THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HOÀN THUẾ GTGT ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI - Pdf 75

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HOÀN THUẾ GTGT
ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
2.1. TỔNG QUAN VỀ CỤC THUẾ HÀ NỘI
2.1.1. Khái quát về cục thuế Hà nội và phòng Công nghiệp
2.1.1.1. Khái quát về cục thuế Hà nội
Cục thuế Hà nội nằm trong hệ thống thu thuế Nhà nước trực thuộc Bộ tài
chính được thành lập theo Nghị định số 281- HĐBT ngày 07/8/1990 của Hội
đồng Bộ Trưởng để quản lý thống nhất trong cả nước công tác thu thuế và các
khoản thu khác của NSNN. Cục thuế Hà nội là cơ quan chuyên môn thuộc
Tổng cục thuế Nhà nước, đồng thời chịu sự chỉ đạo song trùng của UBND
thành phố.
 Cục thuế Hà nội trực tiếp quản lý thu thuế các đối tượng nộp thuế trên
địa bàn Hà nội, bao gồm:
- Doanh nghiệp Nhà nước Trung ương, doanh nghiệp Nhà nước thuộc
quận, huyện, thành phố, doanh nghiệp của Đảng, đoàn thể, đơn vị vũ trang
nhân dân.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia
hợp tác kinh doanh theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam.
- Công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn,
các cơ sở kinh tế tập thể, hợp tác xã.
- Các đơn vị kinh tế sự nghiệp, nhà khách nhà nghỉ… của Nhà nước.
- Các hộ sản xuất kinh doanh đăng ký được nộp thuế GTGT theo phương
pháp khấu trừ.
 Nhiệm vụ và quyền hạn của Cục thuế Hà nội.
- Hướng dẫn, tổ chức chỉ đạo việc thực hiện thống nhất các chính sách
chế độ, thể lệ, nguyên tắc về quản lý, thu thuế trên điạ bàn theo đúng các luật,
1
pháp lệnh, các văn bản quy định của Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Bộ trưởng
và các hướng dẫn của Bộ tài chính và cơ quan thuế cấp trên, phổ biến nội dung
chính sách cho đối tượng nộp nộp thuế.

Cục phó 1
Phòng thương nghiệp
Phòng văn hoá - xã hội
Phòng nông lâm
Phòng công nghiệp
Phòng tài vụ
3
2.1.1.2. Khái quát phòng thuế Công nghiệp
Phòng thuế công nghiệp là phòng trực thuộc cục thuế Hà nội, phòng gồm
có 1 trưởng phòng, 3 phó phòng và 24 cán bộ trong biên chế trực tiếp quản lý
các doanh nghiệp công nghiệp.
 Nhiệm vụ của phòng thuế công nghiệp:
- Nắm chắc các đối tượng nộp thuế, hướng dẫn các đơn vị nộp thuế trong
quá trình hành thu
- Đôn đốc các đơn vị nộp tờ khai thuế theo đúng thời gian quy định
- Có trách nhiệm kiểm tra các tờ khai thuế của doanh nghiệp
- Lập báo cáo quyết toán thuế trình lên cục thuế
- Kiểm tra các thông báo của phòng máy tính gửi lưu…..
2.1.2. Một số đặc điểm về hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp Công nghiệp trên địa bàn Hà nội
Góp phần vào kết quả chung của cả nước. Hà nội vừa khẳng định là một
địa bàn kinh tế trọng điểm của cả nước, nền kinh tế thủ đô nói chung và nền
kinh tế công nghiệp nói riêng đã đạt được nhiều kết quả khả quan, thực hiện
được những mục tiêu do nghị quyết HĐND đề ra. Đặc biệt là sau khi các luật
thuế mới ra đời nền kinh tế thủ đô đã có những bước tăng trưởng đáng kể, nhất
là đối với các doanh nghiệp công nghiệp.
Hiện nay các doanh nghiệp công nghiệp thuộc phòng Công nghiệp quản
lý bao gồm hai loại hình, đó là doanh nghiệp Công nghiệp Trung ương và
doanh nghiệp Công nghiệp Địa phương.
Với doanh nghiệp Nhà nước Trung ương, đây là những doanh nghiệp có

