THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHNO&PTNT HÀ NỘI ĐỐI VỚI KHU VỰC KINH TẾ NGOÀI QUỐC DOANH - Pdf 92

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chơng i
tín dụng ngân hàng đối với thành phần
kinh tế ngoài quốc doanh
1. Tín dụng ngân hàng
1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Ngân hàng thơng mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ với các nghiệp vụ
hoạt động kinh doanh là nghiệp vụ nợ, nghiệp vụ có và nghiệp vụ trung gian.
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ chủ yếu không phải bằng tiền vốn tự có mà bằng
nguồn vốn của những ngời gửi tiền. Có nghĩa là ngân hàng huy động vốn từ nhiều
nguồn khác nhau. Sau đó sử dụng vốn đó bằng cách cho vay, chiết khấu hay đầu t,
liên doanh. Nghiệp vụ trung gian là dịch vụ ngân hàng hỗ trợ cho các hoạt động
của các doanh nghiệp. Khi huy động vốn ngân hàng phải có trách nhiệm hoàn trả
cả lãi và gốc cho khách hàng, sau đó sử dụng Nguồn vốn huy động đó để kinh
doanh và thu lãi. Đây là nguồn gốc của tín dụng ngân hàng.
Theo cách hiểu chung nhất, tín dụng ngân hàng là quan hệ kinh tế giữa một
bên là ngân hàng và một bên là khách hàng của ngân hàng, trong đó ngân hàng
chuyển giao tiền hay tài sản cho khách hàng sử dụng kèm theo thời gian gian hoàn
trả lại cho ngân hàng toàn bộ số gốc và một phần lãi do hai bên thoả thuận.
Thông qua việc cung ứng vốn nh vậy cho nền kinh tế, hoạt động tín dụng
ngân hàng ảnh hởng đến sự phát triển của các ngành nghề kinh tế và các thành
phần kinh tế. Các chủ trơng, chính sách tín dụng của ngân hàng sẽ quyết định việc
kích thích hay hạn chế hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế .
1.2. Các hình thức tín dụng ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trờng ,các hoạt động kinh tế diễn ra hết sức đa dạng
và phong phú. Để đáp ứng đợc sự đa dạng và phong phú đó thì đòi hỏi tín dụng
ngân hàng cũng phải có những hình thức khác nhau. Có rất nhiều hình thức phân
loại tín dụng ngân hàng khác nhau tuỳ theo các tiêu thức khác nhau. theo điều 49
mục 2 luật các tổ chức tín dụng thì tín dụng ngân hàng đợc phân theo các hình
thức sau:
1

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2.3 Hình thức nhận trả
Đây là hình thức mà Ngân hàng nhận trả thay nợ cho ngời phát hành kỳ
phiếu khi đến hạn thanh toán mà ngời phát hành kỳ phiếu không có khả năng
thanh toán. Đây là sự đảm bảo chắc chắn cho ngời sử dụng kỳ phiếu rằng họ sẽ
nhận đợc tiền khi đến hạn thanh toán cũng nh có thể dễ dàng đem kỳ phiếu đi đến
chiết khấu. Để có thể sự đảm bảo đó, doanh nghiệp phải phát hành kỳ phiếu đó
phải trả cho Ngân hàng một khoản tiền gọi là hoa hồng .
Trong hợp đồng tín dụng giữa ngời phát hành kỳ phiếu và Ngân hàng có
quy định ngời phát hành kỳ phiếu phải giao số tiền của kỳ phiếu chậm nhất là trớc
ngày kỳ phiếu đến hạn. Ngân hàng phải thẩm định khả năng cho doanh nghiệp đó
phát hành kỳ phiếu.
1.2.4 Tín dụng trả nhiều lần
Là hình thức cho vay mà việc trả nợ đợc phân ra làm nhiều lần, mỗi lần trả
nợ bao gồm một phần gốc và một phần lãi. Loại tín dụng này rất phù hợp với đặc
điểm sử dụng vốn của doanh nghiệp là thu hồi vốn làm nhiều lần.
Tín dụng trả nhiều lần bao gồm các loại tín dụng ngắn, trung và dài hạn.
