GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG KÊNH PHÂN PHỐI SẢN PHẨM BẢO HIỂM NHÂN THỌ TẠI BẢO VIỆT NHÂN THỌ - Pdf 76

1
GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VÀ PHÁT
TRIỂN HỆ THỐNG KÊNH PHÂN PHỐI SẢN PHẨM BẢO
HIỂM NHÂN THỌ TẠI BẢO VIỆT NHÂN THỌ
3.1 Định hướng và mục tiêu phát triển của Bảo Việt Nhân thọ
3.1.1 Định hướng phát triển chung
Với vai trò và chức năng của mình trong hệ thống kinh doanh của Tập
đoàn Tài chính Bảo hiểm Bảo Việt, Bảo Việt Nhân thọ đã đề ra định hướng
phát triển toàn diện trong giai đoạn 2006 - 2010, cụ thể: “Đến năm 2010, Bảo
Việt Nhân thọ phấn đấu trở thành và duy trì vị trí là doanh nghiệp bảo hiểm
nhân thọ hàng đầu Việt Nam về doanh thu phí và thị phần, có trình độ công
nghệ hiện đại, hoàn toàn có thể cạnh tranh với các công ty BHNT nước ngoài,
có các sản phẩm dịch vụ đa dạng, chất lượng tốt, gần gũi với người dân Việt
Nam theo đúng phương châm: “Bảo đảm lợi ích Việt”
3.1.2 Mục tiêu phát triển cụ thể
Trên cơ sở những định hướng phát triển của ngành, của Tập đoàn và
bản thân, Bảo Việt Nhân thọ đã đề ra các mục tiêu phát triển cụ thể đến năm
2010 về kết quả hoạt động kinh doanh và phát triển hệ thống kênh phân phối.
3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển hệ thống kênh phân phối
sản phẩm bảo hiểm nhân thọ tại Bảo Việt Nhân thọ
3.2.1 Củng cố và nâng cao chất lượng kênh phân phối qua đại lí
Mặc dù có nhiều kênh phân phối sản phẩm, xong xu hướng phát triển
về chiều sâu của kênh phân phối sản phẩm qua đại lí vẫn được các công ty
BHNT trên thế giới và trong khu vực triển khai thực hiện. Dĩ nhiên, với lực
lượng đại lí hiện có của mình, Bảo Việt Nhân thọ cần phải tiến hành củng cố,
rà soát và nâng cao chất lượng nhằm tuyển dụng và duy trì những đại lí mạnh
về chất để đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi ngày càng đa dạng và phong phú
2
của thị trường. Việc củng cố, rà soát cần tập trung vào:
3.2.1.1 Đánh giá lại công tác tuyển dụng đại lí
3.2.1.2 Chú trọng đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ

phương thức tự quản trong việc thực hiện các thỏa thuận giữa các hội viên.
- Đẩy mạnh các quan hệ cộng đồng liên quan đến khai thác bảo hiểm
nhân thọ nhằm nâng cao nhận thức của người dân về bảo hiểm nhân thọ và hỗ
trợ khách hàng khi cần thiết.
3.3.3 Kiến nghị với Tập đoàn Tài chính Bảo hiểm Bảo Việt
- Xem xét và điều chỉnh kế hoạch kinh doanh của Bảo Việt Nhân thọ
cho phù hợp với điều kiện hiện nay, khi mà Việt Nam đã gia nhập WTO.
- Xúc tiến thành lập ngân hàng Bảo Việt, đẩy mạnh hoạt động đầu tư từ
nguồn vốn nhàn rỗi của Bảo Việt Nhân thọ.
- Cần hỗ trợ và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng cáo về Tập
đoàn Tài chính Bảo hiểm Bảo Việt và không ngừng nâng cao chất lượng dịch
vụ khách hàng.
- Tăng cường hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để
giúp đỡ và hỗ trợ Bảo Việt Nhân thọ trong lĩnh vực đào tạo bảo hiểm nhân
thọ.
