng reo hạnh phúc của đứa trẻ, “ chè đây – bà lão múc ra một bát – chè
khoán đây ngon đáo để”. Rõ ràng, bà lão rất tin cái nồi cháo cám này là ngon. Chúng ta cần cảm nhận
tiếng “ ngon” này trong ý nghĩa về tinh thần hơn là về vật chất . Bà mẹ rất tin vào hạnh phúc của con nên
cái đắng chát của nồi cháo cám đã trở thành cáu ngọt ngào của hạnh phúc, của tinh thần. Chọn hình ảnh
nồi cháo cám, Kim Lân muốn chứng minh cho cái chất người: Trong bất kì hoàn cảnh nào tình nghĩa và
hi vọng không thể bị tiêu diệt, con người vẫn muốn sống cho ra sống, và cái chất người thể hiện cách
sống tình nghĩa và hi vọng. Tuy nhiên Kim Lân không phải là nhà văn lãng mạn. Niềm vui của bà cụ Tứ
vẫn là một niềm vui tội nghiệp bởi hiện tại vẫn là nghiệt ngã: Nồi cháo cám vẫn “ đắng chát” và “nghẹn
bử”. Như vậy trong tình huống của câu chuyện nhặt vợ đã có ba nhân vật liên đới. Cả ba đều bị hung thần
Đói đe dọa, khi cả ba sống rời rạc như những hình nhân dật dờ không có cơ hội để nhen lên những đốm
sáng của chất người, tình người. Thế nhưng khi cả ba chụm lại , thì nó đã nên hòn núi cao của tình người.
Giữa cái đói , nhặt vợ về để mưu cầu hạnh phúc,cả ba con người hồi sinh để làm người , chính là tình
huống đặc biệt để làm sáng ngời tinh thần nhân đạo. cái vẻ đẹp tinh thần của những người nghèo khổ, cái
thế vượt hoàn cảnh ấy chính là nội dung nhân đạo độc đáo rất cảm động.Nó đem đến cho người đọc nhiều
suy nghĩ.
3. Kết luận
Rất nhiều các nhà văn lớn đã viết về bài ca của con người, nhưng bài ca lớn nhất , âm vang nhất vẫn là
sức mạnh tinh thần có thể giúp con người phá vỡ hoàn cảnh bế tắc để thoát hiểm, để hi vọng và để xứng
đáng với danh dự làm người. Kim Lân đã góp thêm cho bài ca ấy, bài ca con người, một điệu nhạc buồn
nhưng trong những dòng nước mắt lặng lẽ, trong cái u ám tối trời, tối đất của nan đói vẫn ánh lên những
đốm lửa của hi vọng, của tương lai. Không hiểu sao gấp trang sách lại , toi thấy cái logic của dòng nước
mắt, của hành động thắp đèn trong đêm tân hôn, của lá cờ đỏ phấp phới trong óc Tràng và tôi tin, gia đình
người nông dân xóm ngụ cư này sẽ vượt qua cái thời tao loạn của nạn đói khủng khiếp này. Họ sẽ hạnh
phúc bởi vì chỉ cần một bước nữa thôi Cách mạng tháng Tám 1945 sẽ thành công…
Các từ khóa trọng tâm " cần nhớ " của bài viết trên hoặc " cách đặt đề bài " khác của bài viết trên:
• vợ nhặt