THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY - Pdf 76

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI
VỚI KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH Ở VIỆT
NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
1. Khái quát về hệ thống ngân hàng ở Việt Nam:
Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ra đời theo Sắc lệnh 15/SL ngày 16-5-
1951 của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh dấu bước ngoặt lịch sử của lĩnh vực tài
chính Việt Nam. Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ngay từ khi ra đời đã thực hiện
tốt nhiệm vụ của mình trong từng giai đoạn cách mạng, đó là:
- Phát hành giấy bạc, điều hoà lưu thông tiền tệ,
- Quản lý ngân quỹ quốc gia,
- Quản lý ngoại tệ và thực hiện thanh toán các khoản giao dịch với nước
ngoài,
- Quản lý kim dung bằng thể lệ hành chính,
- Đấu tranh tiền tệ với địch,
- Huy động vốn của dân, điều hoà và mở rộng tín dụng để phát triển sản
xuất.
Năm 1960, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng
Nhà nước, vừa thực hiện vai trò của một ngân hàng trung ương vừa đảm nhiệm
vai trò của một ngân hàng thương mại. Mặc dù Nhà nước còn sở hữu 2 ngân
hàng khác là Ngân hàng Ngoại thương và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
nhưng trên thực tế 2 ngân hàng này hoạt động như những chi nhánh đặc biệt của
Ngân hàng Nhà nước: NHNT tài trợ cho các hoạt động ngoại thương, quản lý
ngoại hối, hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhà nước trong khi NHĐT&PT cung cấp
vốn dài hạn cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và công trình công cộng.
Chính vì thế mà hệ thống ngân hàng của Việt Nam trong giai đoạn này có đặc
điểm là một cấp, cụ thể:
- Thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, độc quyền và duy nhất,
- Thực hiện đồng thời hai chức năng: quản lý nhà nước và hạch toán kinh
doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng,
- Được xây dựng và quản lý theo cơ cấu tổ chức hành chính, hoạt động
theo nguyên tắc kế hoạch hoá tập trung trên phạm vi cả nước

1.000 quỹ tín dụng dân nhân ở cả trung ương và cơ sở
6
. Mặc dù có sự xuất hiện
của nhiều NHTM ngoài quốc doanh, các NHTM nhà nước vẫn giữ vị trí chủ
đạo, có thị phần chiếm tới 70% tổng tín dụng của cả nước. Nhóm cung cấp tín
dụng nhiều thứ hai là các ngân hàng nước ngoài với thị phần 15%, tiếp theo là
các NHTM cổ phần với tỷ trọng 12%, thấp nhất là các ngân hàng liên doanh có
thị phần chỉ ở mức 3%.
Biểu đồ 1: Thị phần cho vay phân theo loại hình tổ chức tín dụng
Nguồn: Ngân hàng Thế giới, Banking Sector Review, trang 9.
Cùng với quá trình hội nhập khu vực và thế giới của nền kinh tế, nhất là
kể từ khi Hiệp định thương mại Việt - Mỹ có hiệu lực
7
, rồi đây sẽ có thêm nhiều
ngân hàng nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh
trong hệ thống ngân hàng ở Việt Nam. Đây cũng chính là thách thức to lớn buộc
các NHTM trong nước phải tự hoàn thiện, nâng cao khả năng cạnh tranh của
bản thân và phát triển theo hướng các chuẩn mực ngân hàng quốc tế.
2. Khái quát về thể chế tín dụng ngân hàng ở Việt Nam:
2.1 Những thay đổi về thể chế tín dụng ngân hàng trong thời gian qua:
2.1.1 Giai đoạn trước năm 1994:
Trước năm 1994, những quy định cụ thể về quan hệ tín dụng giữa các
TCTD và doanh nghiệp được thể chế hoá trong Thể lệ tín dụng ngắn hạn
8

6
6
Thời báo kinh tế Việt Nam, Nỗi lo ng y mà ột nhân lên, số 161, ng y 8/10/2003.à
7
7

