NHỮNG TRANH CHẤP TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG UCP500 - Pdf 76

NHỮNG TRANH CHẤP TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG
UCP500
2.1. Những tình huống tranh chấp xảy ra khi áp dụng UCP500
Theo tổng kết của ICC, các vấn đề có nhiều tranh cãi nhất trong UCP500 đều liên quan tới
các điều khỏan sau:
Điều 14: Chứng từ bất hợp lệ và việc thông báo bất hợp lệ
Điều 23: Chứng từ vận đơn đường biển
Điều 13: Tiêu chuẩn để kiểm tra chứng từ
Điều 48: Tín dụng chuyển nhượng
Điều 21: Nội dung của chứng từ và người phát hành không quy định
Điều 37: Hóa đơn
Điều 9: Trách nhiệm của ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận.
Và nó chiếm tới 58% trong tổng số các vấn đề mà ICC phải đưa vào trong các cuốn ICC
Opinion đuợc án bản kể từ năm 1993. Cụ thể :
Điều 14: có 60 vấn đề, chiếm 13,6%
Điều 23: có 47 vấn đề, chiếm 10,5%
Điều 13: có 31 vấn đề, chiếm 9,6%
Điều 48: có 31 vấn đề, chiếm 6,9%
Điều 21: có 29 vấn đề, chiếm 6,5%
Điều 37: có 26 vấn đề, chiếm 5,8%
Điều 9: có 26 vấn đề, chiếm 5,8%
Sau đây là một số tranh chấp đã xảy ra mà đề tài đã nghiên cứu :
2.1.1. Liên quan đến điều khỏan số 14 : Các chứng từ phù hợp và thông báo
 Thắc mắc 1: Ngân hàng phát hành L/C mở một L/C trả ngay thương lượng tại ngân
hàng thông báo. Người thụ hưởng xuất trình chứng từ không phù hợp với tín dụng
thư (xếp hàng trễ). Ngân hàng của người thụ hưởng gửi chứng từ cho ngân hàng mở
L/C và chỉ ra chứng từ có sai sót, chờ ủy quyền thanh tóan. Khi kiểm tra chứng từ
ngân hàng mở L/C cũng phát hiện ra sai sót này và đã hành động theo điều 14
UCP500 là từ chối chứng từ , giữ chứng từ với sự định đoạt của ngân hàng gửi
chứng từ và thông báo sau đó, nhưng không tiếp cận với người mở L/C để có được
sự bỏ qua các bất hợp lệ này. Người mở L/C tự thương lượng với người thụ hưởng

hàng lên tàu, trong trường hợp ngày phát hành chứng từ sau ngày xếp hàng thì chứng
từ có cần phải chỉ ra ngày giám định không?
Phân tích : Trong trường hợp giấy chứng nhận giám định ghi ngày phát hành sau ngày
xếp hàng lên tàu mà trong nội dung của giấy chứng nhận này không ghi rõ hay chỉ ra
rõ ngày thực hiện giám định là ngày trước hoặc cùng ngày với ngày xếp hàng lên tàu
thì chứng từ này coi như là bất hợp lệ. Tự bản thân tiêu đề của chứng từ này đã giả định
trước như là một hành động phải được xảy ra trước hoặc trong ngày xếp hàng lên tàu.
 Thắc mắc 4: URC có thể thay thế cho UCP khi người mở L/C không thực hiện
thanh tóan vào ngày đáo hạn?
Câu hỏi : Một ngân hàng phát hành L/C khi nhận được bộ chứng từ thì phát hiện ra
chứng từ có bất hợp lệ, ngân hàng này đã gửi thông báo cho ngân hàng thương lượng
và báo rằng chứng từ đang được giữ và chờ chỉ thị của ngân hàng thương lượng. Sau
đó chứng từ lại được người mở chấp nhận nên ngân hàng phát hành đã gửi thông báo
chấp nhận bộ chứng từ và đồng ý thanh tóan tiền vào ngày đáo hạn. Tới ngày đáo hạn,
người mở L/C không thanh tóan tiền theo cam kết, vậy vị trí của ngân hàng chúng tôi
có thể coi như là ngân hàng nhờ thu chứng từ vì chứng từ sai sót và chỉ thanh tóan khi
nào người mở L/C thanh tóan?
Phân tích: Khi ngân hàng phát hành đã thông báo cho ngân hàng thương lượng việc
chấp nhận bộ chứng từ và cam kết thanh tóan vào ngày đáo hạn thì có nghĩa là đã trói
buộc nghĩa vụ thanh tóan vào ngày đáo hạn mặc dù nguời mở L/C có thanh tóan được
hay không . Việc áp dụng URC chỉ khi ngân hàng phát hành thông báo bất hợp lệ và
đồng thời thông báo người mở L/C đã từ chối thanh tóan bộ chứng từ và ngân hàng
thương lượng phải đồng ý xử lý bộ chứng từ đó như là bộ chứng từ nhờ thu.
2.1.2. Liên quan đến điều khỏan số 23: Vận tải đơn đường biển hàng hải
 Thắc mắc 1: Liệu rằng bên ký B/L có thể xác thực bất kỳ thay đổi hay sửa chữa nào
trên B/L .
Câu hỏi : Ngân hàng thươnglượng đã nhận được thông báo từ chối chứng từ do bất hợp
lệ : B/L được ký bởi thuyền trưởng nhưng chữ ký sửa sai chứng từ lại là của đại lý của
người chuyên chở. Ngân hàng thương lượng chứng từ không đồng ý sai sót này vì cho
rằng không có điều khỏan nào trong UCP quy định rằng việc sửa chữa chứng từ phải

