Thị tr ờng chứng khoán Việt Nam, nhìn lại những b ớc đi ban đầu
Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) đầu tiên của Việt Nam tại
thành phố Hồ Chí Minh đã đợc khai trơng và bắt đầu hoạt động vào cuối tháng
7/2000. Đây chính là kết quả của những chủ trơng đúng đắn và quyết tâm cao của
Đảng và nhà nớc, là kết quả của quá trình chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho
việc thành lập thị trờng của uỷ ban chứng khoán nhà nớc (UBCKNN) với sự phối
hợp đầy trách nhiệm của các bộ các nghành, các địa phơng và các doanh nghiệp,
cùng sự giúp đỡ nhiệt tình, hiệu quả của bạn bè quốc tế. Có thể đánh giá rằng việc
khai trơng hoạt động của TTGDCK TP.HCM chính là sự kiện quan trọng đánh dấu
điểm khởi đầu cho quá trình phát triển ngành chứng khoán non trẻ của Việt Nam
với các ý nghĩa lớn lao về kinh tế cũng nh chính trị xã hội của đất nớc.
Qua sáu tháng hoạt động, mặc dù số lợng chứng khoán niên yết cha nhiều,
khối lợng chứng khoán qua các phiên giao dịch cha lớn, song kết quả ban đầu là
rất quan trọng, khẳng định vị trí và vai trò của TTGDCK trong hệ thống tài chính.
Thị trờng chứng khoán Việt Nam mở cửa trong giai đoạn hiện nay cũng có những
khó khăn nhất định, khuôn khổ hoạt động và phạm vi còn nhỏ bé, song cũng hứa
hẹn một triển vọng trong tơng lai, mở đờng cho một kênh huy động vốn trung và
dài hạn mới cho nền kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nớc
-Đối với nền kinh tế quốc dân, thị trờng chứng khoán tạo điều kiện cung
cấp cho nền kinh tế nguồn vốn có thời hạn dài nhằm đáp ứng nhu cầu đầu t phát
triển, đồng thời định hớng việc phân bổ nguồn vốn sẵn có vào nhu cầu sử dụng
cần thiết cho nền kinh tế, nhờ vậy góp phần điều hoà, phân phối nguồn vốn trong
nền kinh tế đợc tốt hơn.
-Đối với chính phủ, do thu hút đợc nguồn vốn lớn của toàn nền kinh tế qua
việc phát hành trái phiếu, thị trờng chứng khoán giúp chính phủ giả quyết đợc các
vấn đề thiếu hụt ngân sách, có thêm vốn để thực hiện các dự án xây dựng cơ sở hạ
tầng mà không phải phát hành thêm tiền cho chi tiêu của ngân sách nhà nớc.
-Các doanh nghiệp có thể đầu t trên thị trờng chứng khoán; các chứng
khoán đầu t là một tài sản kinh doanh và có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt
khi cần thiết thông qua thị trờng chứng khoán .
lập đợc bộ khung cho loại hình thị trờng này một cách có tổ chức. Không những
thế nhìn chung oạt động của nó khá suôn sẻ. Trong điều hành thể hiện đợc tính
nhanh nhạy (bằng chứng về việc này là việc quy định giá trần và khống chế biên
độ dao động. Thành tựu này rõ ràng là có sự cố gắng vợt bậc của UBCKNN. Sự ra
đời của TTGDCK đã tạo nên khu vực thị trờng chứng khoán có tổ chức, thị trờng
này đã làm tác động tích cực đến khu vực "thị trờng tự do" cả về giá cả lẫn về việc
làm làm cho thị trờng này sôi động hơn lên, tạo ra tâm lý đầu t trong công chúng.
Về lý thuyết nó đặt những viên gạch đầu tiên cho việc mở ra một kênh mới thu
hút tiền trong dân c vào thị trờng vốn.
