LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 75

LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỊCH VỤ THẺ THANH TOÁN CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Thanh toán không dùng tiền mặt
1.1.1. Sự cần thiết của thanh toán không dùng tiền mặt
Thanh toán tiền tệ là sự cần thiết khách quan, có vai trò quan trọng trong quá
trình sản xuất của nền kinh tế hàng hoá. Một nền kinh tế hàng hoá gắn luôn gắn liền với
quá trình thanh toán và chu chuyển tiền tệ. Kinh tế hàng hoá càng phát triển thì thanh
toán và chu chuyển tiền tệ càng mở rộng và phát triển để có thể phục vụ đắc lực cho lưu
thông hàng hoá.
Một thời gian dài trước đây, khi trình độ thấp của lực lượng sản xuất còn thấp và
hoạt động sản xuất hàng hóa chưa phát triển cao như hiện nay, việc trao đổi hàng hàng
hoá chỉ diễn ra trong phạm vi hẹp và lúc này thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt tỏ ra
hiệu quả, linh hoạt, góp phần thúc đẩy quan hệ giao dịch giữa các bên được diễn ra
nhanh chóng, thuận tiện và ngày càng phát triển.
Hiện nay, khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ cao hơn, nền kinh tế
thế giới phát triển theo hướng toàn cầu hoá, lượng hàng sản xuất ra rất lớn và được chở
đi tiêu thụ mọi nơi, tức là phạm vi thanh toán mở rộng thì thanh toán bằng tiền mặt lại
bộc lộ những hạn chế của nó như:
- Không an toàn khi phải vận chuyển một lượng tiền mặt lớn từ nơi này đến nơi khác.
- Chi phí và thủ tục chuyển đổi loại tiền để thanh toán là lớn vì trong quan hệ thanh
toán quốc tế luôn có sự tham gia của nhiều đồng tiền.
- Ngân hàng trung ương cần phải chi một lượng chi phí lớn cho in đúc, vận chuyển,
phát hành tiền vì khối lượng tiền trong lưu thông phải tương ứng với lượng hàng
hoá dịch vụ được sản xuất và tiêu thụ theo quy luật lưu thông tiền tệ.
- Thanh toán bằng tiền mặt ảnh hưởng đến tính liên tục của chu kì sản xuất, lưu thông
hàng hoá. Thực tế khách quan đó đòi hỏi hình thức thanh toán mới khắc phục những
hạn chế của thanh toán bằng tiền mặt, đáp ứng nhu cầu phát triển của thờì đại.
Như vậy do việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt giữa các chủ thể kinh tế có
nhiều hạn chế, như rủi ro do phải vận chuyển tiền, chi phí thanh toán lớn, đặc biệt với
khách hàng ở xa nhau đã tạo nên nhu cầu thanh toán qua ngân hàng. Do đó, thanh toán
không dùng tiền mặt xuất hiện.

ngân hàng, họ không phải trực tiếp thanh toán với nhau. Nhờ vậy mà giảm lượng công
việc liên quan đến quản lý thanh toán, tập trung vào những việc khác.
Ngân hàng trung ương và chính phủ dễ kiểm soát lượng tiền trong lưu thông,
nắm bắt các tín hiệu của thị trường, phục vụ quản lý vĩ mô, kiềm chế lạm phát, thực
hiện chính sách tiền tệ, thanh toán quốc gia. Vai trò này chỉ phát huy hiệu lực khi các
giao dịch thanh toán được thực hiện qua ngân hàng.
1.1.3. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt khá phổ biến hiện nay gồm:
Internet Banking, E-banking, Home Banking, Phone Banking, MobileBanking..., ATM,
thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, séc, chuyển tiền điện tử, nhờ thu, ủy nhiệm chi, thanh toán
qua tài khoản cá nhân, thanh toán online, Master Card, Visa Card, Amex Card... Các
hình thức thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam mới dừng lại chủ yếu là séc, ủy
nhiệm thu, chi, thư tín dụng và thẻ thanh toán, thanh toán điện tử…
1.2. Dịch vụ thẻ thanh toán của ngân hàng thương mại
1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển thẻ ngân hàng
1.2.1.1. Sự ra đời của thẻ Ngân hàng
Thẻ Ngân hàng là một công cụ thanh toán đặc biệt và tiện lợi trong nền kinh tế
của các nước. Thẻ ngân hàng được thừa nhận là ra đời vào thời kỳ hưng thịnh của nền
kinh tế thế giới – những năm 30 của thế kỷ XX và đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng
kinh tế thế giới 1929-1930.
Tại Mỹ, năm 1914, chiếc thẻ đầu tiên trên thế giới đã xuất hiện khi các đại lý
bán lẻ cung cấp cho khách hàng một khoản tín dụng (mua hàng trước, trả tiền sau).
Điển hình là công ty xăng dầu California đã cấp thẻ cho nhân viên và một số khách
hàng của mình và nhận thấy rằng phương thức thanh toán này rất thuận tiện. Tuy nhiên
thẻ lúc đó chỉ có tác dụng khuyến khích khách hàng sử dụng sản phẩm của hãng mà
không kèm theo dự phòng khi gia hạn tín dụng.
Năm 1929-1930 cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra và để lại những hậu
quả hết sức nghiêm trọng. Để khắc phục ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này hệ
thống các cửa hàng bán lẻ ở các nước phát triển đã đưa ra một hình thức bán chịu nhằm
khuyến khích tiêu dùng, tăng doanh thu. Lúc này các công cụ tín dụng thương mại như

