THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC
2.1 Vài nét về tỉnh Bình Phước
Bình Phước là tỉnh ở Miền Đông Nam Bộ, nằm trong Vùng Kinh tế trọng điểm
phía Nam có 240Km đường biên giới với Vương quốc Campuchia, là cửa ngõ và là cầu
nối của vùng với Tây nguyên và nước bạn Campuchia. Phía Bắc giáp tỉnh Đắk Nông
(Tây nguyên), phía Nam giáp tỉnh Bình Dương, phía Đông giáp tỉnh Lâm Đồng (Tây
nguyên) và Đồng Nai, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và Vương quốc Campuchia. Bình
Phước có hơn 840 ngàn dân, có 07 huyện và 01 thị xã; trung tâm tỉnh lỵ nằm ở thị xã
Đồng Xoài cách thành phố Hồ Chí Minh 110Km
Là một tỉnh nằm trong vùng Trung du miền núi, vùng chuyển tiếp của đồng bằng
lên cao nguyên, có nhiều sông suối, gềnh thác, hồ đập, cho nên ở đây có quần thể thực
vật khá phong phú và có nhiều phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, tạo điều kiện phát triển
du lịch sinh thái. Bên cạnh đó còn có nhiều địa danh lịch sử nổi tiếng: căn cứ Cách
mạng qua 2 cuộc kháng chiến, nhiều danh lam thắng cảnh đẹp như tranh: trảng cỏ Bù
Lạch (huyện Bù Đăng), Vườn Quốc gia Bù Gia Mập, Núi Bà Rá – Thác Mơ (huyện
Phước Long) và các di tích lịch sử nổi tiếng: Nhà Giao tế - Thủ phủ của Chính phủ Lâm
thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Căn cứ Bộ chỉ huy Miền ở Tà Thiết (huyện Lộc
Ninh), Sóc Bom Bo (huyện Bù Đăng)…
Để làm căn cứ cho việc xây dựng kế hoạch hàng năm, UBND tỉnh đã phê duyệt
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 với mục tiêu phát triển như sau:
2.1.1 Mục tiêu tổng quát:
Nâng cao khả năng thích ứng nhanh nhạy trong nền kinh tế thị trường. Đảm bảo
tốc độ kinh tế phát triển nhanh và bền vững; cải thiện rõ rệt hệ thống hạ tầng kinh tế -
xã hội; phát huy các lợi thế của tỉnh và khai thác mọi nguồn lực trong, ngoài tỉnh để
phát triển các ngành kinh tế. Mở rộng thị trường, khai thác có hiệu quả quan hệ kinh tế
đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
của nhân dân; bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc; tập trung xóa đói giảm
nghèo, giải quyết việc làm, giảm tệ nạn xã hội. Đảm bảo quốc phòng, an ninh vững
mạnh; giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.
2.1.2 Mục tiêu cụ thể:
năm 2007 nên thị phần còn nhỏ hơn rất nhiều so với các NHTM nhà nước nhưng với sự
nhạy bén trong cạnh tranh nên thị phần, uy tín của các NH này ngày càng lớn mạnh.
Với sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các NHTM nên số lượng các chi nhánh và
phòng giao dịch của các NHTM hoạt động trên địa bàn phân bổ rộng khắp các khu vực
thành thị, khu vực đông dân cư trong tỉnh là một điều kiện thuận lợi cho các DN, cá
nhân thuận lợi tiếp cận các dịch vụ của ngân hàng.
2.2.1 Tình hình huy động vốn
Nghiệp vụ huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng
nhưng nó là nghiệp vụ rất quan trọng. Nó góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân hàng
thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác. Mặt khác, thông qua nghiệp vụ này các
NHTM đo lường được uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với NH.