- Tập đoàn cần có một định hướng chung về phát triển nguồn nhân lực,
công nghệ thông tin.
4
KẾT LUẬN
Sau khi nghiên cứu các vấn đề mang tính lý luận về sản phẩm bảo hiểm
nhân thọ,hệ thống kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ và thực tế
triển khai tại Bảo Việt Nhân thọ cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được
vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại trong quá trình hoạt động của hệ thống kênh
phân phối sản phẩm tại Bảo Việt Nhân thọ, cụ thể là hiệu quả ngày càng giảm
của kênh phân phối qua đại lý và sự phát triển còn chậm của kênh phân phối
qua ngân hàng. Với mục tiêu đáp ứng được yêu cầu của hội nhập khu vực,
quốc tế và xu hướng cạnh tranh khốc liệt trong thời gian tới, Bảo Việt Nhân
thọ phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện để nâng cao khả năng cạnh tranh
và hiệu quả hoạt động của mình đặc biệt là hoàn thiện và phát triển hệ thống
kênh phân phối sản phẩm.

mãn nhu cầu ngày một đa dạng và phong phú của khách hàng, doanh nghiệp
kinh doanh bảo hiểm nhân thọ phải lựa chọn hệ thống kênh phân phối phù
hợp với từng nhóm khách hàng và từng thị trường mục tiêu.
Tại thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam, với khoảng thời gian hơn
10 năm hình thành và phát triển, việc xây dựng và phát triển hệ thống kênh
phân phối các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ đang ở những bước đi ban đầu.
Với vị thế là doanh nghiệp đầu tiên triển khai bảo hiểm nhân thọ trên thị
trường bảo hiểm Việt Nam, Bảo Việt Nhân thọ đã gặt hái được một số thành
công nhất định trong việc triển khai kênh phân phối sản phẩm của mình như:
số lượng đại lý đông đảo, tổng doanh thu phí bảo hiểm tăng dần qua các năm,
thu hút được một số lượng lớn khách hàng tham gia..., tuy nhiên vẫn còn tồn
tại một số vấn đề cần hoàn thiện như: trình độ đại lí còn chưa cao và chưa
đồng đều, chỉ số hoạt động của đại lí còn thấp, hệ thống kênh phân phối chưa
phong phú để đáp ứng sự phát triển của thị trường và nền kinh tế.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trên, nhưng nguyên nhân
cơ bản là do việc phát triển hệ thống kênh phân phối sản phẩm chưa hiệu quả,
đồng bộ và chưa theo kịp sự phát triển của thị trường. Để khắc phục những
tồn tại này, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và nâng cao chất lượng phục
vụ khách hàng trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, thực hiện mục tiêu
phát triển của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam nói chung và Bảo Việt Nhân
thọ nói riêng, Bảo Việt Nhân thọ cần phải nhìn nhận, phân tích và đánh giá lại
hệ thống kênh phân phối sản phẩm của mình. Từ đó, tìm ra những nguyên
nhân của sự thành công và lý do của những tồn tại để có giải pháp hoàn thiện
và phát triển hệ thống kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ của mình.
Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực bảo
hiểm nhân thọ tại Bảo Việt, tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu phân tích,
đánh giá tổng thể hệ thống kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ. Bởi
vậy, trên cơ sở những kiến thức và kinh nghiệm thực tế có được trong quá
trình công tác, tác giả đã chọn đề tài: “Hoàn thiện và phát triển hệ thống
kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ tại Bảo Việt Nhân thọ” để

triển hệ thống kênh phân phối sản phẩm tại Bảo Việt Nhân thọ.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phục lục, danh mục các bảng, biểu đồ,
phục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia thành
3 chương:
Chương 1: Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và hệ thống kênh phân phối
sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
Chương 2: Thực trạng tổ chức kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân
thọ tại Bảo Việt Nhân thọ
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện và phát triển hệ
thống kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ tại Bảo Việt Nhân thọ
CHƯƠNG 1
KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ HỆ THỐNG
KÊNH PHÂN PHỐI SẢN PHẨM BẢO HIỂM NHÂN THỌ
1.1 Bảo hiểm nhân thọ và kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ
1.1.1.1 Khái niệm
Sự ra đời của các quỹ bảo hiểm nhân thọ xuất hiện cùng thời với các
hình thức bảo hiểm phi nhân thọ khác như bảo hiểm cháy, bảo hiểm hàng hải.