cho Visa có thể mở rộng thị trường. Đến nay, Visa có quy mô lớn nhất thế giới với hơn
22000 thành viên ở 200 quốc gia.
Cùng với Hoa Kỳ, các nước kinh tế phát triển ở châu Âu, ở châu Á, đặc biệt là ở
Nhật Bản, thẻ Ngân hàng bắt đầu được sử dụng ngày một rộng rãi và chất lượng phát
triển rất cao nhờ sự phát triển công nghệ kỹ thuật số. Năm 1961, JCB hình thành bởi
ngân hàng Sanwa của Nhật, bắt đầu phát triển thành cơ sở quốc tế vào năm 1981. Hiện
nay thẻ JCB được tiêu thụ trên 109 quốc gia với mục tiêu hướng vào thị trường du lịch
và giải trí, đang trở thành loại thẻ cạnh tranh với Amex.
Năm 1966, để cạnh tranh với Bank of America – 14 ngân hàng Mỹ liên kết thành
Hiệp hội thẻ liên ngân hàng ICA và thẻ Master Charge ra đời, sau này đổi thành Master
card năm 1979, trở thành tổ chức thẻ thanh toán quốc tế lớn thứ hai sau Visa.
Hiện nay trên thế giới đã và đang lưu hành nhiều loại thẻ song có 5 loại thẻ
thanh toán được coi là tiêu biểu hơn cả.
- Thẻ Dinners Club: là loại thẻ du lịch và giải trí do tổ chức thẻ tự phát hành.
- Thẻ American Express.
- Thẻ Visa: hiện nay là loại thẻ có quy mô lớn nhất trên thế giới với số lượng 22 000
tổ chức thành viên ở hơn 200 quốc gia, số thẻ phát hành là hơn 700 triệu thẻ với 351
000 điểm rút tiền mặt và doanh số là 800 tỷ USD/năm.
- Thẻ JCB của Nhật Bản.
- Thẻ Master Card.
1.2.2. Khái niệm, cấu tạo và phân loại
1.2.2.1. Khái niệm
Thẻ thanh toán là hình thức tiền điện tử, là phương tiện thanh toán hiện đại và
tiên tiến nhất trên thế giới hiện nay; là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt do
Ngân hàng phát hành phục vụ cho khách hàng chủ yếu trong lĩnh vực thanh toán phi
mậu dịch. Thẻ cấp cho khách hàng để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ, hoặc rút tiền
mặt tại các máy rút tiền tự động hay tại các ngân hàng đại lý trong phạm vi số dư tài
khoản tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng được ký kết giữa ngân hàng và chủ thẻ.
1.2.2.2. Đặc điểm cấu tạo của thẻ.
Thẻ thanh toán được làm bằng chất liệu nhựa (Plastic) với 3 lớp ép sát, lõ thẻ là

Thẻ tín dụng
Tính chất
Thẻ ghi nợ
Thẻ trả trước
Thẻ ngân hàng
phát hành
Chủ thể phát
hành
Thẻ do tổ chức phi
Thẻ khắc chữ nổi
Thẻ băng từ
Công nghệ
sản xuất
Thẻ ngân hàng
Thẻ chip
Thẻ vàng
Hạn mức tín
dụng
Thẻ thường
Thẻ quốc tế
Phạm vi sử
dụng
Thẻ nội địa
a. Theo tính chất thanh toán của thẻ
 Thẻ ghi nợ - Debit Card
Đây là loại thẻ phát hành dựa trên tài khoản ký quỹ, tài khoản thẻ hay tài khoản
tiền gửi không kỳ hạn. Việc thanh toán được tiến hành trên cơ sở chuyển khoản từ tài
khoản của chủ thẻ sang tài khoản người bán hàng. Thẻ ghi nợ không có hạn mức tín
dụng, nó phụ thuộc vào số dư hiện hữu của chủ thẻ. Chủ thẻ được chi tiêu trong phạm
vi mình có, nhưng để gia tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm thẻ, các ngân hàng có thể