2.2.1.1 Phân tích tình hình huy động vốn
Với các hình thức huy động đa dạng, kết hợp với nhiều kỳ hạn gửi tiền linh hoạt
theo tuần, tháng, năm cùng với các mức lãi suất khác nhau và kèm theo nhiều cách ưu
đãi dành cho khách hàng để thu hút tiền gửi từ nền kinh tế. Cụ thể, thực trạng tình hình
huy động vốn của các NHTM trên địa bàn Bình Phước từ 2007 đến quý 1 năm 2009
như sau:
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của các NHTM trên địa bàn
Đơn vị tính: tỷ đồng
Chỉ tiêu
Năm 2007 Năm 2008 Tháng 3/2009
Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ
trọng
Số tiền Tỷ
trọng
Theo thời hạn 3.835 4.368 4.261
- Không kỳ hạn -12 tháng 3.257 85% 3.640 83,3% 3.459 81%
- Từ 12 đến 60 tháng 578 15% 712 16,3% 802 19%
- Trên 60 tháng 0 0% 16 0.4% 0 0%
Theo hình thức huy động 3.835 4.368 4.261
+ Năm 2008 và quý 1 năm 2009 có cơ cấu về nguồn vốn huy động gần giống
nhau nhưng gần như đảo chiều so với cơ cấu nguồn vốn huy động năm 2007: nguồn
vốn huy động do tiền gửi tiết kiệm là chủ yếu (chiếm trên 50%) và kế đến là tiền gửi
của các tổ chức kinh tế (chiếm trên 33%), chứ tiền gửi khác chiếm một phần nhỏ
(chiếm trên 12%) Nguyên nhân trong năm 2008 Việt Nam bị lạm phát cao nên NHNN
thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ (tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, bắt buộc các NHTM
mua tín phiếu bắt buộc, tăng lãi suất cơ bản …) nên hầu hết các NHTM gặp rủi ro thanh
khoản, dẫn đến cuộc chạy đưa lãi suất huy động không theo quy luật là lãi suất huy
động ngắn hạn lớn hơn lãi suất huy động trung, dài hạn. Do đó nguồn vốn nhàn rỗi chảy
vào NHTM tăng dưới hình thức gủi tiết kiệm ở kỳ hạn ngắn hạn tăng lên trong năm
2008 và ba tháng đầu năm 2009.
- Nếu xét theo hình thức huy động vốn mà có xét đến loại đồng tiền huy
động:
Biểu 2.3: Theo hình thức huy động vốn mà có xét đến loại đồng tiền
+ Năm 2007: nguồn vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm chiếm 37,4%, trong đó
chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm bằng đồng nội tệ (chiếm 36,6%) còn tiền gửi tiết kiệm
bằng ngoại tệ, vàng chỉ chiếm một phần nhỏ là 0,8%. Tiền gửi của các tổ chức kinh tế
chiếm 57% vốn huy động, trong đó là tiền gửi của các tổ chức kinh tế bằng đồng nội tệ
(chiếm 28,6%) cũng tương đương tiền gửi bằng ngoại tệ, vàng chiếm 28,4%. Tiền gửi
khác chiếm chiếm 5,6%, trong đó chủ yếu là tiền gửi khác bằng đồng nội tệ (chiếm
4,4%) còn tiền gửi khác bằng ngoại tệ, vàng chỉ chiếm một phần nhỏ là 1,2%. Vậy tổng
nguồn vốn huy động theo đồng nội tệ chiếm 69,6% và theo ngoại tệ, vàng chiếm
30,4%. Nguyên nhân là nếu gửi tiết kiệm thì chọn hình thức gửi tiết kiệm bằng nội tệ
vẫn lợi hơn gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ, còn nếu các tổ chức kinh tế gửi tiền thì tùy vào
nhu cầu sử dụng vốn mà các tổ chức kinh tế này có thể gửi bằng nội tệ hay ngoại tệ vì
trong năm 2007 tình hình ngoại tệ khan hiếm nên các tổ chức kinh tế gửi tiền bằng
ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu kinh doanh của mình.