Năm 1583, tại nước Anh, một thuyền trưởng tên William Gybbon đã nảy ra ý
kiến yêu cầu công ty bảo hiểm ngoài việc bảo hiểm cho con tàu và hàng hóa
của mình hãy bán thêm hợp đồng bảo hiểm sinh mạng cho chính mình. Sự
việc này đã buộc các công ty bảo hiểm phi nhân thọ nhận thấy rằng “con
người cũng có thể được bảo hiểm như những hàng hóa, tài sản khác”. Đến
năm 1662, John Graunt - một thanh niên trẻ tại London đã đăng tải một số bài
báo nói về số lượng người sinh và chết tại London. Ghi nhận tình cờ này đã
được các nhà toán học thời đó quan tâm và nghĩ đến việc thành lập bảng tử lệ
tử vong. Đây là một trong các công cụ rất hữu ích cho ngành bảo hiểm nhân
thọ sau này. Trong khoảng 100 năm tiếp theo, các nhà toán học đã luôn trăn
trở nghĩ ra cách tính phí của các sản phẩm BHNT. Sản phẩm BHNT ban đầu

thức toán học tính giá trị giải ước để hoàn lại một phần phí cho khách hàng.
Từ những bước phát triển trên có thể thấy bảo hiểm nhân thọ ra đời và
phát triển là để đáp ứng những nhu cầu của con người. Tuy nhiên do nhu cầu
của con người luôn thay đổi theo sự phát triển của xã hội, kinh tế, do vậy cách
hiểu của mọi người và phạm vi bảo hiểm của các sản phẩm BHNT cũng rất
khác nhau.
Theo tiến sỹ David Bland - Tổng giám đốc học viện bảo hiểm hoàng
gia Anh thì “bảo hiểm nhân thọ là hình thức bảo hiểm mà rủi ro liên quan đến
mạng sống của người được bảo hiểm”. Theo luật kinh doanh bảo hiểm của
nước CHXHCN Việt Nam, “bảo hiểm nhân thọ là hình thức bảo hiểm cho
trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết”. Hai khái niệm này đều có
điểm chung là nhấn mạnh đến các yếu tố liên quan đến đối tượng của bảo
hiểm: tuổi thọ, sự kiện sống hoặc tử vong. Về bản chất, các khái niệm này
được đưa ra trên phương diện kỹ thuật bảo hiểm và nhấn mạnh vào phạm vi
bảo hiểm truyền thống sơ khai của bảo hiểm nhân thọ: sự kiện sống hoặc tử
vong.
Tuy nhiên, có một khái niệm khác được các nhà chuyên môn đưa ra,
“bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng bảo hiểm trong đó ghi rõ để nhận được phí
bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm, công ty bảo hiểm phải cam kết chi trả
cho một hoặc một số người thụ hưởng bảo hiểm một số tiền nhất định trong
trường hợp người được bảo hiểm bị tử vong hoặc sống đến một thời điểm
được xác định trong hợp đồng”. Đây là khái niệm về hợp đồng bảo hiểm nhân
thọ, thể hiện mối quan hệ giữa các bên trong hợp đồng đồng thời cũng thể
hiện tính kỹ thuật bảo hiểm khi đề cập đến điều kiện phát sinh trách nhiệm
của công ty bảo hiểm.
