Thực trạng hệ thống NHTM Việt Nam
I. Khái quát về hệ thống NHTM VN hiện nay
Trong gần 15 năm đổi mới kể từ năm 1988, hệ thống ngân hàng Việt
Nam đã có những biến đổi cơ bản. Một hệ thống ngân hàng hai cấp, tách Ngân
hàng Nhà nớc (NHNN) ra khỏi các NHTM với sự tham gia của nhiều thành
phần đã đợc hình thành. Về thực chất, sự thay đổi về bộ mặt bộ máy ngân hàng
nh vậy đáp ứng yêu cầu tất yếu của quá trình chuyển nền kinh tế sang cơ chế
thị trờng: phân biệt rõ ràng chức năng của NHNN và NHTM, bảo đảm tính độc
lập của NHTM đối với NHNN trong hoạt động kinh doanh. Về phơng diện bộ
máy, việc phân định rõ chức năng kinh doanh cho các NHTM còn là một tín
hiệu chính thức và có giá trị pháp lý vững chắc để các NHTM CP ra đời và để
các NHTM nớc ngoài thiếp lập chi nhánh và văn phòng đại diện ở Việt Nam.
Để khẳng định về mặt pháp lý sự thay đổi này, Quốc hội đã thông qua Luật
Ngân hàng Nhà nớc và Luật các Tổ chức tín dụng vào tháng 12/1997.
Đến nay, hệ thống NHTM VN bao gồm:
- NHTM Nhà nớc có 5 ngân hàng: bao gồm Ngân hàng Công thơng,
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Đầu t và Phát
triển, Ngân hàng Ngoại thơng và Ngân hàng phát triển Nhà đồng bằng sông
Cửu Long.
- NHTM CP bao gồm 23 NHTM CP đô thị với 105 chi nhánh cấp I
và 14 NHTM CP nông thôn với 27 chi nhánh
- Ngân hàng liên doanh có 4 ngân hàng với 7 chi nhánh
- Ngân hàng nớc ngoài gồm 26 chi nhánh và 40 Văn phòng đại diện
tổ chức tín dụng nớc ngoài hoạt động tại Việt Nam
Nhìn tổng thể, ở Việt Nam có một hệ thống ngân hàng với đầy đủ
các thành phần kinh tế với một mạng lới rộng lớn, phân ổ ở các tỉnh và thành
phố, đủ năng lực để đáp ứng đợc nhu cầu phát triển nền kinh tế.
II. Hiện trạng của các NHTM VN trong bối cảnh hiện nay
1. Những thành tựu, kết quả đạt đợc
Trong gần 15 năm qua của công cuộc đổi mới hoạt động ngân hàng,
dới tác động của cạnh tranh và hợp tác, hệ thống ngân hàng ở Việt Nam đã
3 Tạp chí Tài chính Tháng6/2003
4 Theo mục Tin tức của trang Web Ngân hàng Ngoại Thơng
Bên cạnh đó, việc giải toả các khoản nợ xấu, làm trong sạch tình
hình tài chính của các NHTM QD đã đạt đợc những thành tựu đáng kể. Tính
đến nay, số nợ tồn đọng ở các NHTM QD đã đợc xử lý cơ bản, khoảng trên
10.000 tỷ đồng, đạt khoảng gần 50% tổng số nợ đọng cần xử lý
5
. Các công ty
Quản lý nợ và Khai thác tài sản hoạt động có hiệu quả, nhiều tài sản đợc tiến
hành phát mại, bán đấu giá, cho thuê. Tổng số các khoản vốn thu hồi qua khâu
nghiệp vụ này đợc gần 800 tỷ đồng
6
. Có thể nêu ra mộ số thành tựu cụ thể của
một số NHTM QD nh sau: Ngân hàng NN&PTNT là đơn vị lớn nhất Việt Nam
với số nguồn vốn trên 110.000 tỷ đồng, tốc độ tăng trởng đạt từ 37%/năm đến
39%/năm, có 1656 chi nhánh trải rộng trên phạm vi toàn quốc, quan hệ đại lý
với 784 ngân hàng ở 90 nớc trên thế giới, đã đợc tạp chí ASIA WEEK xếp thứ
335 trong số 500 ngân hàng lớn nhất Châu á
7
; Ngân hàng Công thơngViệt
Nam có nguồn vốn huy động dồi dào, tăng trởng trên 23% so với năm 2000,
nguồn vốn tăng trởng liên tục trong những năm qua, tốc độ tăng bình quân