Doanh nghiệp và Ngân hàng thoả thuận mức cho vay, lãi suất cho vay và kỳ hạn
trả nợ cũng nh số lãi và gốc cho môĩ lần trả nợ. Tín dụng trả nợ nhiều lần có thị tr-
ờng rộng lớn và phong phú, tuy nhiên, cần có điều kiện đảm bảo để thực hiện loại
tín dụng này.
1.2.5 Hình thức bảo lãnh
Đây là hình thức tín dụng phát sinh do Ngân hàng nhận bảo lãnh dùng uy
tín của mình để đảm bảo thanh toán cho ngời bán hàng trong trờng hợp ngời mua
hàng ( ngời đợc bảo lãnh ) không có khả năng thanh toán nợ.
Có hai loại bảo lãnh:
Bảo lãnh bằng th: Ngân hàng phái hành một th bảo lãnh để khách hàng có thể
mua vật t hàng hoá, bao thầu.. Trong th bảo lãnh Ngân hàng cam kết sẽ trả thay
cho khách hàng khi khách hàng không trả tiền , nộp thuế..
Bảo lãnh bằng hình thức chấp nhận: Ngân hàng có thể dùng cách ký chấp

ro, thất thoát trong hoạt động tín dụng của mình thì các Ngân hàng phải cấp tín
dụng theo một trình tự chặt chẽ. Tuỳ theo quy mô, tổ chức, đặc điểm của từng
món vay, từng khách hàng và điều kiện thức tế để thực hiện quy trình cho vay, nh-
ng nhìn chung theo các bớc nh sau: lập hồ sơ xin cấp tín dụng, thẩm định (hay còn
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
gọi là phân tích tín dụng), quyết định tín dụng, giải ngân, giám sát, thu nợ và
thanh lý tín dụng.
1.3.1 Lập hồ sơ đề nghị cấp tín dụng
Để có đợc một quyết định chính xác về việc cấp tín dụng hay không, ngân
hàng phải phân tích hàng loạt các thông tin có liên quan, và nguồn sơ khởi đầu
tiên có đợc là lấy từ hồ sơ đề nghị cấp tín dụng. Xét về mặt kinh tế, mặc dù quan
hệ tín dụng cha hình thành, nhng đây là giai đoạn chuẩn bị những điều kiện cần
thiết để quan hệ tín dụng đợc thiết lập một cách lành mạnh. Xét về mặt thủ tục
hành chính, thì đây là giai đoạn hình thành đầy đủ các giấy tờ, văn bản chứng tỏ
khách hàng có nhu cầu về vốn tín dụng, cũng nh chứng minh đợc tính hợp pháp về
nhân thân khách hàng và tính tự nguyện xin cấp tín dụng của khách hàng. Số lợng
giấy tờ trong hồ sơ đợc lập ở giai đoạn này phụ thuộc vào các yếu tố sau: loại
khách hàng, loại và kỹ thuật cấp tín dụng, quy mô nhu cầu tín dụng. Nhìn chung,
những thông tin mà khách hàng phải cung cấp có thể phân thành bốn nhóm sau:
những tài liệu chứng minh năng lực pháp lý của khách hàng, những tài liệu chứng
minh khả năng hấp thụ vốn tín dụng và khả năng hoàn trả vốn tín dụng của khách
hàng, những tài liệu liên quan đến bảo đảm tín dụng hoặc điều kiện cấp tín dụng
đặc thù, giấy đề nghị cấp tín dụng đi kèm.
1.3.2 Phân tích tín dụng
Phân tích tín dụng là phân tích khả năng hiện tại và tiềm tàng của khách
hàng, về sử dụng vốn tín dụng cũng nh khả năng hoàn trả vốn vay ngân hàng. Mục
tiêu của phân tích tín dụng là tìm kiếm những tình huống có thể dẫn đến rủi ro cho
ngân hàng và tiên lợng khả năng kiểm soát của ngân hàng về các loại rủi ro đó,
cũng nh dự kiến các biện pháp phòng ngừa và hạn chế những thiệt hại có thể xảy

về lợng của nhu cầu vay vốn tín dụng. ở đây, ngân hàng sẽ xác định quy mô của
nhu cầu vay hợp lý. Nhu cầu vay đợc xác định tùy theo khả năng hoạt động của
khách hang, theo quy mô về nguồn vốn cần thiết để thực hiện phơng án tài chính,
mà trong đó một phần vốn vay sẽ tham gia.