Và cùng với sự phát triển về kinh tế và xã hội, yếu tố cạnh tranh của thị
trường và đặc biệt là sự đòi hỏi rộng hơn về phạm vi bảo hiểm do vậy hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ không chỉ bảo hiểm cho sự kiện sống hoặc tử vong
mà còn bảo hiểm cho cả những sự kiện liên quan đến tình trạng sức khỏe của
người được bảo hiểm như thương tật toàn bộ vĩnh viễn, thương tật bộ phận,

tham gia những khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng, hàng quý để giúp họ ổn
định đời sống và đảm bảo cuộc sống khi về già. Hợp đồng bảo hiểm tử vong
sẽ giúp người được bảo hiểm để lại cho gia đình một khoản tiền khi họ qua
đời. Số tiền này đáp ứng được rất nhiều mục đích của người quá cố: trả nợ,
trang trải chi phí giáo dục của con cái, phụng dưỡng bố mẹ… Để đáp ứng nhu
cầu ngày càng phát triển, một số công ty BHNT còn tung ra các sản phẩm
BHNT tín dụng tử kỳ, đây được coi là vật thế chấp để người tham gia bảo
hiểm vay vốn phục vụ cho mục đích mua xe hơi, mua nhà trả góp và các mục
đích cá nhân khác…
Thứ ba, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ rất đa dạng và phức tạp. Trước
tiên điều này được thể hiện trong các sản phẩm BHNT mà khách hàng có thể
tham gia. Cùng một loại sản phẩm nhưng khách hàng có thể lựa chọn thời hạn
bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, phương thức đóng phí khác nhau… Bên cạnh đó,
mối quan hệ giữa các đối tượng liên quan trong hợp đồng bảo hiểm là rất
phức tạp. Thông thường, mỗi hợp đồng bảo hiểm có thể có 4 đối tượng liên
quan:
- Người bảo hiểm.
- Người tham gia bảo hiểm.
- Người được bảo hiểm.
- Người được hưởng quyền lợi bảo hiểm.
Thứ tư, hợp đồng bảo hiểm thường có thời hạn dài, tối thiểu là năm
năm. Đây cũng là một trong những đặc điểm khác biệt giữa hợp đồng bảo
hiểm nhân thọ và phi nhân thọ. Các hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ thường
có thời gian tham gia là 1 năm và có thể được tái tục vào các năm tiếp theo.
Tuy nhiên có một số trường hợp, hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ được ký kết
dài hạn (thường khoảng 3 - 4 năm) đối với hợp đồng bảo hiểm xây dựng lắp
đặt. Đối với bảo hiểm nhân thọ, do đặc điểm có tính tiết kiệm nên thời hạn
của hợp đồng thường dài, tối thiểu là 5 năm.
Thứ năm, quá trình định phí bảo hiểm nhân thọ rất phức tạp do chịu
ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau mà hầu hết các nhân tố này đều phải

hiểm của những người dân tham gia với mục đích tiết kiệm và bảo hiểm, các
công ty BHNT ngoài chức năng bảo hiểm còn hỗ trợ Nhà nước trong việc tạo
lập nguồn quỹ đầu tư vào nền kinh tế. Đây là một nguồn vốn đầu tư tương đối
lớn và đóng góp đáng kể vào sự phát triển của nền kinh tế của đất nước. Tại
các nước đang phát triển, số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế của toàn ngành bảo
hiểm nhân thọ thường chiếm khoảng 20 đến 25% tổng nguồn vốn đầu tư.
- Tạo công ăn việc làm cho người lao động: Cũng như các doanh
nghiệp khác, các tổ chức khác, công ty BHNT tạo công ăn việc làm cho một
bộ phận nhất định người lao động. Ngoài lực lượng lao động làm việc tại các
doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thì còn phải kể đến một lực lượng lớn hơn,
đó là đội ngũ đại lí và môi giới. Ngoài ra còn rất nhiều lao động được cuốn
vào các công việc của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ như các luật sư, các
nhà đầu tư vốn, các cơ sở khám chữa bệnh...