hà chậm chễ. Việc cấp mã số thuế cho đối tượng nộp thuế được thực hiện
nhanh chóng tạo rất nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp sớm bước vào hoạt
động sản xuất kinh doanh theo kế hoạch.
5
Tính đến ngày 31/12/2002 cục thuế Hà nội đã tiến hành cấp mã số thuế
cho tất cả 85.987 đối tượng nộp thuế.
Bảng 1: Tình hình cấp mã số thuế tại cục thuế Hà nội từ 1999 - 2002
Chỉ tiêu Số đơn vị Tỷ trọng
- Khối doanh nghiệp Nhà nước Trung
ương và địa phương
2.545 2,96%
- Khối doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài
593 0,7%
- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh do
văn phòng cục quản lý
6.813 7,9%
- Doanh nghiệp ngoài quốc doanh do
chi cục quản lý
8.271 9,62%
- Hộ kinh doanh cá thể 67.765 78,8%
Tổng số 85.987 100%
Nguồn: Cục thuế Hà nội
Hoà chung vào công tác quản lý đối tượng nộp thuế – cấp mã số thuế cho
đối tượng nộp thuế toàn cục thuế Hà nội, phòng Công nghiệp không ngừng
nâng cao công tác cấp mã số thuế cho doanh nghiệp, phòng đã thực hiện quản
lý đúng quy trình do cơ quan thuế quy định, toàn bộ mã số thuế được nhập
vào máy vi tính, nhờ đó mà việc quản lý đối tượng nộp thuế trong quá trình
hành thu được thực hiện dễ dàng hơn, chặt chẽ hơn.
Tính đến ngày 31/12/2002 phòng công nghiệp đã thực hiện cấp mã số

xác với thực tế phát sinh, đúng mẫu tờ khai…
7
Tuy nhiên, qua công tác thanh tra quyết toán thuế cũng như hoàn thuế
GTGT vẫn còn có các tình trạng xảy ra đó là hoàn quá phải thu hồi lại ngân
sách, hoàn khống (đối với các doanh nghiệp đã được hoàn) hoặc khai giảm số
thuế đầu ra phải nộp, khai tăng số thuế đầu vào được khấu trừ, song tỷ lệ
doanh nghiệp công nghiệp vướng vào những hành vi này so với các loại hình
doanh nghiệp khác là rất ít vì đây là những doanh nghiệp Nhà nước nên trình
độ về công tác kế toán cũng như trình độ nhận thức về vai trò quan trọng của
công tác hoàn thuế hơn hẳn các doanh nghiệp khác…
Các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các vi phạm trên là:
- Kê khai trùng thuế đầu vào (một hoá đơn có thể bị kê khai nhiều lần)
Ví dụ: trong tháng 1/2002 vừa qua công ty Xuất nhập khẩu tổng hợp đã
bị cục thuế Hà nội ra quyết định thu hồi 1,3 triệu đồng, với lý do là công ty
này đã khai tới 3 lần trong một hoá đơn mua vào.
- Kê khai sai (hoặc nhầm) giữa giá trị thuế trên hoá đơn với bảng kê.
- Khấu trừ sai đối tượng. Ví dụ: các chi phí không phục vụ cho sản xuất
kinh doanh thì không được khấu trừ, nhưng khi kê khai thì doanh nghiệp lại
kê khai toàn bộ (bao gồm cả các chi phí mà đáng lẽ ra không được khấu trừ),
việc này thường xảy ra nhiều nhất với doanh nghiệp dùng điện, nước.
Ví dụ điển hình cho trường hợp này là công ty Phân lân nung chảy, tháng
11/2001 qua công tác thanh tra quyết toán thuế, phòng công nghiệp đã phát
hiện công ty này kê khai cả những chi phí không được khấu trừ và số tiền
phải thu hồi là 13,7 triệu đồng, bên cạnh đó cũng còn có những đơn vị khác
có hành vi sai phạm tương tự. Tuy nhiên các đơn vị này hầu hết đã bị cục truy
thu.
- Báo cáo doanh thu khống với hàng xuất khẩu, tức là khi xin hoàn thuế
đơn vị đã kê khai doanh thu đối với hàng xuất khẩu để xin hoàn thuế nhưng
khi cơ quan thuế kiểm tra doanh nghiệp lại không chứng minh được là có
hàng xuất khẩu và đương nhiên số thuế cho hoàn trước đây sẽ bị thu hồi.