Bên cạnh đó, trong quá trình phân tích tài chính, ngân hàng cũng sẽ xác định
thời hạn hợp lý cho các khoản vay. Cơ sở để xác định thời hạn vay là tính chất
luân chuyển vốn của phơng án sản xuất kinh doanh và phơng án tài chính hoặc
chu kỳ ngân quỹ của khách hàng. Hơn nữa, thời hạn cho vay phải không đợc vợt
quá thời hạn tối đa mà ngân hàng quy định cho từng loại đối tợng vay cũng nh mỗi
ngành, nghề của khách hàng.
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Cùng với việc xác định thời hạn cho vay, ngân hàng còn xác định các kỳ
hạn trả nợ. Một khoản vay có thể quy định một kỳ hạn trả nợ duy nhất, cũng có
thể định nhiều kỳ hạn trả nợ. Tuy nhiên, dù có chia ra nhiều lần trả nợ thì về
nguyên tắc kỳ hạn trả nợ cuối phải trùng với ngày đáo hạn của khoản vay.
1.3.3 Ra quyết định tín dụng
Ra quyết định tín dụng nh thế nào, chấp thuận hay không chấp thuận là
công việc cực kỳ quan trọng. Nó không những ảnh hởng đến tiến trình hoạt động
của khách hàng, mà còn ảnh hởng đến cả uy tín của ngân hàng. Trong thực tế,
ngân hàng rất sợ gặp hai loại sai lầm. Thứ nhất, quyết định chấp thuận mà sau đó
khách hàng lại không có khả năng trả nợ. Trờng hợp này, ngân hàng có thể bị
giảm lợi nhuận, thậm chí mất vốn, giảm uy tín. Thứ hai, quyết định không chấp
thuận khách hàng có khả năng hoàn trả vốn tín dụng đúng hạn. Trờng hợp này
thiệt hại từ phía ngân hàng cũng đáng kể. Đó là, ngân hàng mất một cơ hội tăng
thu nhập, mất đi một khách hàng, cơ hội mở rộng thị phần của mình. Vì lẽ đó,
trong giai đoạn này vai trò của ngời ra quyết định đợc đề cao.
Cơ sở để ra quyết định tín dụng: ngoài các thông tin đợc chuyển giao từ giai
đoạn trớc chuyển sang, ngời ra quyết định còn phải dựa vào những cơ sở sau:
thông tin cập nhật từ thị trờng, các cơ quan có liên quan; chính sách tín dụng của

dù đã ký hợp đồng tín dụng, ngân hàng chỉ cấp tiền vay theo các quy địnhcủa hợp
đồng tín dụng.
Việc áp dụng các phơng pháp giải ngân khác nhau phụ thuộc vào kỹ thuật
cho vay khác nhau nh cho vay để mua tồn kho, máy móc thiết bị, hay các tài
sản;cho vay để thực hiện các d án đầu t; cho vay để mua hàng nông sản...
1.3.5 Giám sát, thu nợ và thanh lý tín dụng
Giai đoạn giám sát tín dụng sẽ đợc tiếp nối với mục tiêu, theo dõi, đánh giá
mức độ chấp hành tín dụng của khách hàng và kịp thời có cách ứng xử thích hợp.
Nội dung của giai đoạn này chủ yếu gồm: giám sát tín dụng, thu nợ, tái xét tín
dụng và phân hạng tín dụng, xử lý nợ quá hạn, nợ có vấn đề. Mục tiêu của giám
sát tín dụng là kiểm tra việc thực hiện các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng
tín dụng, bao gồm: khách hàng có sử dụng vốn có đúng mục đích không, kiểm
soát mức độ rủi ro tín dụng phát sinh trong quá trình sử dụng vốn tín dụng, theo
dõi các điều khoản cụ thể đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng....có thể giám sát
thông qua hoạt động tài khoản của khách hàng tại ngân hàng, phân tích báo cáo tài
chính theo định kỳ, viếng thăm và kiểm soát địa điểm hoạt động kinh doanh, kiểm
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tra các bảo đảm tiền vay, thông qua mối quan hệ với khách hàng và qua những
thông tin khác.
Việc thu nợ của ngân hàng phu thuộc vào phơng thức cấp tín dụng trớc đó.