40%/ năm, từ 497 tỷ đồng năm 1998 lên 71.477 tỷ đồng năm 2002 (tăng 144
lần), có một mạng lới gồm 2 Sở giao dịch, 114 chi nhánh, 139 phòng giao dịch
và 383 quỹ tiết kiệm và hai đơn vị sự nghiệp là Trung tâm Đào tạo và Trung
tâm Công nghệ thông tin, có mạng lới đại lý với 623 ngân hàng trên khắp thế
giới
8
; Ngân hàng Ngoại thơng Việt Nam có nguồn vốn tính tới thời điểm cuối
năm 2002 là 82.000 tỷ đồng, tăng gấp 5,2 lần so với cuối năm 1991, trở thành
10
. Một số ví dụ cụ thể về sự tăng trởng và phát
triển của một số NHTM CP lớn ở Việt Nam xem phần phụ lục (Bảng 1, 2, 3)
(3) Đối với các ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng
nớc ngoài, việc thu hút các ngân hàng nớc ngoài, các tổ chức tài chính, tín
dụng quốc tế đến Việt Nam đã tạo điều kiện cho thị trờng tài chính Việt Nam
phát triển mạnh mẽ. Trong thời gian qua, hoạt động của ngân hàng liên doanh
cũng nh ngân hàng nớc ngoài đều phát triển nhanh về quy mô, mạnh lới hoat
động. Bên cạnh đó đã đa dạng hoá, hoàn thiện chất lợng và nâng cao loại hình
sản phẩm dịch vụ tài chính- ngân hàng. Theo đánh giá chung về hoạt động của
chi nhánh ngân hàng nớc ngoài, ngân hàng liên doanh thì hoạt động của các
ngân hàng có vốn nớc ngoài này phát triển ổn định và an toàn tại Việt Nam
10 Tạp chí Ngân hàng Số 7/2003
trong một bối cảnh thị trờng tài chính quốc tế đầy biến động. So với cuối năm
2001, tổng tài sản của các ngân hàng này tăng 15,5%, huy động vốn tăng 10%,
d nợ cho vay tăng 6,7%, lợi nhuận tăng 2,2%. Trong đó, các ngân hàng liên
doanh chiếm tỷ trọng trong thị phần huy động vốn là 3,4%, cho vay vốn là
3,4%, kinh doanh ngoại tệ 6,3%. Chất lợng tín dụng đã dần từng bớc đợc nâng
cao thông qua việc xử lý tài sản đảm bảo, nợ quá hạn tính đến cuối năm 2002
giảm 41% so với cùng kỳ năm 2001. Tính đến cuối năm 2002, tổng tài sản có
tăng 24,2%, huy động vốn tăng 37,7% so với năm 2001. Đối với các chi nhánh
ngân hàng nớc ngoài thì đến đầu năm 2002, các ngân hàng lớn trên thế giới đã
thiết lập chi nhánh, thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại ở nớc ta
nh: Citi Bank và Bank of America (của Mỹ), Deutsche Bank (của Đức), ABN-
AMRO Bank và ING Bank (Hà Lan), Credit Lyonniars và BNP (Pháp), Fuji
Bank và Bank of Tokyo & Mitshubishi (Nhật), ANZ Về hoạt động của các
chi nhánh thì nhìn tổng quát so với thời điểm 31/12/2001, tổng tài sản đến cuối
năm 2002 tăng 11%, huy động vốn từ khách hàng tăng 5,9%, tỷ lệ nợ quá hạn
chỉ có 0,43% tổng d nợ, giảm 0,6% so với năm trớc. Những kết quả nói trên
chứng tỏ các NHTM có vốn đầu t nớc ngoài đã góp phần tích cực vào hoạt
65%/năm, năm 2003, tỷ lệ này đã có bớc nhảy vọt lên tới 86%, tăng 21% so
với năm 2002. Việc tăng tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt có thể coi là tín
hiệu đáng mừng và là bớc phát triển tất yếu của nền kinh tế. Hiện nay, tại
nhiều nớc phát triển, tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt thờng chiếm mức
95% trong tổng phơng tiện thanh toán nhng đối với Việt Nam, việc giảm tỷ lệ
thanh toán dùng tiền mặt xuống chỉ còn 14% cũng là dấu hiệu đáng khích lệ.