vốn, bao gồm: đơn xin vay, tài liệu liên quan đến việc đầu tư xây dựng công
trình, tài liệu chứng minh khả năng tài chính, căn cứ pháp lý về giá trị tài sản
thế chấp tiền vay.
Kể từ ngày nhận món vay đầu tiên đến khi trả hết nợ, hàng tháng, quý,
năm doanh nghiệp phải gửi đến TCTD các Báo cáo thực trạng tài chính; Bảng
tổng kết tài sản; Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo về tình trạng
9
9
Ban h ng kèm theo Quyà ết định 23/NH-QĐ ng y 6/3/1991 cà ủa Thống đốc NHNN.
tài sản thế chấp. Đến hạn trả nợ, doanh nghiệp phải chủ động trả nợ và lãi cho
TCTD, số nợ đến hạn không trả đủ phải chuyển nợ quá hạn. Nếu các doanh
nghiệp mất khả năng trả nợ khi đến hạn thì TCTD được quyền phong toả, phát
mại, thanh lý tài sản thế chấp để thu nợ.
2.1.2 Giai đoạn 1994-1997:
Trong giai đoạn này, các thể chế tín dụng ngân hàng đã được sửa đổi tới 2
lần, với những quy định thay đổi như sau:
a. Sửa đổi lần 1: được thực hiện đối với tín dụng ngắn hạn, thay thế Thể
lệ tín dụng ngắn hạn
10
năm 1994 và đối với tín dụng trung-dài hạn, thay thế Thể
lệ tín dụng trung-dài hạn
11
vào năm 1995. Hai thể chế tín dụng mới đều có một
số điểm mới chung là:
- Về điều kiện vay vốn: doanh nghiệp có thể cùng một lúc ở nhiều TCTD.
Doanh nghiệp có thể dùng một tài sản để thế chấp, cầm cố nhiều lần tại một bên
cho vay hoặc có thể thế chấp, cầm cố nhiều lần cho nhiều bên cho vay trong
trường hợp cùng vay một dự án đầu tư
12
.

Đối với cả hai loại vay nói trên, thời gian quyết định cho vay hay không
cho vay của TCTD được quy định rút ngắn xuống còn 20 ngày (trước đây là 30
ngày). Ngoài ra, hai thể lệ tín dụng mới còn quy định cụ thể về việc trả nợ; gia
hạn nợ, giảm lãi, miễn lãi, kiểm tra và xử lý nợ; quyền của bên vay và bên ho
vay.
b. Sửa đổi lần 2: diễn ra vào năm 1997, với việc tiếp tục sửa đổi, bổ sung
cả Thể lệ tín dụng ngắn hạn và Thể lệ tín dụng trung và dài hạn
13
theo hướng
nới lỏng hơn các điều kiện vay vốn đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các
DNNN. Chẳng hạn, nếu DNNN đang bị lỗ mà có phương án sản xuất kinh
doanh mới có hiệu quả hoặc bên vay đang có nợ quá hạn là kết quả của việc
Nhà nước thay đổi chủ trương hoặc do các nguyên nhân bất khả kháng thì vẫn
được phép tiếp tục vay vốn. Ngoài ra, một số điểm quy định về trả nợ, gia hạn
nợ, mua bán nợ,...cũng được bổ sung và sửa đổi.
2.1.3 Giai đoạn 1998 đến nay:
13
13
Quyết định 199 v 200-Qà Đ/NH1 ng y 28/6/1997 cà ủa Thống đốc NHNN.
Ngày 30/9/1998, Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách
hàng
14
được ban hành, thay thế cho các văn bản có liên quan ra đời trước đây.
Quy chế mới áp dụng cho cả thể lệ tín dụng ngắn hạn và trung - dài hạn, và là
khung quy định chung cho tất cả các loại hình cấp tín dụng bằng cả đồng Việt
Nam và ngoại tệ như cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay
theo dự án, cho vay hợp vốn, cho vay trả góp, chiết khấu thương phiếu, bảo
lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác. Quy chế mới cũng bao gồm cả
những quy định riêng cho loại tín dụng ưu đãi.
Quy chế mới đã có những quy định mở cho các TCTD có điều kiện

riêng hiện nay được điều chỉnh bởi Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối
với khách hàng được ban hành kèm theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN
ngày 31/12/2001 của Thống đốc NHNN Việt Nam. Quy chế này quy định hoạt
động cho vay khách hàng của các TCTD ở những điểm chính sau:
2.2.1 Đối tượng áp dụng
15
:
a. Các tổ chức tín dụng được thành lập và thực hiện nghiệp vụ cho vay
theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng. Trường hợp cho vay bằng ngoại
tệ, các tổ chức tín dụng phải được phép hoạt động ngoại hối.
b. Khách hàng vay tại tổ chức tín dụng:
- Các pháp nhân và cá nhân Việt Nam gồm:
+ Các pháp nhân là: Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các
tổ chức khác có đủ các điều kiện quy định tại Điều 94 Bộ Luật Dân sự
16
,
+ Cá nhân;
+ Hộ gia đình;
15
15
Điều 2 Quy chế cho vay ban h nh kèm theo Qà Đ 1627/QĐ-NHNN ng y 31/12/2001 cà ủa Thống đốc
NHNN.
16
16
Theo đó, một tổ chức được công nhận l pháp nhân khi có à đủ 4 điều kiện: được cơ quan nh nà ước có
thẩm quyền th nh là ập, đăng ký hoặc công nhận; có cơ cấu t i sà ản chặt chẽ; có t i sà ản độc lập với cá nhân,
tổ chức khác v tà ự chịu trách nhiệm bằng t i sà ản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một
cách độc lập.
+ Tổ hợp tác;