Đối với khoản tín dụng thu theo nhiều kỳ hạn, thu lãi và gốc có thể tách rời, nhân
viên ngân hàng có trách nhiệm theo dõi kế hoạch trả nợ, và thờng xuyên có thông
tin qua lại giữa nhân viên kế toán và cán bộ tín dụng, giám sát, đôn đốc kịp thời
khi đến kỳ hanh trả nợ.
Tái xét tín dụng và phân hạng tín dụng thực chất là tiến hành phân tích tín
dụng trong điều kiện khoản tín dụng đã đợc cấp. Mục tiêu của xem xét lại tín dụng
là đánh giá lại chất lợng tín dụng, nhằm phát hiện các rủi ro để có hớng xử lý kịp
thời.
Khi các khoản vay có vấn đề, tức là xảy ra nợ quá hạn ngân hàng sẽ chuyển

của nhóm thành viên đại diện cho ít nhất 3/4 số vốn điều lệ của công ty. Có công
ty Trách nhiện hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên
trở lên.
- Công ty cổ phần: Là công ty trong đó số thành viên gọi là cổ đông mà công ty
phải có trong suốt thời gian hoạt động ít nhất là ba ngời...Vốn điều lệ của công ty
đợc chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần: Cổ phiếu đợc phát hành có ghi
tên hoặc không ghi tên. Cổ phiếu không ghi tên đợc tự do chuyển nhợng, cổ phiếu
có ghi tên chỉ đợc chuyển nhợng nếu sự đồng ý của Hội đồng quản trị.
- Hợp tác xã: Là đơn vị kinh tế do nhiều lao động cùng nhau góp vốn sản xuất
kinh doanh.Hợp tác xã hoạt động theo luật hợp tác xã và trên nguyên tắc bình
đẳng, dân chủ, cùng hởng lợi, cùng chịu rủi ro với mọi thành viên nhằm kết hợp
sức mạnh tập thể để giải quyết có hiệu quả hơn những vấn sản xuất kinh doanh và
đời sống, Cơ quan cao nhất là Đại hội xã viên, cơ quan quản lý hoạt động của hợp
tác xã là ban chủ nhiệm hợp tác xã đợc các xã viên bầu ra theo luật hợp tác xã.
Trong những năm gần đây quan điểm phát triển nền kinh tế nớc ta bằng
con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc là sự nghiệp của toàn dân đòi hỏi
sự khác nhau của các thành phần kinh tế. Sản lợng các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh đã tăng lên nhanh chóng và tham gia tích cực hơn vào thị trờng, góp phần
làm cho nền kinh tế trở nên sôi động.
Bảng 1: Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh mới đăng ký trong từng năm
1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Số lợng doanh
nghiệp
110 3985 7493 7175 6158 5490 3657 3022 3601 14417
Tổng lợng vốn
(tỷ đồng)
118 3015 3458 2588 2880 2506 1784 2204 3435 13783
Vốn trung bình

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
GDP, Theo báo cáo gần đây của tổng cục thống kê thì doanh nghiệp t nhân, công
ty trách nhiệm hữu hạn , công ty cổ phần đã tạo ra khoảng 8% GDP, hộ kinh
doanh có thể tạo ra khoảng 8 - 9% GDP và các hợp tác xã tạo ra khoảng 9% GDP.
Nh vậy, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh không kể sản xuất nông nghiệp đã tạo
ra khoảng 25 -26 % GDP của cả nớc. Riêng năm 2000 luật doanh nghiệp đã đẩy
tốc độ tăng trởng giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh lên 18,3% so với
10,9% năm 1999 và là mức cao nhất trong 10 năm qua. Qua sự phát triển ngày
càng mạnh mẽ của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh mà tổng giá trị thuế Nhà nớc
thu đợc từ khu vực này tăng lên góp phần thúc đẩy tái sản xuất mở rộng, tại điều
kiện cho lực lợng sản xuất phát triển.
Thu hút vốn trong dân c , tăng thu nhập ngời lao động
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu t , các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh đóng góp quan trọng trong việc huy động vốn cho nền kinh tế.
Tổng vốn của doanh nghiệp t nhân, công ty trách nhiêm hu hạn, công ty cổ phần
từ năm 1990 - 1999 là 24.500 tỷ VND chiếm 17,8% tổng số vốn đăng ký của tất
cả các doanh nghiệp hoạt động theo pháp luật ( bao gồm cả doanh nghiệp nhà n-
ớc). Tổng số vốn đầu t thực tế của các doanh nghiệp , công ty t nhân có lẽ còn cao
hơn nhiều con số này.
