GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ
CHỨNG KHOÁN TẠI PVFC
3.1. Chiến lược phát triển hoạt động đầu tư chứng khoán
Dựa trên nền tảng là chiến lược phát triển của Tập đoàn Dầu khí Quốc
gia Việt nam, với mục tiêu phải nhanh chóng xây dựng PetroVietnam trở
thành một Tập đoàn Công nghiệp - Thương mại - Tài chính Dầu khí quan
trọng, hoàn chỉnh, hoạt động trong và ngoài nước.
Tổng vốn đầu tư phát triển công nghiệp Dầu khí từ nay đến năm 2025
dự kiến 41 tỷ USD, giai đoạn từ nay đến năm 2015 khoảng 20 tỷ USD, giai
đoạn từ năm 2016 đến năm 2025 là 21 tỷ USD.
Riêng đối với hoạt động đầu tư tài chính, PV đã đặt mục tiêu Đầu tư tài
chính vào các lĩnh vực, dự án dầu khí đảm bảo nền tài chính của
PetroVietnam được cân đối, ổn định.
PVFC đã xây dựng chiến lược phát triển cho mình dựa trên quan điểm
chủ đạo:
Xây dựng và phát triển PVFC dựa trên nền tảng tài chính của Tập đoàn
Dầu khí Việt nam; Định chế tài chính của PV phải thực hiện được nhiệm vụ hòa
trộn dòng tiền tệ của PV với dòng tiền tệ quốc gia từ đó tạo ra vị thế tài chính
mới của PV trong việc thu xếp vốn cho đầu tư phát triển Tập đoàn Dầu khí.
Từng bước xây dựng PVFC thành trung tâm tài chính của Tập đoàn
Dầu khí (hoạt động như một ngân hàng đầu tư phát triển dầu khí) với nhiệm
vụ chính sau:
Thứ nhất, Tạo lập và quản trị vốn đầu tư phát triển của Tập đoàn Dầu
khí; là công cụ để thực hiện chức năng đầu tư tài chính của Tập đoàn Dầu khí.
Thứ hai, Là công cụ tài chính để hỗ trợ chính sách nhân viên của Tập
đoàn
1
Thứ ba, Thực hiện chức năng kinh doanh trên thị trường tài chính, thị
trường vốn của Tập đoàn Dầu khí Việt nam.
Riêng đối với hoạt động đầu tư chứng khoán, PVFC xác dịnh đây là sản
phẩm dịch vụ mũi nhọn, với định hướng:
lực cao cấp tại PVFC đó là thuê các chuyên gia, các tổ chức tư vấn nước
ngoài.
Bên cạnh đó, PVFC cũng cần nâng cao nguồn nhân lực hiện có bằng
việc tăng cường các khoá đào tạo trung và dài hạn tại nước ngoài. Hiện tại,
hoạt động đào tạo ngắn hạn trong và ngoài nước được PVFC triển khai tương
đối tốt, nhưng để thực sự các khoá học này chưa đáp ứng được nhu cầu cần
thay đổi về chất lượng của nguồn nhân lực.
3.2.2. Xác định rõ định hướng đầu tư, đa dạng hoá danh mục đầu tư.
Là một nhà đầu tư có tổ chức, lại là Công ty tài chính thuộc tập đoàn kinh tế lớn, việc xác định rõ ngành nghề
đầu tư và theo đuổi, quán triệt định hướng đó sẽ giúp PVFC có thể hạn chế được rủi ro, tránh phân tán nguồn lực đầu tư,
đưa hoạt động đầu tư trong toàn hệ thống được thực hiện đồng bộ và chuyên nghiệp.
Bên cạnh đó, đa dạng hóa danh mục đầu tư cũng là một biện pháp phổ biến nhằm phân tán rủi ro, việc bỏ vốn
đầu tư vào các trái phiếu, cổ phiếu có độ rủi ro khác nhau dựa trên những tỷ lệ đầu tư không giống nhau trên thị trường để
xây dựng nên một cơ cấu tài sản hợp lý nhằm hạn chế tối đa rủi ro đầu tư.…
Do đó, một trong những trọng tâm hang đầu của PVFC là xây dựng chiến lược đầu tư vừa có thể giúp thể hiện
được định hướng đầu tư nhưng vẫn có thể phân tán hóa đầu tư để giảm thiểu rủi ro. Như vậy,cần lưu ý các điểm sau:
- Xác định rõ ngành nghề cần ưu tiên đầu tư, phân định rõ nhưng ngành nghề được phép đầu tư, hạn mức đầu tư
cho mỗi ngành nghề trong từng thời kỳ.
- Phải có kế hoạch đa dạng hoá danh mục đầu tư, trong đó phân bổ tỷ lệ đầu tư cho trái phiếu, cổ phiếu ngắn hạn,
dài hạn cụ thể, đồng thời phân bổ tỷ lệ đầu tư cho toàn hệ thống. Qua đó, các đơn vị đầu tư có thể định lượng được chiến
lược đầu tư của Tổng công ty.