- Hoạt động kinh doanh BHNT còn giúp cho nền kinh tế có điều kiện
phát triển toàn diện, ổn định. Với vai trò của mình, BHNT giúp cho nền kinh
tế ổn định khi không may có rủi ro xảy ra đối với một doanh nghiệp hay một
nhóm doanh nghiệp. Rủi ro có thể bao gồm rủi ro về tài chính, về người quản
lý và nhân viên cũng như những người sống phụ thuộc vào họ.
b) Đối với các tổ chức kinh tế, xã hội
Trong xã hội, không chỉ có các cá nhân có nhu cầu mà các tổ chức kinh
tế, xã hội cũng có nhu cầu về bảo hiểm nhân thọ. Có hai lý do khiến họ cần có
sự đảm bảo của bảo hiểm nhân thọ, đó là:
- BHNT luôn thể hiện tính xã hội và nhân văn: Với các tổ chức kinh tế,
xã hội bên cạnh mục tiêu lợi nhuận, doanh số bán hàng, họ còn chú trọng đến
nét văn hoá của doanh nghiệp mình, công ty mình. Nét văn hoá đó được đặt
trưng bởi tính xã hội và tính nhân văn. Bảo hiểm nhân thọ đã giúp cho các
doanh nghiệp, công ty thực hiện được ý muốn đó của mình đối với người lao
động, Ngoài ra, việc san sẻ rủi ro và tài chính giữa những người tham gia bảo
hiểm tạo ra trách nhiệm, sự chia sẻ và quan tâm lẫn nhau giữa các thành viên
trong xã hội. Tiêu chí này giữ vai trò quan trọng đối với việc tạo ra sự ổn định

chung, bảo hiểm nhân thọ có thể đảm bảo các vai trò chủ yếu sau:
- Thoả mãn các khoản chi tiêu cuối cùng: Khi một người chết đi họ có
thể để lại các tài sản như bất động sản, tiền, các khoản đầu tư... mặt khác họ
cũng có thể có những khoản nợ, thế chấp chưa thanh toán. Bên cạnh đó, còn
có rất nhiều chi phí liên quan đến cái chết của họ như chi phí khám chữa
bệnh, điều trị, bác sĩ, chí phí mai táng... Những người thừa kế hợp pháp chỉ
nhận được tài sản thừa kế khi các khoản nợ của người tử vong đã được thanh
toán hết, do vậy trong rất nhiều trường hợp, người thừa kế có thể không nhận
được gì. Để tránh tình trạng này, rất nhiều người đã mua bảo hiểm nhân thọ
cho bản thân để có thể đảm bảo các khoản chi tiêu cuối cùng này, không để lại
gánh nặng này cho người thân.
- Hỗ trợ những người sống phụ thuộc: rất nhiều người có nhu cầu mua
bảo hiểm nhân thọ để đảm bảo cho những người sống phụ thuộc vào họ.
Trong gia đình, nếu người lao động trụ cột bị tử vong, nguồn tài chính trong
gia đình có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng, những người sống phụ thuộc sẽ
ngay lập tức phải đương đầu với hàng loạt các vấn đề như việc phải thanh
toán các khoản chi tiêu cố định như tiền điện, nước, các dịch vụ khác, chi phí
ăn uống, sinh hoạt... Thông qua các sản phẩm BHNT khác nhau, người ta có
thể đảm bảo cho người thân một khoản tài chính nhất định để những người
này có thể ngay lập tức khắc phục khó khăn về tài chính hoặc bảo hiểm nhân
thọ cũng cung cấp các khoản trợ cấp định kỳ cho những người sống phụ
thuộc.
- Đáp ứng các chi phí giáo dục: Một mục tiêu cơ bản của hầu hết các
bậc cha mẹ là có đủ tài chính để con cái họ có thể được học đại học ở nước
ngoài hay trong các trường danh tiếng. Mong muốn này của các bậc cha mẹ
có thể được đáp ứng thông qua các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ như các hợp
đồng bảo hiểm tử kỳ hoặc bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp.
- Thoả mãn nhu cầu về thu nhập khi nghỉ hưu: Mặc dù người lao động
khi nghỉ hưu nhận được trợ cấp hưu trí do bảo hiểm xã hội chi trả. Tuy nhiên,
tại rất nhiều nước, số người được hưởng trợ cấp hưu trí còn rất hạn chế hơn

giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý Nhà nước.