mức tín dụng của chủ thẻ được khôi phục lại như ban đầu. Đây còn gọi là tính chất
“tuần hoàn” của thẻ tín dụng.
Một số loại thẻ tín dụng phổ biến là:
- Thẻ tín dụng Master Card quốc tế do tổ chức thẻ Mastercard phát hành.
- Thẻ tín dụng Visa quốc tế do Bank of American phát hành.
- Thẻ tín dụng Amex do American Express phát hành.
- Thẻ tín dụng JCB do tổ chức thẻ của Nhật phát hành.
b. Theo chủ thể phát hành thẻ
 Thẻ do ngân hàng phát hành – Bank Card
Là loại thẻ do ngân hàng phát hành giúp khách hàng sử dụng một cách linh hoạt
số tiền trong tài khoản của mình tại ngân hàng hoặc sử dụng một số tiền do ngân hàng
cấp cho vay trên tài khoản. Đây là loại thẻ được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay, nó
không chỉ lưu hành trong phạm vi một quốc gia mà lưu hành trên phạm vi toàn cầu như
Visa, MasterCard...
 Thẻ do tổ chức phi ngân hàng phát hành – Non-bank Card
Là loại thẻ do các tổ chức du lịch và giải trí lớn, nổi tiếng trên thế giới, các tập
đoàn kinh doanh, các cửa hiệu lớn ….phát hành, như thẻ Dinner’s Club, Amex…Với
loại thẻ này, đến ngày cuối tháng chủ thẻ phải thanh toán toàn bộ số dư nợ vào tài
khoản, công ty thẻ sẽ trực tiếp thực hiện nghiệp vụ thẻ và thu phí từ chủ thẻ và
ĐVCNT.
c. Theo công nghệ sản xuất
 Thẻ khắc chữ nổi – Embossing Card
Là loại thẻ được làm dựa trên kĩ thuật khắc chữ nổi. Trên bề mặt thẻ được khắc
nổi các thông tin cần thiết. Những tấm thẻ đầu tiên đã được sản xuất theo công nghệ
này nhưng hiện nay người ta không dùng nữa vì kĩ thuật làm thẻ thô sơ, dễ bị lợi dụng
làm giả, không đảm bảo an toàn trong khi sử dụng.
 Thẻ băng từ - Magnetic Stripe
Là loại thẻ được sản xuất dựa trên kĩ thuật từ tính với một dải băng từ màu nâu
đen ở mặt sau của thẻ trên đó thông tin của thẻ và chủ thẻ được mã hóa. Thẻ này được
sử dụng phổ biến trong vòng 20 năm trở lại đây nhưng cũng có thể bị người khác lợi

e. Theo phạm vi sử dụng
 Thẻ nội địa – Domestic Card
Là loại thẻ được giới hạn sử dụng trong phạm vi quốc gia, chủ yếu cho mục đích
tiêu dùng do vậy đồng tiền được sử dụng phải là đồng bản tệ. Thẻ nội địa có hai loại:
- Local use only card: do ngân hàng hoặc tổ chức tài chính trong nước phát hành, chỉ
được dùng trong nội bộ hệ thống tổ chức đó.
- Domestic use only card: là thẻ thanh toán mang thương hiệu của tổ chức thẻ quốc tế
được phát hành chỉ để sử dụng trong nước.
 Thẻ quốc tế - International Card:
Đây là loại thẻ được chấp nhận trên toàn cầu, sử dụng ngoại tệ mạnh để thanh
toán. Thẻ quốc tế được hỗ trợ và quản lý bởi những tổ chức tài chính lớn như VISA,
Master Card, hoặc các công ty điều hành như Amex, JCB, Diner’s Club … hoạt động
theo một hệ thống thống nhất, đồng bộ.
1.2.3. Các chủ thể tham gia vào hoạt động phát hành và thanh toán thẻ
1.2.3.1. Chủ thẻ - Card holder
Chủ thẻ là những cá nhân hoặc người được uỷ quyền (nếu là thẻ do công ty uỷ
quyền sử dụng) có tên trên thẻ, được Ngân hàng phát hành thẻ cho phép sử dụng thẻ để
thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ thay tiền mặt hoặc rút tiền tại các máy rút tiền tự động
hoặc tại các Ngân hàng đại lý theo hạn mức được cấp trên thẻ. Chủ thẻ được sử dụng
thẻ theo những điều khoản trong hợp đồng đã kí kết với ngân hàng phát hành. Mỗi chủ
thẻ chính thường có thể phát hành thêm một thẻ phụ.
- Chủ thẻ chính là người đứng tên xin cấp thẻ và được Ngân hàng cấp thẻ để sử dụng.
- Chủ thẻ phụ là người được cấp thẻ theo đề nghị của chủ thẻ chính.
- Chủ thẻ chính và phụ cùng chi tiêu chung một tài khoản.
Chủ thể phụ cũng có trách nhiệm thanh toán các khoản phát sinh trong kì nhưng
chủ thẻ chính là người có trách nhiệm thanh toán cuối cùng với ngân hàng.
 Quyền hạn:
- Chủ thẻ sử dụng thẻ để thanh toán hàng hoá, dịch vụ tại các ĐVCNT, ứng tiền tại
các điểm ứng tiền mặt thuộc hệ thống ngân hàng, thực hiện các giao dịch tại các
máy rút tiền tự động ATM