- Số thu từ các doanh
nghiệp công ghiệp
638,741 290,343 299,3 383,5
- Tỷ trọng 27,8% 11,12% 10,96% 13,52%
- Phần trăm (%) hoàn
thành dự toán
117,1% 109,3% 103,2% 113,34%
Nguồn: Phòng công nghiệp - cục thuế Hà nội.
2.2.2. Thực trạng công tác hoàn thuế GTGT đối với các
doanh nghiệp Công nghiệp trên địa bàn Hà Nội
2.2.2.1. Tình hình hoàn VAT đối với các doanh nghiệp Công nghiệp trên địa bàn Hà nội.
Trong thực tế hiện nay không chỉ đối với phòng Công nghiệp của Cục
thuế Hà nội mà đối với tất cả các cơ quan thuế, tình trạng chung đối với công
tác hoàn thuế đều là hoàn trước kiểm sau, việc kiểm trước hoàn sau thường ít
xảy ra.
- Thứ nhất: Về công tác hoàn trước kiểm sau, công tác này được thể
hiện như sau: khi doanh nghiệp gửi hồ sơ xin hoàn thuế. Cơ quan thuế sẽ tiến
hành kiểm tra các chứng từ trong hồ sơ, nếu thấy hợp lý (tức là kê khai theo
đúng mẫu của cơ quan thuế và số thuế trên bảng kê tổng hợp phù hợp với số
thuế kê khai trên bảng kê hàng hoá dịch vụ) thì cơ quan thuế sẽ ra quyết định
cho hoàn thuế. Việc cho phép hoàn trước kiểm sau là vì thực tế để kiểm tra
hết hồ sơ, đối chiếu các hồ sơ một cách tỉ mỉ, xem thực tế doanh nghiệp có
phát sinh hoạt động được hoàn thuế không… rồi mới cho hoàn, như vậy thì
mất rất nhiều thời gian mà lại ảnh hưởng đến tiến độ hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp, cho nên Bộ tài chính đã cho phép cơ quan thuế tiến hành
hoàn trước kiểm sau đối với những doanh nghiệp có đủ điều kiện do Bộ tài
chính đưa ra (các doanh nghiệp thuộc đối tượng xin hoàn thuế nhiều lần mà
10
chưa có hành vi gian lận trong hoàn thuế). Việc kiểm tra sau khi hoàn có thể
được tiến hành khi thanh tra quyết toán thuế hoặc có thể là kiểm tra bất ngờ

bàn Hà nội trong những năm qua
Có thể khẳng định rằng công tác hoàn thuế GTGT là một vấn đề hết sức
bức xúc được nhiều người quan tâm bởi tính phức tạp của nó trong quá trình
thực hiện và bản thân nó mang nhiều mục đích kinh tế xã hội khác nhau.
Nhận thấy rõ tầm quan trọng của công tác này Bộ tài chính, Tổng cục thuế và
Cục thuế Hà Nội đã hết sức chú trọng, cải tiến và hoàn thiện dần đưa công tác
này đi vào nề nếp và phát huy tác dụng của nó.
Năm 1999 – Thời kỳ đầu khi mới thực hiện luật thuế GTGT, tiến độ hoàn
thuế cho các doanh nghiệp còn chậm do thông tư 89/ 1998/TT-BTC ngày
27/6/1998 của Bộ tài chính- quy định về hồ sơ hoàn thuế GTGT gồm có: công
văn đề nghị hoàn thuế GTGT đầu vào đã nộp có nêu lý do xin hoàn thuế và có
số thuế xin hoàn kèm theo (Bảng kê khai tổng hợp số thuế phát sinh đầu ra, số
thuế đầu vào được khấu trừ, số thuế đã nộp, số thuế đầu vào lớn hơn số thuế
đầu ra đề nghị hoàn lại, bảng kê hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra trong kỳ
liên quan đến việc xác định thuế GTGT đầu vào, đầu ra mẫu số 09/GTGT
kèm theo thông tư này).
Những thủ tục hành chính của việc rút tiền từ NSNN hoàn lại cho doanh
nghiệp (DN) như trên là rất cần thiết. Song tốc độ của việc hoàn thuế cho các
DN lại quá chậm - đó là sự phản ánh từ các DN XNK. Việc chậm chạp trong
công tác hoàn thuế GTGT đã gây cho DN nhất là những DN XNK gặp nhiều
khó khăn.
Sở dĩ công tác hoàn thuế thời kỳ đầu thực hiện luật thuế GTGT còn chậm
chạp là vì: Thông tư 89/1998 /TT-BTC có hiệu lực 1/1/1999 còn khá đơn
giản, chưa phục vụ cho việc kiểm tra, xác minh chứng từ. Mặt khác nhiều vấn
đề trong chỉ đạo thể hiện sự lúng túng “chữa cháy”, do đó càng gỡ lại lại
càng bí.
12


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status