- Sản phẩm của BHNT rất đa dạng, phong phú và có những nét đặc thù
riêng so với tất cả các hàng hóa khác
Bảo hiểm nhân thọ có đặc điểm đáp ứng được nhiều nhu cầu của từng
đối tượng khách hàng do vậy giỏ sản phẩm cũng rất phong phú và đa dạng.
Tùy thuộc vào điều kiện tài chính, tính chất công việc, yếu tố gia đình, sức
khỏe… của người tham gia bảo hiểm, các công ty BHNT sẽ thiết kế ra các
nhóm sản phẩm để đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng.
Bên cạnh đó, sản phẩm BHNT cũng có đặc điểm khác biệt so với các
hàng hóa thông thường khác. Đây là một sản phẩm dịch vụ vô hình do vậy
người mua không thể cảm nhận và sử dụng ngay được. Người mua chỉ cảm
nhận được những đặc tính cũng như quyền lợi của sản phẩm này khi không
may xảy ra rủi ro đối với bản thân và người thân của mình.
- Sức ép cạnh tranh gay gắt
Hoạt động kinh doanh BHNT luôn mang lại lợi nhuận tương đối cao so
với các ngành nghề kinh tế khác trong xã hội do vậy lĩnh vực này luôn có sự
cạnh tranh gay gắt giữa các công ty đang hoạt động cũng như sức ép từ phía
các công ty chuẩn bị gia nhập thị trường. Bên cạnh đó, với vai trò huy động
nguồn vốn nhàn rỗi của dân cư, các doanh nghiệp BHNT cũng luôn chịu sự
cạnh tranh gay gắt từ phía các tổ chức tài chính tín dụng khác như hệ thống
ngân hàng, quỹ tín dụng, công ty chứng khoán…
- Hậu trường trong hoạt động kinh doanh BHNT là hoạt động đầu tư
Do các sản phẩm BHNT thường kết hợp giữa bảo hiểm và tiết kiệm do
vậy yếu tố đầu tư của hoạt động kinh doanh BHNT là một đặc điểm quan
trọng và thường quyết định đến sự thành công và phát triển của một công ty
BHNT. Trong phí bảo hiểm do người tham gia bảo hiểm đóng, ngoài phần phí
phục vụ cho mục đích bảo hiểm, một phần phí còn lại được trích lập dự phòng
toán học và được sử dụng vào mục đích đầu tư. Nếu công ty BHNT quản lý
và thực hiện tốt hoạt động đầu tư từ quỹ đầu tư này thì họ sẽ có lợi thế trong
kinh doanh BHNT do quyền lợi của người tham gia bảo hiểm luôn gắn liền

P.Marketing
P. Nhân sự
P.Tin học
P.DVKH
Mô hình 1.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của một công ty Bảo hiểm nhân thọ
- Trước tiên, ta sẽ đề cập đến phòng Marketing. Phòng này chịu trách
nhiệm có liên quan đến: nghiên cứu để xác định các khách hàng mục tiêu,
phối hợp với các phòng, ban chức năng khác trong công ty để thiết kế các sản
phẩm mới và xem xét lại các sản phẩm hiện hành nhằm đáp ứng nhu cầu của
khách hàng, thiết lập và duy trì hệ thống kênh phân phối sản phẩm của công
ty. Bên cạnh đó, phòng Marketing còn thực hiện các chiến dịch quảng cáo và
các hoạt động xúc tiến bán hàng.
- Tiếp theo là, phòng định phí. Phòng này chịu trách nhiệm cho việc
đảm bảo rằng công ty thực hiện các hoạt động trên một nền tảng tài chính tốt.
Các định phí viên đóng một vai trò quan trọng trong việc thiết kế các sản
phẩm BHNT của công ty. Phòng định phí xác định tỷ lệ phí và lãi chia, xác
định quỹ dự phòng cần có, tính toán các khoản tiền vay và các quyền lợi bảo
hiểm. Các chuyên viên tính phí cũng tiến hành các hoạt động nghiên cứu cần
thiết để dự đoán tỷ lệ tử vong và thương tật, hỗ trợ công tác đánh giá rủi ro.