+ Năm 2008 và quý 1 năm 2009 có cơ cấu về nguồn vốn huy động chia theo loại
tiền tệ cũng gần giống nhau nhưng gần như đảo chiều so với cơ cấu nguồn vốn huy
động năm 2007: nguồn vốn huy động do do tiền gửi tiết kiệm là chủ yếu (chiếm trên
tiền gửi, đa dạng hóa sản phẩm tiền gửi theo số dư, đa dạng hóa sản phẩm tiết kiệm
theo số dư) và cũng đã cố gắng tối đa hóa sự tiện lợi cho khách hàng như đã mở rộng
mạng lưới chi nhánh để đưa dịch vụ của ngân hàng đến các vùng nông thôn, vùng sâu,
vùng xa…
Những tồn tại và khó khăn trong công tác huy động vốn của các NHTM trên
địa bàn tỉnh Bình Phước:
- Thị phần huy động vốn của các NHTM ngày càng có khả năng bị thu hẹp: nền
kinh tế Việt Nam sau khi gia nhập WTO đã có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích
cực, trong đó thị trường tài chính Việt Nam ngày càng phát triển phong phú, đa dạng
(hình thành đầy đủ các loại hình thị trường: thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán,
thị trường bảo hiểm và các định chế tài chính phi ngân hàng…) theo hướng hoàn thiện
và hòa nhập với thị trường tài chính thế giới làm cho nhà đầu tư có nhiều kênh đầu tư
để lựa chọn và đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm giảm thiểu rủi ro và đạt lợi nhuận
cao nhất. Chính vì lẽ đó mà nguồn vốn nhàn rỗi chảy vào NH cũng bị chi phối đáng kể.
- Trong thời gian qua, đặc biệt là năm 2008, có sự chạy đua huy động vốn (cạnh
tranh không lành mạnh) giữa các NHTM: chạy đua tăng lãi suất huy động vốn dẫn đến
lãi suất đầu ra tăng gây khó khăn cho nền kinh tế và từ đó làm gia tăng rủi ro tiềm ẩn
trong hoạt động tín dụng kéo theo thu nhập trong hoạt động tín dụng cũng bị giảm đáng
kể.
- Cơ cấu nguồn vốn huy động của các NHTM chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn.
nên nó không tạo ra sự ổn định, gây khó khăn cho các NH khi muốn cho vay trung, dài
hạn. Khối lượng khách hàng này rất lớn vì đa số các DNV&N thiếu vốn, lạc hậu về
công nghệ, máy móc thiết bị nên rất muốn vay vốn trung, dài hạn để đầu tư phát triển
máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại ….
- Tỷ trọng huy động ngoại tệ còn thấp so với tổng nguồn vốn huy động. Điều
này đã gây khó khăn cho NHTM trong việc đẩy mạnh cho vay ngoại tệ để tài trợ nhập
khẩu.
2.2.2 Tình hình sử dụng vốn
Bình Phước là một tỉnh tuy còn nghèo nhưng có nhiều tiềm năng kinh tế của
khu vực Đông Nam Bộ nói riêng và là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nhưng để
chiếm 21,8% tổng doanh số cấp tín dụng.
Qua đó cho thấy doanh số cấp tín dụng năm sau cao hơn năm trước và tăng dần
về tỷ trọng cho vay ngắn hạn. Điều này hoàn toàn phù hợp với điều kiện phát triển kinh
tế của tỉnh Bình Phước nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung. Bình Phước là tỉnh
mới thành lập được 12 năm, kinh tế chưa phát triển, đời sống người dân đang còn
nghèo; loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ là chủ yếu (chiếm 95%), vốn tự có của các
doanh nghiệp này rất thấp, chủ yếu dựa vào vốn vay và các doanh nghiệp chủ yếu kinh
doanh ở lĩnh vực nông sản (cao su, cà phê, điều…) nhưng giá nông sản trong năm 2008
đã giảm mạnh do kinh tế thế giới khủng hoảng đã làm cả doanh nghiệp và nông dân lâm
vào tình trạng thiếu vốn ngắn hạn để trả lương nhân công, mua nguyên vật liệu…. Do
đó, các NHTM trên địa bàn Bình Phước đẩy mạnh cho vay ngắn hạn để tài trợ vốn cho
các DNV&N và các hộ gia đình phát triển kinh tế trang trại. Ngoài ra, các dự án lớn,
các khu công nghiệp thuộc các Chơn Thành, Bình Long, Đồng Phú đang trong giai
đoạn triển khai, chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư trong khi NHNN thực hiện chính
sách thắt chặt tiền tệ nên các NHTM tập trung thu hồi nợ trung, dài hạn và cũng thắt
chặt việc cho vay trung, dài hạn. Bởi lẽ, những món vay có thời hạn càng dài thì càng
ẩn chứa nhiều rủi ro cho nên ngân hàng có xu hướng tăng tỷ trọng cho vay ngắn hạn để
mau thu hồi vốn cho vay, quay vòng vốn nhanh đặc biệt trong điều kiện thắt chặt tiền tệ
và lãi suất có nhiều biến động như thời gian qua.