Hết năm 2000 số vốn đã đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh theo luật doanh nghiệp mới khoảng 24.000 tỷ VND ( khoảng 1.65 tỷ
USD ). Tính đến thánh 3/2001 cả nớc có khoảng 18.400 doanh nghiệp đợc thành
lập 28.000 tỷ VND (khoản 1.9 tỷ USD). Nh vậy, một lợng vốn lớn trong nhân dân
đã đợc đa vào sản xuất kinh doanh, bởi phần lớn số vốn của các doanh nghiệp t
nhân là nguồn vốn phi chính thức vay của anh em họ hàng, mua bán chịu, vay
nặng lãi, chơi hụi họ nguồn vốn chính thức từ Ngân hàng và các tổ chức tín
dụng chỉ chiếm số lợng thiểu số. Qua đó 500.000 chỗ làm việc mới đã đợc tạo ra,
góp phần tăng thu nhập của ngời lao động , giải quyết nạn thất nghiệp. Trong
những năm tới đây để khu vực kinh tế t nhân phát triển hơn nữa Nhà nớc cần tạo ra
môi trờng kinh tế thông thoáng, xác định rõ ràng vai trò của từng thành phần kinh

dùng.
2.3.2. Đối với xã hội
Đa dạng hoá sản phẩm, đáp ứng nhu cầu xã hội.
Những năm gần đây khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trờng, hàng
loạt các doanh nghiệp ngoài quốc doanh xuất hiện trong các lĩnh vực nh công
nghiệp, chế biến, thơng mại, dịch vụ... góp phần làm cho nên kinh tế trở nên hết
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
sức đa dạng và phong phú. Khách hàng trở thành thợng đế, hàng hoá tràn ngập
trên thị trờng với nhiều chủng loại đáp ứng tốt nhất yêu cầu của ngời tiều dùng.
Việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đã góp phần tạo ra các sản phẩm có hình
thức, mẫu mã đẹp, giá thành hạ đem lại lợi ích cho ngời tiêu dùng. Không chỉ vậy,
các doanh nghiệp ngoại quốc doanh còn tạo ra nguồn thu nhập , tăng sức mua của
thị trờng, kích thích các ngành sản xuất, thơng mại dịch vụ phát triển đáp ứng mọi
nhu cầu của ngời tiêu dùng. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh với hình thức đa
dạng chủ yếu là quy mô vừa và nhỏ, chuyển đổi kinh doanh nhanh xâm nhập vào
mọi nơi của thị trờng mà các doanh nghiệp nhà nớc không thực hiện đợc. Doanh
nghiệp ngoài quốc doanh tồn tại nh một thực thể khách quan nhằm lấp những chỗ
trống trong nhu cầu đa dạng của thị trờng mà các doanh nghiệp nhà nớc không
đáp ứng đợc.
Qua thực tiễn hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta nhận
thấy một điều là: cùng với sự ra đời và phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh thì hàng hoá trên thị trờng đã hết sức đa dạng từ hàng hoà thiết yếu đến
hàng hoá thông thờng, phong phú về mẫu mã, chất lợng, chủng loại.
Giải quyết thất nghiệp, giảm các tệ nạn xã hội.
Việt Nam là một quốc gia có dân số đông, trẻ, vì vậy trung bình hàng năm
có 1,2 - 1,4 triệu thanh niên gia nhập thị trờng lao động, gây nên một sức ép lớn
cho việc giải quyết việc làm. Sức ép về lao động trong quá trình chuyển đổi cơ cấu
ngày càng tăng, nhu cầu việc làm ngày càng lớn, sự chênh lệch ngày càng lớn giữa
cung và cầu lao động, kể cả lợng và chất. Trong khi khu vực kinh tế nhà nớc đang

của doanh nghiệp. Nhng nhìn chung, vốn mà các doanh nghiệp có thể huy động đ-
ợc bắt nguồn từ hai nguồn chính sau:
2.3.1 Vốn tự có của doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp muốn thành lập và hoạt động đợc thì chủ doanh nghiệp
phải đầu t một số vốn nhất định. Đối với các doanh nghiệp nhà nớc, vốn ban đầu
chính là vốn do ngân sách Nhà nớc cấp, còn đối với các doanh nghiệp khác mức
vốn đợc quy định cho từng ngành nghề kinh doanh gọi là vốn pháp định. Đây là
mức vốn tối thiểu phải có để đợc thành lập và hoạt động theo quy định của Nhà n-
ớc. Tuy nhiên hiện nay khái niệm vốn pháp định đã đợc thay thế bằng vốn điều
lệ, ngoại trừ một số ngành nghề kinh doanh dặc biệtt nh vàng bạc, xây dựng..