hàng hóa đã được bốc lên chứ không có phân biệt cụ thể giữa tàu feeder và tàu biển.
Điều 23a(iii) cũng yêu cầu B/L phải chỉ ra cảng xếp hàng và cảng dỡ hàng như quy
định trong L/C. Bởi vậy, tham chiếu tới con tàu đã ghi tên là con tàu rời khỏi cảng xếp
hàng và không có bất kỳ tàu feeder nào có thể xuất hiện trong ô “chuyên chở trước”
 Thắc mắc 4 : Liệu rằng vận đơn của hãng giao nhận (forwarder’s bill of lading) có
duy trì trách nhiệm hàng xếp trên tàu cho tới cảng đích cuối cùng không?
Câu hỏi : Theo yêu cầu của người mở L/C ngân hàng phát hành yêu cầu xuất trình một
vận đơn FBL lập theo lệnh của ngân hàng phát hành với mong muốn là có tòan quyền
trong việc giao nhận hàng. Vì chứng từ này hòan tòan phù hợp với điều 23 và 30 nên
câu hỏi đặt ra ở đây là liệu rằng người phát hành FBL có chịu trách nhiệm về việc xếp
hàng lên tàu cho tới cảng đích cuối cùng? Đặc biệt hơn là có chịu trách nhiệm khi hàng
được xếp lên xà lan từ tàu tại vùng nước ranh giới của cảng đích?
Phân tích : Vì chứng từ đưa ra là phù hợp với điều 23 và 30, vậy khi tín dụng thư yêu
cầu một vận đơn của hãng giao nhận thì nó có thể được ký bởi hãng giao nhận, người
chuyên chở hoặc đại lý của người chuyên chở. Khi L/C yêu cầu một FBL thì nó sẽ
được ký bởi hãng giao nhận với trách nhiệm chỉ của nhãng giao nhận. Và nếu phát
hành theo kiểu này có nghĩa là đã có hợp đồng với hãng chuyên chở thực sự theo trách
nhiệm nhận hàng và giao hàng thực tế. Vì vậy trong trường hợp này hãng giao nhận đã
ký vận đơn như một người chuyên chở hoặc đại lý cho người chuyên chở nên trách
nhiệm đối với việc xếp hàng sẽ duy trì cho đến khi giao hàng tới người nhận hàng đích
danh, bên mà được ký hậu hay người giữ vận đơn trong trường hợp ký hậu để trống.
2.1.3. Liên quan đến điều khỏan số 48: Tín dụng chuyển nhượng
 Thắc mắc 1 : Quyền thay thế hóa đơn và hối phiếu, việc sửa đổi điều kiện tín dụng
thư, người thụ hưởng thứ nhất và thứ hai, người gửi hàng khác với người ký hóa
đơn ?
Câu hỏi : Theo điều 48 (i), người thụ hưởng thứ nhất có quyền thay thế hóa đơn nhưng
nếu người thụ hưởng thứ nhất không xuất trình hóa đơn và hối phiếu thì ngân hàng
chuyển nhượng có thể gửi chứng từ với hóa đơn hối phiếu gốc tới ngân hàng phát hành
(đó là vì việc gửi chứng từ của người thụ hưởng thứ hai tới ngân hàng phát hành không
tạo thành bất hợp lệ).