Bên cạnh những mặt đạt đợc TTCK Việt Nam cũng đã bộc lộ một số yếu
kém sau: chủng loại hàng hoá còn nghèo nàn, khối lợng hàng hóa còn quá bé, số
công ty cổ phần còn quá ít, quy mô nhỏ, nhà nớc còn nắm nhiều cổ phần cha trải
rộng ra công chúng; và nhất là doanh nghiệp vẫn còn cha quen với một "luật chơi"
cực kỳ quan trọng củaTTCK đó là: phải công khai hoá thông tin. Rõ ràng những
điều này đã khiến cho việc khai trơng TTCK tuy đánh dấu một sự kiện có ý nghĩa
trong năm 2000 nhng cha phải đã có tác động sâu rộng trong đời sống kinh tế xã
hội. Điều đáng ghi nhận nữa là sự thận trọng của UBCKNN và những quan chức
điều hành TTGDCK đã thành công trong việc kiềm chế cơn sốt giá chứng khoán
trong những tuần đầu tiên bằng biện pháp hạ biên độ giá từ (+/-)5% xuống còn
(+/-) 2%. Điều này có thể cho phép chúng ta tin tởng vào khả năng quản lý nhà n-
ớc đối với TTCK, một thị trờng hãy còn mới lạ, một ngành kinh tế hãy còn non trẻ
tại Việt Nam. Tuy nhiên nó cũng là "con dao hai lỡi", thực tế cho thấy biên độ giá
đợc quy định là (+/-) 2% dờng nh ngày một kìm hãm sự năng động của thị trờng.
Vô hình chung chúng ta đang tự "gọt bớt gót chân" để đi vừa giày. Sự kìm hãm,
dù hợp pháp nhng không hợp lý, nếu kéo dài sẽ khiến thị trờng vừa buồn tẻ, vừa
thụ động.
Có thể nói sự bất ổn của TTCK phát sinh từ ba yếu tố cơ bản sau:
1. Khan hiếm hàng hoá trên thị tr ờng chứng khoán :
Mặc dù vừa có thêm công ty cổ phần chế biến hàng xuất khẩu Long
An(Lafooco) đợc cấp giấy phép tham gia vào việc niên yết cổ phiếu trên thị trờng
lên đến 1,1 tỷ đồng so với 450 triệu đồng của phiên giao dịch trớc. Các phiên giao
dịch tiếp theo chỉ có một số ít biến động nhỏ còn nhìn chung giá cổ phiếu liên tục
tăng mạnh, đến phiên giao dịch thứ 80 chỉ số VN Index đã đạt 260,15 tăng hơn
150 điểm , gấp 2,5 lần so với giá trị ban đầu của nó.
Trong những năm vừa qua, trái phiếu chính phủ đợc phát hành chủ yếu qua
hệ thống kho bạc nhà nớc và đấu thầu qua ngân hàng nhà nớc. Từ tháng 7/00 sau
khi chính phủ ban hành nghị định 01/2000/NĐ-CP về quy chế phát hành trái
phiếu chính phủ. Bộ tài chính đã cho thực hiện hai phơng thức phát hành mới: đấu
thầu qua TTGDCK và bảo lãnh phát hành.
Phát hành qua hệ thống kho bạc nhà nớc đợc thực hiện từ năm 1991. Mặc
dù đã có những cải tiến và thay đổi đáng kể về mặt nội dung, hình thức trái phiếu
và phơng thức quản lý song các loại trái phiếu kho bạc phát hành trong thơì gian
vừa qua về cơ bản vẫn cha đáp ứng đợc yêu cầu giao dịch và hoạt động của TTCK.
Nói cách khác khi TTCK cha phát triển, cơ sở vật chất và kỹ thuật lạc hậu thì cha
có điều kiện để thay đổi một cách cơ bản cơ chế phát hành, quản lý và giao dịch
trái phiếu. Điều này đợc chứng minh khá rõ nét từ thực tế của năm 1995: Xuất
phát từ yêu cầu thúc đẩy sự ra đời của TTCK, Kho bạc nhà nớc đã phát hành loại
trái phiếu có in sẵn mệnh giá, không ghi tên ngời mua, đợc tự do mua bán, chuyển
nhợng và thanh toán vãng lai trong cả nớc. Sau một thời gian phát hành, khi đã
cảm thấy có những dấu hiệu thiếu an toàn trong quản lý, Kho bạc nhà nớc TW đã
xin phép bộ tài chính cho dừng phát hành, đồng thời thông báo cho các đơn vị kho
bạc Nhà nớc cấp tỉnh mới đợc phép thanh toán vãng lai, vì lúc bấy giờ các đơn vị
kho bạc cấp huyện cha đợc trang bị máy tính, cha thể nối mạng với TW theo dõi
thanh toán trái phiếu vãng lai. Năm 1999, Nhà nớc phát hành công trái XDTQ, sử
dụng loại chứng chỉ in sẵn mệnh giá và không ghi tên ngời mua để tạo điều kiện
thuận lợi cho việc mua bán, giao dịch và tự do chuyển nhợng công trái. Tuy vậy