2.2.2.2 Tình hình doanh số thu nợ
Doanh số thu nợ là việc thu nợ được tiến hành theo kỳ hạn nợ đã ghi trong hợp
đồng tín dụng. Khách hàng có thể trả nợ trước hạn và phải trả nợ ngân hàng khi đến
hạn.
Bảng 2.3: Tình hình doanh số thu nợ của các NHTM trên địa bàn
Đơn vị tính: tỷ đồng
Năm
Tổng doanh số thu nợ
Ngắn hạn Trung, dài hạn Tổng cộng
Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng
2007 2.884 78,65% 783 21,35% 3.667
- Thu dịch vụ 5,3 0,7% 4,6 0,9% 3,2 1,4%
2. Tổng chi phí 693 479,6 203,4
3. Lợi nhuận trước thuế (LNTT) 90,5 55,7 25,6
(Nguồn: NHNNVN chi nhánh tỉnh Bình Phước)
Qua bảng số liệu thấy thu nhập của các NHTM chủ yếu là từ tín dụng, còn thu
nhập từ dịch vụ có tỷ trọng tăng qua các năm nhưng hầu như chưa đáng kể: năm 2007,
thu nhập từ cho vay là 778,2 tỷ đồng, chiếm 99,3%, còn thu nhập từ dịch vụ là 5,3 tỷ
đồng, chiếm 0,7%; năm 2008: thu nhập từ cho vay là 530,7 tỷ đồng, chiếm 99,1%, còn
thu nhập từ dịch vụ là 4,6 tỷ đồng, chiếm 0,9%; tháng 3/2009: thu nhập từ cho vay là
225,8 tỷ đồng, chiếm 98,6%, còn thu nhập từ dịch vụ là 3,2 tỷ đồng, chiếm 1,4%.
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của tỉnh và toàn hệ thống NH
Việt Nam, các NHTM trên địa bàn tỉnh đã đưa ra các dịch vụ NH hiện đại như dịch vụ
thanh toán thẻ, dịch vụ nhận và chi trả kiều hối, dịch vụ bảo lãnh, trả lương qua thẻ
ATM… song đến thời điểm này các NHTM thật sự chưa mặn mà đầu tư vào lĩnh vực
này vì điều kiện phát triển kinh tế Bình Phước chưa cao, trong khi vốn đầu tư để phát
triển dịch vụ lớn, thu nhập mang lại ít. Nhưng trong tương lai, các NHTM nên quan
tâm hơn nữa vào lĩnh vực này vì nó sẽ tạo ra cho NHTM chiến lược kinh doanh riêng
và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho NH và nên giảm dần sự phụ thuộc vào hoạt động tín
dụng vì hoạt động này có rủi ro rất lớn.