48(d) anh ta không muốn duy trì quyền từ chối thông báo sửa đổi tới người thụ hưởng
thứ hai, thì ngân hàng chuyển nhượng tòan quyền thông báo tất cả sửa đổi khi nhận
được tới người thụ hưởng thứ hai mà không cần tham chiếu tới người thụ hưởng thứ
nhất. Nhưng ICC cũng khuyên rằng người thụ hưởng thứ nhất nên duy trì quyền từ chối
thông báo sửa đổi trừ khi anh ta không còn tham gia vào giao dịch đó nữa.
- Người gửi hàng trên chứng từ chỉ có thể là người thụ hưởng thứ nhất nếu tín dụng
thư quy định như vậy. UCP 500 không cấm chứng từ của bên thứ ba. Vì vậy trừ khi có
quy định khác trong tín dụng thư, người gửi hàng có thể khác người phát hành hóa đơn
và không được coi là bất hợp lệ.
 Thắc mắc 2 : Ngân hàng chuyển nhượng có thể tự động thêm điều kiện thanh tóan
vào trong thư chuyển nhượng
Câu hỏi : Ngân hàng A phát hành tín dụng thư ghi rõ: L/C này chiết khấu tại bất kỳ
ngân hàng nào bằng hối phiếu trả ngay khi nhận được bộ chứng từ phù hợp với điều
kiện của L/C. Khi ngân hàng B làm thư chuyển nhượng tới người thụ hưởng thứ hai đã
ghi vào trong thư chuyển nhượng : L/C này chiết khấu tại bất kỳ ngân hàng nào bằng
hối phiếu sau …. ngày trả ngay và thanh tóan sẽ chỉ được thực hiện khi nhận được tiền
từ ngân hàng phát hành.
Phân tích : Trong trường hợp này, ngân hàng B đã nhấn mạnh điều khỏan sẵn sàng
hòan trả cho người thụ hưởng chỉ khi ngân hàng phát hành thực hiện thanh tóan cụ thể
là khi họ nhận được chứng từ phù hợp với tín dụng thư. Như vậy ngân hàng B đã
không sẵn lòng thương lượng /chiết khấu trước bộ chứng từ gửi tới ngân hàng phát
hành.
 Thắc mắc 3 : Trách nhiệm, rủi ro của ngân hàng chuyển nhượng như thế nào?
Câu hỏi : Ngân hàng B (ngân hàng chuyển nhượng) khi chuyển nhượng đã không tăng
đủ số tiền bảo hiểm để bằng với 110% trị giá hóa đơn của người thụ hưởng thứ nhất.
Khi nhận được chứng từ từ ngân hàng của người thụ hưởng thứ hai, ngân hàng B trong
khi thay thế hóa đơn và hối phiếu đã nhận được hóa đơn và hối phiếu sai (mô tả hàng
hóa trong hóa đơn không phù hợp với L/C). Ngân hàng B chuyển bộ chứng từ tới ngân
hàng phát hành chờ thanh tóan và ngân hàng phát hành từ chối thanh tóan với lý do :
bảo hiểm không đủ số tiền và mô tả hàng hóa không phù hợpđồng thời trả lại chứng từ

Điều 5(b) UCP 500 chỉ ra rằng “ Tất cả các chỉ thị phát hành và bản thân tín dụng thư . .
. phải tuyên bố chính xác các chứng từ dùng để thanh tóan, chấp nhận hoặc chiết khấu”
và nếu cần thiết thì ngân hàng phát hành phải quy định rõ người phát hành và nội dung
của chứng từ được yêu cầu .
 Thắc mắc 2 : Số hóa đơn chiếu lệ không chính xác trong hóa đơn, số L/C thêm vào
viết bằng tay vào chứng từ có tạo ra bất hợp lệ không?
Câu hỏi : Một L/C yêu cầu là tất cả các chứng từ phải chỉ ra số L/C và phải chỉ ra
chính xác số lượng hàng hóa tham chiếu hóa đơn chiếu lệ đã được quy định. Khi nhận
chứng từ, số L/C thì được viết bằng tay thêm vào, còn số hóa đơn chiếu lệ thì ghi
không chính xác, vậy chứng từ coi là bất hợp lệ không?
Phân tích : Nếu như L/C quy định yêu cầu chi tiết của số hóa đơn chiếu lệ phải ghi
trong hóa đơn mà không có hoặc ghi không chính xác thì đây là bất hợp lệ.
Số L/C được ghi thêm vào bằng tay không nhất thiết là bất hợp lệ. Việc bao gồm số
tham chiếu L/C chỉ đơn thuần cho mục đích cho sự nhận dạng, nó không phải là một
phần cấu thành nên chứng từ đã được yêu cầu . Trừ khi L/C qui định khác thì việc viết
thêm bằng tay vào chứng từ số L/C không tạo ra bất hợp lệ.
 Thắc mắc 3 : Người nhận hàng ghi trên chứng nhận xuất xứ khác với ghi trên vận
đơn?
Câu hỏi: Một ngân hàng đã từ chối bộ chứng từ khi kiểm tra thấy người gửi hàng ghi
trên chứng nhận xuất xứ khác với ghi trên vận đơn mặc dù người nhận hàng ghi trên vận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status