Hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội
I. Quan điểm của tổ chức lao động quốc tế (ILO)
1.1 Khái niệm và đặc điểm của hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội.
Chính sách BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của mỗi
quốc gia. Nó là những quy định chung, rất khái quát về cả đối tượng, phạm vi, các
mối quan hệ và những giải pháp lớn nhằm đạt được mục tiêu chung đã đề ra đối
với BHXH. Việc ban hành chính sách BHXH phải dựa vào điều kiện kinh tế- xã
hội của đất nước trong từng thời kỳ và xu hướng vận động khách quan của toàn bộ
nền kinh tế - xã hội. Chính sách này có thể biểu hiện dưới dạng các văn bản pháp
luật, Hiến pháp.vv…song lại rất khó thực hiện nếu không được cụ thể hoá và
không thông qua các chế độ BHXH.
Chế độ BHXH là sự cụ thể hoá chính sách BHXH, là hệ thống các quy định
cụ thể và chi tiết, là sự bố trí, xắp xếp các phương tiện để thực hiện BHXH đối với
người lao động. Nói cách khác, đó là một hệ thống các quy định được pháp luật
hoá về đối tượng hưởng, nghĩa vụ và mước đóng góp cho từng trường hợp BHXH
cụ thể. Chế độ BHXH thường được biểu hiện dưới dạng các văn bản pháp luật và
dưới luật, các thông tư , điều lệ.vv…Tuy nhiên , dù có cụ thể đến đâu thì các chế
độ BHXH cũng khó có thể bao hàm được đầy đủ mọi chi tiết trong quá trình thực
hiện chính sách BHXH. Vì vậy, khi thực hiện mỗi chế độ thường phải nắm vững
những vấn đề mang tính cốt lõi của chính sách BHXH, để đảm bảo tính đúng đắn
và nhất quán trong toàn bộ hệ thống các chế độ BHXH.
Hệ thống các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
+ Các chế độ được xây dựng theo luật pháp mỗi nước.
+ Hệ thống các chế độ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính.
+ Mỗi chế độ được chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các
bên tham gia BHXH.
+ Phần lớn các chế độ là chi trả định kỳ.
+ Đồng tiền được sử dụng làm phương tiện chi trả và thanh quyết toán.
+ Chi trả BHXH như là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.
+ Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ được đầu tư
có hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.
giảm hoặc mất khả năng lao động tạm thời đối với những trường hợp nhẹ, hoặc
mất khả năng lao động vĩnh viễn, chết người đối với những trường hợp nặng.
Nguyên nhân dẫn đến những rủi ro bất ngờ đối với người lao động có thể bắt
nguồn từ nguyên nhân chủ quan và khách quan của người lao động hoặc người
sử dụng lao động gây ra. Ví dụ: tai nạn lao động có thể do nguyên nhân chủ
quan của người lao động không tôn trọng kỷ luật lao động, an toàn lao động để
xảy ra tai nạn lao động; cũng có thể do nguyên nhân khách quan như nồi hơi bị
nổ, sự cố về điện, máy móc…gây ra tai nạn; cũng có thể do công tác an toàn lao
động, vệ sinh công nghiệp, phòng chống độc hại không tốt dẫn đến người lao
động bị ốm đau, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp…Như vậy, trong các
nguyên nhân kể trên, chủ yếu là do nguyên nhân khách quan từ phía người sử
dụng lao động gây nên. Hậu quả khi xảy ra các rủi ro đó người lao động không
những bị mất nguồn thu nhập từ lao động mà còn phải tăng thêm chi phí cho
việc chăm sóc y tế, bị nặng thì mang tàn phế suốt đời hoặc chết người. Còn đối
với người sử dụng lao động, khi người lao động bị rủi ro không những ảnh
hưởng đến kế hoạch, kết quả sản xuất kinh doanh mà còn phải bỏ ra nhiều chi
phí để khắc phục hậu quả đột xuất do các rủi ro đó gây ra, làm cho tình hình tài
chính của đơn vị càng khó khăn hơn.
Để có nguồn thu nhập ổn định cuộc sống cho người lao động trong khi bị
ốm đau, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, ổn định kinh tế, tài chính cho
người sử dụng lao động tất yếu phải có quỹ bảo hiểm, người sử dụng lao động
phải có trách nhiệm trích nộp phần thu nhập để tạo lập quỹ bảo hiểm tại đơn vị
hoặc đóng góp vào quỹ BHXH cho các mục đích trên.
Thông thường, để ổn định kinh tế cho doanh nghiệp , phí bảo hiểm để tạo
lập quỹ bảo hiểm cho các rủi ro này được nhà nước cho phép hạch toán vào giá
thành sản phẩm để người tiêu dùng trong xã hội gánh chịu. Tính chất độc hại,
không an toàn trong sản xuất kinh doanh gây ra ốm đau, tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp cho người lao động xảy ra khác nhau ở các ngành, các doanh
nghiệp. Nhưng do nhu cầu các sản phẩm phục vụ sản xuất và tiêu dùng mang
tính chất xã hội, vì thế mọi doanh nghiệp, mọi thành viên xã hội đều phải có
hoàn trả, lợi ích hưởng thụ tương ứng với nghĩa vụ đóng góp.
- Phí bảo hiểm phải nộp cho các chế độ này cũng được cơ cấu và tiền
lương để hạch toán vào giá thành sản phẩm tạo nguồn tài chính cho người sử
dụng lao động đóng phí bảo hiểm.
- Quỹ bảo hiểm của các chế độ này phải được cân đối trong vòng nhiều
năm, vì vậy nó chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như: Lạm phát, sự biến
động của nền kinh tế và xã hội .v.v…