Lợi nhuận trước thuế năm 2008 là 55,7 tỷ đồng, giảm so với năm 2007 là 34,8 tỷ
đồng, tương ứng với mức giảm 38,5%. Nguyên nhân là do năm 2008 là năm đầy khó
khăn cho ngành NH vì nửa đầu năm 2008, các NHTM gồng mình với khó khăn thanh
khoản, với lãi suất huy động cao trong phần lớn thời gian của năm, tốc độ tăng trưởng
tín dụng thấp, tín dụng bất động sản và tiêu dùng thu hẹp, đầu tư tài chính khó khăn…
Làm lợi nhuận của nhiều ngân hàng bị ảnh hưởng nặng nề. Đây là năm đầu tiên trong
khoảng 5 năm trở lại đây nhiều ngân hàng buộc phải điều chỉnh lại mục tiêu kinh doanh
và lợi nhuận đặt ra từ đầu năm; chiến lược tăng tốc nhanh được chuyển sang thận trọng,
ổn định và yếu tố an toàn, tăng cường quản trị được đặt lên hàng đầu.
2.4 Tình hình rủi ro tín dụng của các NHTM trên địa bàn tỉnh Bình Phước
2.4.1 Tín dụng chung
tăng lãi suất cơ bản và giới hạn tăng trưởng tín dụng 30% nên hầu như các doanh
nghiệp cũng như hộ cá thể gặp khó khăn về vốn đến mức đang đứng bên bờ vực phá
sản, trước tình hình đó vào quý 4 năm 2008 NHNN công bố giảm lãi suất cơ bản và tỷ
lệ dự trữ bắt buộc cho các NHTM, các NHTM đã công bố điều chỉnh giảm lãi suất huy
động và cho vay, tập trung vốn tín dụng cho các lĩnh vực sản xuất, nông nghiệp và nông
thôn, nhất là các hộ nông dân sản xuất lúa vụ mùa Đông xuân, xuất khẩu, nhập khẩu các
mặt hàng thiết yếu, DNV&N, các dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh và kể cả các dự án
đầu tư bất động sản khả thi, có hiệu quả và có khả năng trả nợ đúng hạn.
Qua bảng 2.6 ta thấy: dư nợ cho vay trung, dài hạn có số tuyệt đối tăng dần qua
các năm: năm 2008, dư nợ cho vay trung, dài hạn là 2.354 tỷ đồng, tăng so với năm
2007 là 56 tỷ đồng, tương ứng với tốc độ tăng 2,4%; tháng 3/2009 dư nợ cho vay trung,
dài hạn là 2.405 tỷ đồng, tăng so với năm 2008 là 51 tỷ đồng, tương ứng với tốc độ tăng
2,2%. Nhưng xét tỷ trọng cho vay trung, dài hạn lại giảm dần qua các năm, cụ thể: tỷ
trọng cho vay trung, dài hạn năm 2007 là 41,4%, năm 2008 là 37,5%, tháng 3/2009 là
33,2%, nguyên nhân:
- Phần lớn nguồn vốn huy động của các NHTM là ngắn hạn, kể cả nguồn vốn
điều hòa từ NHNN nên việc sử dụng nguồn vốn cho vay trung, dài hạn của NHTM là có
hạn.
- Hầu hết các chi nhánh NHTM đều bị NH Hội sở chính ràng buộc về chỉ tiêu
cho vay trung, dài hạn, thông thường là không được vượt quá 40% vốn huy động ngắn
hạn
- Do mức độ rủi ro tỷ lệ thuận với thời hạn vay nợ của khách hàng, đặc biệt là
đối với các hộ sản xuất, kinh doanh cá thể trong lĩnh vực kinh tế trang trại, chế biến
nông sản…vì chịu ảnh hưởng lớn của thiên tai, dịch bệnh nhưng giá cả lại không ổn
định, phương án kinh doanh không tốt…nên các NHTM có xu hướng giảm dần cho vay
trung, dài vào lĩnh vực này. Trong khi tỷ lệ khách hàng này chiếm khá lớn trong nền
kinh tế của Bình Phước.
Bảng 2.6: Tỷ trọng dư nợ đối với nền kinh tế của các NHTM trên địa bàn
Đơn vị tính: tỷ đồng
Năm Dư nợ đối với nền kinh tế