- Thanh toán đầy đủ kịp thời cho NHTTT và CSCNT đối với các giao dịch theo đúng
hợp đồng, hướng dẫn họ thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ trong thanh toán thẻ
đảm bảo an toàn cho khách hàng và ngân hàng.
- Giải quyết thấu đáo các thắc mắc của khách hàng
- Trách nhiệm khác theo hợp đồng sử dụng và thanh toán thẻ.
1.2.3.3. Ngân hàng thanh toán thẻ
Ngân hàng thanh toán thẻ là ngân hàng chấp nhận các loại thẻ như một phương
tiện thanh toán thông qua việc kí kết hợp đồng chấp nhận thẻ với các điểm cung ứng
hàng hoá, dịch vụ trên địa bàn.
Trong hợp đồng chấp nhận thẻ kí với các đơn vị cung ứng hàng hoá, dịch vụ,
ngân hàng thanh toán thẻ cam kết:
- Chấp nhận các đơn vị này vào hệ thống thanh toán thẻ của ngân hàng.
- Cung cấp các thiết bị đọc thẻ tự động cho các đơn vị này kèm theo những hướng
dẫn sử dụng hoặc chương trình đào tạo nhân viên, cách thức vận hành cùng với dịch
vụ bảo trì, bảo dương đi kèm trong suốt thời gian hoạt động.
- Quản lý và xử lý những giao dịch có sử dụng thẻ tại những đơn vị này
Khi tham gia thanh toán thẻ, NHTTT nhận được phí chiết khấu, đồng thời cung
cấp các dịch vụ đại lý khác như thu chi, xử lý tổng kết, giải quyết khiếu nại, thắc mắc
cho các CSCNT.
 Quyền hạn:
- Yêu cầu NHPH thanh toán đầy đủ, kịp thời đối với các giao dịch thẻ được thực hiện
theo đúng hợp đồng sử dụng thẻ.
- Yêu cầu CSCNT hoàn trả lại tiền đối với các giao dịch thực hiện không đúng hợp
đồng thanh toán thẻ, thu giữ thẻ không hợp lệ
- Yêu cầu CSCNT cung cấp các thông tin cần thiết liên quan đến các giao dịch thẻ
của chủ thẻ tại CSCNT.
- Các quyền khác theo hợp đồng thanh toán thẻ.
1.2.3.4. Đơn vị/cơ sở chấp nhận thẻ.
Đơn vị/cơ sở chấp nhận thẻ là các đơn vị cung ứng hàng hoá, dịch vụ kí kết hợp
đồng chấp nhận thẻ như một phương tiện thanh toán. Để trở thành CSCNT đối với một

Ngân hàng Nhà nước (NHNN): là cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tài
chính ngân hàng. NHNN có nhiệm vụ phải đưa ra các văn bản pháp quy có liên quan,
tiếp nhận hồ sơ, xem xét và cho phép các NHTM được phát hành thẻ, kiểm tra giám sát
hoạt động của các Ngân hàng, tạo sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường thẻ thanh
toán.
Hiệp hội các Ngân hàng thanh toán thẻ: là tổ chức do các Ngân hàng phát hành
thẻ và Ngân hàng thanh toán thẻ thành lập để hỗ trợ cho các ngân hàng thành viên phát
triển nghiệp vụ thẻ, xúc tiến quan hệ hợp tác liên kết giữa các ngân hàng thành viên với
nhau và giữa các ngân hàng thành viên với các Tổ chức thẻ Quốc tế để phát triển hoạt
động thẻ.
1.2.4. Vai trò và lợi ích mà thẻ - dịch vụ thẻ mang lại
1.2.4.1. Đối với chủ thẻ
a. An toàn và được bảo vệ
Thẻ mang tính chất như một chiếc “ví điện tử”, dùng để chi trả thay cho tiền
mặt. Mỗi thẻ có mã riêng, được chế tạo dựa trên kĩ thuật công nghệ hiện đại, tinh vi, và
khó làm giả nên tính an toàn của thẻ rất cao. Hơn nữa, thẻ còn có chữ kí của chủ thẻ,
cho nên khi mua hàng hoá, dịch vụ, chủ thẻ phải kí vào hoá đơn thanh toán để người
bán so sánh với chữ kí mẫu. Điều này cùng với các thông tin được mã hoá trên thẻ tạo
nên hàng rào chắn trước nguy cơ bị kẻ gian lợi dụng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status