Muốn vậy, hoạt động đầu tư chứng khoán tại PVFC cần phải chú ý đến các vấn đề sau đây:
+ Phải cân đối giữa nguồn vốn đầu tư chứng khoán với chiến lược đầu tư của Tổng công ty. Do thị trường chứng
khoán còn non trẻ, các họat động đầu tư bị ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố tâm lý, do đó, để tránh những rủi ro dẫn đến đổ vỡ,
mất vốn, việc quản trị nguồn vốn cho hoạt động đầu tư là rất quan trọng. Chúng ta cần phải xác định hạn mức đầu tư dài
hạn dựa trên nguồn vốn huy động dài hạn, hạn mức đầu tư ngắn hạn dựa trên nguồn vốn huy động ngắn hạn. Và trong việc
điều hành, ra quyết định đầu tư, cơ cấu khoản đầu tư cần phải tuyệt đối tôn trọng hạn mức này. Có như vậy, ta mới có thể
chủ động trong hoạt động đầu tư của mình, và không chịu sức ép của thị trường.
3
+ Đối với việc lựa chọn ngành nghề đầu tư, cần có những phân tích, đánh giá cụ thể, có số liệu thống kê và có
+ Thứ hai: Tự công ty đứng ra thực hiện phòng chống rủi ro bằng cách sử dụng các công cụ CK phái
sinh như chứng quyền, chứng khế, quyền chọn, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai... đồng thời xây dựng
một đội ngũ nhân viên của công ty có khả năng lập và thực hiện hàng rào chống rủi ro. Vấn đề này đòi hỏi
nhân viên công ty vừa phải thiết kế đúng lại vừa phải thực hiện tốt chương trình phòng chống rủi ro bởi quản
lý rủi ro cần phải được theo dõi thường xuyên và điều chỉnh kịp thời với sự biến đổi của thời gian.
4
- Bước 5: Lựa chọn công cụ và quản lý rủi ro thích hợp. Đây là bước mấu chốt cuối cùng trong việc
xây dựng chiến lược quản lý rủi ro. Trong bước này nhà quản lý phải chọn một giải pháp cụ thể. Chẳng hạn,
đối với các công cụ trên thị trường hối đoái, người ta có thể sử dụng hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền
chọn, swap... làm công cụ phòng chống rủi ro, công cụ này có ưu điểm là có tính thanh khoản cao và có hiệu
quả về giá.
Bên cạnh việc quản lý rủi ro, để quá trình đầu tư được thành công đòi
hỏi PVFC thực hiện tốt quá trình kiểm soát rủi ro các khoản đầu tư. Vẫn còn
rất nhiều rủi ro tiềm ẩn trên thị trường sẵn sàng “ập tới” nếu lơ là mà bỏ qua
giai đoạn này. Các công việc cần thiết để kiểm soát rủi ro như sau:
Thứ nhất, Thực hiện tốt công tác thống kê, tổng hợp số liệu trong từng
hệ thống. Theo dõi sát sao thông tin thị trường về danh mục đầu tư hiện có, để
có thể nắm rõ tình hình hiện tại của danh mục đầu tư và đưa ra những quyết
định phù hợp.
Thứ hai, thường xuyên thu thập thông tin. Nắm thông tin là yêu cầu rất
quan trọng trong quá trình kiểm soát các khoản đầu tư. Có nắm tốt thông tin
mới có thể nhạy bén trước những biến động của thị trường, của nền kinh tế,
tránh khỏi tình trạng “nước đến chân mới nhảy”. Để thực hiện được hiệu quả
việc này, PVFC cần xây dựng một bộ phận chuyên nghiên cứu, phân tích và
đưa ra những nhận định từ các thông tin thị trường theo định kỳ từng ngày,
từng tuần. Qua đó, giúp PVFC có thể đánh giá, phân tích chính xác về sự biến
động của TTCK và các cổ phiếu trên thị trường. Từ đó, đưa ra quyết định xem
nên đầu tư vào loại cổ phiếu nào cho hiệu quả và an toàn.
3.3.4. Thực hiện nghiêm túc phân tích kỹ thuật và phân tích cơ bản
Theo quy trình đầu tư tại PVFC, trước khi quyết định đầu tư, các
3.3.1. Đối với Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt nam
Với quan điểm phát triển Tổng Công ty Tài chính Dầu khí dựa trên
cơ sở vị thế tài chính của ngành Dầu khí và phục vụ nhu cầu đầu tư phát
6
triển Tập đoàn Dầu khí, với các sản phẩm dịch vụ đa dạng, trong đó sản
phẩm đầu tư tài chính là sản phẩm nòng cốt.
