GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DNNQD TẠI NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH HOÀN KIẾM - Pdf 75

Chuyên đề tốt nghiệp
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DNNQD TẠI
NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH
HOÀN KIẾM.
3.1. Định hướng phát triển trong hoạt động TD đối với NH TMCP Kỹ Thương
Việt Nam
Ngân hàng Kỹ thương và chi nhánh Hoàn Kiếm nói riêng đang hướng tới các
loại doanh nghiệp:
 Các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ có hoạt động xuất nhập khẩu
 Doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngòai
 Tổng công ty 90,91 và các Công ty tài chính thuộc tổng công ty này.
 DNNN nhỏ và vừa đã thực hiện cổ phần hóa
 DN nhỏ và vừa hoạt động hiểu quả có tổng doanh thu từ 0,5 đến 100 tỷ, VCSH=< 30
tỷ.
3.2. Giải pháp
3.2.1 Tăng cường hoạt động huy động vốn
Nguồn vốn là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc mở rộng tín dụng.
Ngân hàng chỉ có thể mở rộng tín dụng khi có nguồn vốn đáp ứng đủ cho nhu cầu tín
dụng của các khách hàng.
3.2.2 Đa dạng hóa hình thức đảm bảo tiền vay
Tài sản đảm bảo đã trở thành một trở ngại lớn nhất cho các DNNQD trong
việc tiếp cận nguồn vốn ngân hàng. Tuy rằng theo nghị định 178/1999/NĐ- CP và
thông tư 06/2000/TT-NHNN hướng dẫn thi hành nghị định này thì tổ chức tín
dụng có thể chủ động trong việc cho vay có tài sản đảm bảo và không có tài sản
đảm bảo, song số DNNQD được lựa chọn để cho vay không có tài sản đảm bảo là
rất ít. Đó cũng là điều hợp lý khi tổ chức tín dụng phải lựa chọn giữa DNNQD và
doanh nghiệp nhà nước để phân chia số dư nợ cho vay không có tài sản đảm bảo
1
Nguyễn Hoàng Phương VBII - 3H
1
Chuyên đề tốt nghiệp

2
Chuyên đề tốt nghiệp
toàn hơn với vốn vay của mình bởi không phải doanh nghiệp quốc doanh nào làm ăn
cũng có lãi.
- Với các DNNQD lần đầu tiên có quan hệ Ngân hàng,mà Ngân hàng không
nắm rõ các thông tin về quan hệ vay mượn trước kia của doanh nghiệp (có thể do
doanh nghiệp mới thành lập, chưa có quan hệ với bất cứ ngân hàng nào), cũng như
tình hình sản xuất kinh doanh thì việc đảm bảo vốn vay bằng tài sản là cần thiết.
Song điều mà Chi nhánh nên chú ý là chú trọng phương án sản xuất kinh doanh có
khả thi hay không, và đổi mới phương pháp định giá tài sản, coi giá trị của tài sản chỉ
là một yếu tố tác động chứ không phải quyết định mức cho vay, và nên hạn chế tối đa
việc cho vay với thời hạn nhỏ hơn thời hạn cần thiết của phương án khả thi.
3.2.3. Thực hiện việc liên kết đồng bộ và có hệ thống giữa các ngân hàng
thương mại với nhau.
Việc làm này đem đến nhiều lợi ích cho các ngân hàng, cụ thể :
• Các ngân hàng có được những thông tin đầy đủ về khách hàng, có được đánh giá,
chấm điểm khách hàng đúng đắn và chuẩn xác hơn.
• Ngăn ngừa các âm mưu bất chính của khách hàng như việc vay ngân hàng này để trả
nợ ngân hàng khác…
• Có điều kiện trao đổi, học tập kinh nghiệm trong hệ thống các ngân hàng thương mại
• Tạo tiềm lực cạnh tranh cho các ngân hàng trong nước trước sự xâm nhập của các
ngân hàng nước ngoài vốn có ưu thế về cả vốn lẫn trình độ
• Tạo ra một sự thống nhất trong hệ thống ngân hàng giảm bớt những biến động trên
thị trường tài chính, tiền tệ.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới hiện nay,tổng vốn điều lệ của các
ngân hàng thương mại nhà nước hiện mới đạt trên 21.000 tỷ đồng, dư nợ tín dụng
mới đạt xấp xỉ 55% GDP, thấp hơn nhiều so với mức trên 80% của các nước trong
khu vực. Bình quân, mức vốn tự có của các ngân hàng thương mại nhà nước khoảng
từ 200 đến 250 triệu USD, chỉ bằng một ngân hàng cỡ trung bình trong khu vực, còn
3

Nguyễn Hoàng Phương VBII - 3H
4
Chuyên đề tốt nghiệp
có thể đào tạo bằng cách cho những cán bộ có kinh nghiệm trực tiếp chỉ bảo, hướng
dẫn những cán bộ mới trong công việc, cách nhận biết và hạn chế những rủi ro.
3.2.5 Lựa chọn phương thức cho vay phù hợp đối với từng nhu cầu của
khách hàng doanh nghiệp.
Đối với khách hàng cá nhân nhu cầu vay không thường xuyên, thường chỉ
phát sinh một vài giao dịch do vậy, khách hàng cá nhân được được cho vay theo
món. Đối với doanh nghiệp nhu cầu vốn là thường xuyên và việc áp dụng một
phương thức cho vay hiệu quả và phù hợp với tình hình của doanh nghiệp là cần
thiết. Hiện nay có rất nhiều phương pháp cho vay khác nhau mà các ngân hàng trên
thế giới đang áp dụng nhưng chủ yếu vẫn là:
(1) cho vay theo dòng tiền: thường cho vay đầu tư vào tài sản cố định hoặc
đầu tư dài hạn khác. Khả năng hoàn trả nợ của khách hàng dựa vào dòng tiền mà
doanh nghiệp có được trong tương lai chứ không phải là thời điểm phân tích, đối với
nhu cầu thời gian trả nợ dài nên cần tiến hành dự báo dòng tiền trong tương lai của
doanh nghiệp căn cứ vào các số liệu có được trong quá khứ, kế hoạch kinh doanh của
khách hàng trong tương lai. Dòng tiền trả nợ chính của doanh nghiệp chính là dòng
tiền có được từ hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp. Việc cho vay theo
dòng tiền cũng tránh được rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải đối với nhiều khách
hàng hiện nay đó là trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp thể hiện khách hàng kinh
doanh có lãi nhưng khi phân tích dòng tiền của doanh nghiệp thì doanh nghiệp không
đáp ứng được nhu cầu trả nợ.
(2) cho vay theo chu kỳ chuyển đổi tài sản: cho vay ngắn hạn phục vụ hoạt
động sản xuất kinh doanh, cho vay các nhu cầu mùa vụ, cho vay các công ty mới
thành lập. Đối với hình thức cho vay này ngân hàng có thể gặp rủi ro khi chu kỳ
chuyển đổi tài sản của doanh nghiệp bị phá vỡ do gặp rủi ro về cung, cầu, sản xuất,
thu nợ và ngân hàng không lượng hoá được khi nào doanh nghiệp có thể thu được
nợ. Ngân hàng có thể kiểm soát được rủi ro bằng cách sử dụng hạn mức tín dụng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status