Ngoài ra, hằng năm, các định phí viên sẽ báo cáo về tình hình lập, sử dụng và
bổ sung quỹ dự phòng của công ty BHNT.
- Bộ phận tiếp theo là phòng phát hành hợp đồng. Trong công ty
BHNT, bộ phận phát hành hợp đồng chịu trách nhiệm đảm bảo rằng công ty
BHNT luôn chấp nhận bảo hiểm cho những người mà tỷ lệ tử vong thực tế
không vượt quá tỷ lệ tử vong được giả định khi tính phí. Để làm được điều
này, phòng phát hành hợp đồng phải phối hợp với phòng định phí và bộ phận
y tế để thiết lập các tiêu chuẩn nhằm đánh giá và phân loại một cách chính
xác từng người được bảo hiểm căn cứ trên mức độ rủi ro của họ. Tiếp theo, bộ
phận này sẽ lựa chọn những người được bảo hiểm căn cứ trên các tiêu chuẩn
quy định cho từng sản phẩm.

sách liên quan đến tuyển dụng, đào tạo và sa thải nhân viên; xác định chế độ
lương bổng cho mỗi nhân viên, vạch kế hoạch cho công tác đào tạo và phát
triển cán bộ; đảm bảo việc tuân thủ luật lao động. Bộ phận này cũng có trách
nhiệm quản lý các chế độ phúc lợi cho nhân viên như: bảo hiểm xã hội, kinh
phí đào tạo, nghỉ phép…
- Phòng tin học: Trách nhiệm của bộ phận này là quản lý thông tin
trong công ty, chủ yếu là phát triển và duy trì hệ thống máy tính của công ty.
Bộ phận này giúp các bộ phận khác của trong công ty hoạt động hiệu quả
thông qua việc trang bị, sử dụng máy tính và các phần mềm cần thiết để cung
cấp thông tin, lưu giữ số liệu và quản lý các sản phẩm. Nhân viên của bộ phận
này cũng quản lý hệ thống mạng máy tính, lưu giữ các số liệu của công ty và
thực hiện phân tích toàn bộ hệ thống máy tính trong công ty.
1.2 Hệ thống kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
1.2.1 Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ
Theo định nghĩa chung của các chuyên gia thì sản phẩm là những hàng
hoá, dịch vụ và sáng kiến mà người bán mời chào khách hàng nhằm thoả mãn
nhu cầu của họ. Theo quan điểm của khách hàng, sản phẩm là mọi thứ mà họ
nhận được như là một phần của quá trình trao đổi trên thị trường. Hiện tại,
tađang có xu hướng định nghĩa sản phẩm theo những đặc điểm cơ bản của
chúng, đó là các đặc điểm về vật chất, kỹ thuật hoặc các đặc điểm về kỹ năng,
những gì mà tạo nên một sản phẩm trong một hình thức, tiêu chuẩn cơ bản
nhất. Ví dụ, bạn có thể miêu tả các đặc điểm gốc của hợp đồng bảo hiểm trọn
đời truyền thống đó là quyền lợi bảo hiểm nhân thọ, giá trị tích luỹ của hợp
đồng và điều khoản hợp đồng chuẩn. Một sản phẩm trong hình thức, tiêu
chuẩn cơ bản nhất của nó được gọi là sản phẩm gốc chung cho cả nhóm sản
phẩm nào đó. Tuy nhiên, khi khách hàng mua một sản phẩm thì những gì mà
khách hàng nhận được còn nhiều hơn là tập hợp các đặc điểm gốc. Khách
hàng cũng có thể nhận được những giá trị vô hình để thoả mãn nhu cầu và
mong muốn riêng biệt nào đó. Ví dụ như khi khách hàng mua sản phẩm
BHNT, người đó có thể nhận được những giá trị vô hình sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status