Điều 6 Quy chế cho vay ban h nh kèm theo Qà Đ 1627/QĐ-NHNN ng y 31/12/2001 cà ủa Thống đốc
NHNN.
18
18
Điều 7 Quy chế cho vay ban h nh kèm theo Qà Đ 1627/QĐ-NHNN ng y 31/12/2001 cà ủa Thống đốc
NHNN.
- Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có
hiệu quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp
với quy định của pháp luật.
- Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính
phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
2.2.4 Lãi suất cho vay
19
:
- Mức lãi suất cho vay do TCTD và khách hàng thoả thuận phù hợp với
quy định của NHNN Việt nam.
- Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn do TCTD ấn định
và thoả thuận với khách hàng trong hợp đồng tín dụng nhưng không vượt quá
150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều
chỉnh trong hợp đồng tín dụng
20
.
2.2.5 Phương thức cho vay
21
:
Trên cơ sở nhu cầu vay vốn, mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng,
độ tín nhiệm của khách hàng và khả năng kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn
vay của TCTD, TCTD sẽ thoả thuận với khách hàng về việc cho vay theo một
trong các phương thức sau:
- Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và TCTD thực hiện thủ

mối dàn xếp, phối hợp với các TCTD khác. Việc cho vay hợp vốn thực hiện
theo quy định của Quy chế này và Quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng
do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành.
- Cho vay trả góp: Khi vay vốn, TCTD và khách hàng xác định và thoả
thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia để trả nợ theo nhiều
kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: TCTD cam kết đảm bảo sẵn
sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. TCTD
và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng,
mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
- Cho vay thông qua nghiêp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng : TCTD
chấp nhận cho khách hàng sử dụng vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để
thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động
hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của TCTD. Khi cho vay phát hành và sử dụng
thẻ tín dụng, TCTD và khách hàng phải tuân theo quy định của Chính phủ và
NHNN Việt Nam về phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà TCTD thoả thuận
bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản
thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và NHNN
Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
- Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp với
quy định tại Quy chế này, điều kiện hoạt động kinh doanh của TCTD và đặc
điểm của khách hàng vay.
2.2.6 Biện pháp bảo đảm tiền vay:
Bảo đảm tiền vay là việc TCTD áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa
rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách
hàng vay.
Điều 3, Nghị định 178/NĐ-CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay của
các TCTD quy định những biện pháp bảo đảm tiền vay sau:
- Cho vay có bảo đảm bằng tài sản:

này:
Hoạt động tín dụng ngân hàng thời kỳ bao cấp chủ yếu đầu tư cho các
DNNN, các DNNQD không được coi trọng. Do vậy, vốn TDNH thời kỳ này tập
trung tới 90% cho các DNNN, chỉ 10% còn lại là dành cho các đơn vị kinh tế
tập thể và cá thể.
Tuy nhiên, những năm gần đây, hoạt động TDNH đối với KVNQD đã
được cải thiện đáng kể. Dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng cho KVNQD có
xu hướng ngày càng tăng lên, phản ánh hệ thống ngân hàng ngày càng đóng vai
trò quan trọng trong việc tài trợ nhu cầu đầu tư vào sản xuất kinh doanh của
KVNQD (xem bảng)
Bảng 4: Tín dụng của hệ thống ngân hàng giai đoạn 1997-2002
Chỉ tiêu Đơn vị 1997 1998 1999 2000 2001 2002*
Tổng tín dụng
nghìn tỷ đồng 62,2 72,7 112,6 155,7 190,7 215,6
- Cho KVQD nghìn tỷ đồng 31,2 38,1 54,3 69,9 79,7 86,9
-Cho KVNQD
23
nghìn tỷ đồng 31 34,6 58,3 85,8 111 128,7
Tổng tín dụng
% 100 100 100 100 100 100
- Cho KVQD % 50,16 52,41 48,22 44,89 41,79 40,31
- Cho KVNQD % 49,84 47,59 51,78 55,11 58,21 59,69
Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (World Bank).
Chú thích: số liệu đã được làm tròn, * ước tính.
- Về số tuyệt đối, bảng trên cho thấy dư nợ tín dụng ngân hàng cho
KVNQD không ngừng tăng lên trong giai đoạn 1997-2002 với tốc độ phát triển
trung bình là 132,94%. Nếu như năm 1997, tín dụng ngân hàng cấp cho
KVNQD mới chỉ là 31.000 tỷ đồng thì đến năm 1999, tức là chỉ sau 2 năm, con
số này đã tăng gần gấp đôi, 58.300 tỷ đồng. Tuy nhiên, không dừng lại ở đó,
theo số liệu ước tính của Ngân hàng thế giới thì tổng dư nợ tín dụng cho khu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status