Theo thống kê của NHNN, trong các phơng tiện thanh toán không dùng tiền
mặt, uỷ nhiệm chi vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất (chiếm trên 70% tổng khối lợng
thanh toán), đây là loại hình phổ biến đợc các doanh nghiệp sử dụng. Các ph-
ơng tiện thanh toán khác cũng đang có dấu hiệu phát triển tốt, chẳng hạn nh
séc, trớc đây thanh toán bằng séc chỉ chiếm khoảng 0,5% nhng trong năm
2003 này đã tăng lên trên 1% trong tổng khối lợng thanh toán. Còn đối với các
loại hình thẻ thanh toán, thị trờng thẻ năm 2003 phát triển khá mạnh với hàng
loạt các loại thẻ thanh toán mới đợc các NHTM tung ra thị trờng, doanh số
12 Tạp chí Ngân hàng Số 4/2003
13 Thời báo Ngân hàng 3/9/2003
thanh toán bằng thẻ gấp 2 lần năm 2002 chiếm 0,4% tổng khối lợng thanh
toán
14
.
Bên cạnh đó, kể từ năm 2000 đến nay, các chính sách liên quan đến
hoạt động của các chi nhánh ngân hàng nớc ngoài, ngân hàng liên doanh đã
phần nào đợc cải thiện. Trong phạm vi khu vực, các NHTM đã tăng cờng mở
rộng quan hệ với ASEAN, AFTA. Trong phạm vi quốc tế, Hiệp định Thơng
mại song phơng Việt- Mỹ là dấu hiệu ban đầu cho Việt Nam trở thành thành
viên của WTO, tạo điều kiện nâng cao hơn nữa vị thế của các NHTM Việt
Nam trên trờng quốc tế.
2. Những mặt còn hạn chế
Bên cạnh những thành tựu đạt đợc thì vẫn còn một số tồn đọng đáng
kể nh: khả năng huy động vốn trung và dài hạn còn hạn chế, cha đáp ứng đợc
Các ngân hàng có vốn đầu t nớc ngoài còn gặp nhiều khó khăn trong
việc mở rộng cho vay nền kinh tế Việt Nam do cha đợc tham gia vào các dự án
lớn vốn đầu t nớc ngoài, bên cạnh đó là quy định về huy động vốn nội tệ còn bị
bó hẹp, cha đợc nhận tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất
Tóm lại, hệ thống NHTM Việt Nam cần dợc tiếp tục củng cố, cải
cách mạnh mẽ hơn nữa để hiện đại hoá hệ thống ngân hàng, nâng cao năng lực
cạnh tranh và phát triển bền vững trớc xu thế hội nhập và toàn cầu hoá ngày
Trớc yêu cầu của nền kinh tế chuyển dịch nhanh sang cơ chế thị trờng- mở cửa
và hội nhập, hệ thống NHTM của nớc ta đã có nhiều bớc tiến đáng kể, đã đợc
củng cố chấn chỉnh, đang trong quá trình ổn định và phát triển. Tuy nhiên,
cũng còn không ít khó khăn, tồn tại, yếu kém cần phải tiếp tục củng cố và chấn
chỉnh lại.
2.1. Cơ chế quản lý và cấu trúc hệ thống còn nhiều bất cập
Mặc dù ngành ngân hàng đã có Luật Ngân hàng Nhà nớc và Luật các
Tổ chức tín dụng, song song với hai Luật mới này cũng xuất hiện một số nội
dung bất cập với xu hớng phát triển của hoạt động ngân hàng nh về chức năng,
nhiệm vụ của Thống đốc và một số quan hệ giữa ngân hàng với các cấp, các
ngành trong nền kinh tế quốc dân còn bị gò bó và lệ thuộc rất lớn. Theo đó,
việc tổ chức, điều hành còn bị chồng chéo, cồng kềnh, còn nhiều hiện tợng lẫn
lộn giữa hoạt động kinh doanh với hoạt động chính sách, các tổ chức tín dụng
phi ngân hàng. Đặc biệt, để phù hợp với các cam kết quốc tế đã ký nh Hiệp
định thơng mại Việt- Mỹ, 2 Luật Ngân hàng cần phải sửa đổi, bổ sung rất
nhiều vấn đề nh: Các vấn đề về cấp phép, tiếp cận với các dịch vụ của NHTW,
các dịch vụ về t vấn, trung gian và bổ trợ tài chính, môi giới tiền tệ, vấn đề đạt
máy rút tiền tự động, cung cấp các dịch vụ thông tin tài chính, hoạt động nhận
tiền gửi và cho vay, nghiệp vụ Factoring, cho thuê tài chính, thanh toán và
chuyển tiền, bảo lãnh và các cam kết
Cấu trúc hệ thống ngân hàng tuy phát triển mạnh mẽ về chiều rộng
(cả khu vực quản lý lẫn khu vực kinh doanh) nhng hiệu quả và chất lợng hoạt
động kém. Các NHTM QD hầu hết xây dựng mạng lới theo lãnh thổ. ở nhiều