Đồng thời, với mục tiêu tổng quát xây dựng Tổng Công ty Tài
chính Dầu khí trở thành Tập đoàn tài chính hàng đầu tại Việt Nam. Đến
năm 2015 sẽ là Tập đoàn tài chính quan trọng nhất, là xương sống trong
các định chế tài chính khác của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, đáp ứng
được tối đa nhu cầu vốn cho các dự án của Tập đoàn, thì việc hỗ trợ Tập
đoàn Dầu khí Quốc gia Việt nam là hết sức quan trọng.
Trước hết, đó là sự hỗ trợ về cơ chế hoạt động. Là một tập đoàn
kinh tế hang đầu tại Việt nam, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực Dầu khí,
Năng lượng, thì việc xây dựng các định chế tài chính mạnh, thực hiện
chức năng điều hoà, tăng hiệu quả cho dòng chảy vốn, là hết sức quan
trọng. Riêng với PVFC, để có thể phát huy được hết thế mạnh trong
ngành, cần có cơ chế hoạt động, phối hợp đồng bộ giữa Tập đoàn, các
đơn vị trong ngành và PVFC, giúp cho PVFC có thể tham gia đầu tư vào
các dự án, các đơn vị làm ăn hiệu quả trong ngành, đồng thời, cũng tạo
điều kiện để PVFC có thể cùng Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt nam
đầu tư vào các ngành nghề, lĩnh vực có hiệu quả phát triển trong và
ngoài nước.
Yếu tố nguồn vốn cũng là một trong những yếu tố quan trọng hang
đầu trong hoạt động đầu tư. Để hoạt động đầu tư chứng khoán tại PVFC
thực sự hiệu quả và bền vững, cần có sự hỗ trợ của Tập đoàn trong việc
được quản trị và sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi của Tập đoàn. Thông qua
các chức năng của mình, như tín dụng, đầu tư….PVFC sẽ góp phần sử
dụng hiệu quả nguồn vốn đó, đồng thời, đây cũng sẽ tạo nên lợi thế của
PVFC so với các nhà đầu tư có tổ chức khác trên thị trường.
thị trường cũng như thu hút nhiều hơn nữa các NĐT trong và ngoài nước, vừa góp
phần xây dựng TTCK trở thành một “hàn thử biểu” của nền kinh tế. Triển vọng của
TTCK Việt Nam sắp đến sẽ trở nên sôi động hơn bởi sự tham gia của nhiều DN lớn,
làm ăn có hiệu quả và có uy tín như: Vietcombank, BIDV, Incombank, MHB,
Mobifone, Vinafone,… Việc CP của những ngành làm ăn có hiệu quả và mang lại lợi
nhuận cao được tham gia niêm yết và giao dịch trên TTCK tập trung là sự chờ đợi và
kỳ vọng của nhiều NĐT.
Đối với các CTCP mà Nhà nước không nắm cổ phần chi phối, hoạt động có
hiệu quả cao và có triển vọng phát triển cần tạo điều kiện khuyến khích tối ưu về cơ
chế để họ dễ dàng niêm yết. Cần thường xuyên tổ chức các cuộc hội thảo giới thiệu
về thị trường, về lợi ích của việc niêm yết đến các CTCP. Việc phổ cập hóa kiến thức
CK không chỉ diễn ra với đối tượng là các NĐT, mà giám đốc, chủ tịch HĐQT các
CTCP cũng là những đối tượng cần được xóa mù CK ở Việt Nam.
Thị trường CP phát triển đến đâu thì Chính phủ cũng nên quan tâm đến sự
phát triển của thị trường TP. Điều này đáp ứng phần lớn nhu cầu của các NĐT muốn
tham gia thị trường nhưng ngại rủi ro, xem mức độ an toàn của CK là yếu tố quyết
định sự lựa chọn của chính mình. Do đó, cần cải tiến phương pháp phát hành TP
Chính phủ, tăng cường phát hành theo phương pháp đấu thầu, đa dạng hóa các kỳ hạn
của TP Chính phủ, triển khai phát hành TP Quỹ hỗ trợ phát triển, TP địa phương, TP
công trình, đô thị lên niêm yết và giao dịch trên TTCK.
Tăng cung có chất lượng chính là kích cầu. Tuy nhiên, với đặc trưng TTCK
Việt Nam còn trong thời kỳ sơ khai, cần thận trọng phát triển TTCK bằng những DN
có chất lượng trước, những DN có khả năng tăng trưởng lợi nhuận hàng năm thì giá
CP đương nhiên sẽ tăng qua từng năm, tăng một cách có cơ sở và thực chất. Không
cách gì hấp dẫn các NĐT đến với TTCK một cách hữu hiệu hơn là hạn chế được một
phần rủi ro và gia tăng cơ hội tìm kiếm lợi nhuận cho họ. Cần giúp NĐT kiếm tiền
trước khi thuyết phục họ đổ những lượng tiền lớn hơn vào thị trường. Muốn hình
thành một tầng lớp NĐT chuyên nghiệp trong mười năm nữa chúng ta phải có một
lượng NĐT tham dự thị trường ngày hôm nay.
9