Trong thực tế, vốn tự có của doanh nghiệp t nhân thờng lớn hơn nhiều so
với vốn pháp định, nhất là sau một thời gian hoạt động và mở rộng kinh doanh.
Tuy nhiên cũng có nhiều trờng hợp do nhiều nguyên nhân khác nhau nên nguồn
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vốn tự có của các doanh nghiệp không còn đủ khả năng duy trì hoạt động của
công ty.
Đối với công ty cổ phần, vốn đóng góp ban đầu của các cổ đông là nền tảng
và là yếu tố quyết định để thành lập công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của
công ty và chỉ chịu trách nhiệm trên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ. Số vốn mà
mỗi công ty cổ phần huy động đợc khi thành lập công ty để đăng ký với cơ quan
Nhà nớc có thẩm quyền gọi là vốn điều lệ. Trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh, khi làm ăn có lãi các công ty cổ phần thờng có nhu cầu tăng vốn để
mở rộng sản xuất kinh doanh với hi vọng thu đợc nhiều lợi nhuận hơn.
Một bộ phận khác của vốn tự có của doanh nghiệp là nguồn vốn từ lợi
nhuận để lại. Một số doanh nghiệp coi trọng việc tái đầu t để mở rộng sản xuất
kinh doanh. Mục đích là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và lợi nhuận đem lai
ngày càng cao.
Ngoài ra trong quá trình hoạt động khi cần mở rộng quy mô sản xuất kinh
doanh, lắp đặt thêm hoặc đổi mới thiết bị công nghệ công ty cũng có thể tăng

doanh
Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối u cho các doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trờng.
Hiếm có doanh nghiệp nào chỉ sử dụng vốn tự có của mình để hoạt động
sản xuất kinh doanh , bởi vì điều đó không hạn chế khả năng mở rộng sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp mà còn làm tăng chi vốn. Hiện nay, để thực hiện các
quyết định đầu t các doanh nghiệp thờng thích sử dụng vốn vay vì nếu chủ sở hữu
doanh nghiệp chỉ đóng góp một tỷ lệ nhỏ trong tổng số vốn góp thì rủi ro trong sản
xuất kinh doanh chủ yếu do các chủ nợ khách gánh chịu. Mặt khác, bằng cách
tăng vốn thông qua vay nợ, các chủ doanh nghiệp vẫn nắm quyền kiểm soát và
điều hành doanh nghiệp . Ngoài ra, nếu doanh nghiệp thu đợc lợi nhuận từ tiền vay
lớn hơn lãi vay phải trả thì lợi nhuận dành cho chủ doanh nghiệp gia tăng đáng kể.
Hơn nữa, lãi vay đợc tính trong chi phí hợp lý hợp lẽ khi tính thuế thu nhập, từ đó
công ty sẽ đợc hởng một phần lợi từ thuế. Tuy nhiên, nếu tỷ lệ nợ quá cao, doanh
nghiệp sẽ bị rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. việc tăng sử dụng nợ làm
tăng rủi ro của các luồng tiền vào của công ty. Nhng tỷ lệ nợ qúa cao thờng dẫn
đến mức lãi suất mong đợi cao hơn. Vì vậy, rủi ro cao hơn cùng với khuynh hớng
làm giảm giá cổ phiếu, nhng lãi suất mong đợi cao hơn. Do đó, công ty phải xác
định một cơ cấu vốn tối u, đó là một cơ cấu hớng tới sự cân bằng giữa lãi suất và
rủi ro và tối đa đợc giá cổ phiếu của công ty. Qua đó, ta thấy rằng doanh nghiệp sử
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
dụng vốn vay từ Ngân hàng hay vốn vay tín dụng sẽ góp phần hình thành cơ cấu
vốn tối u.
Tín dụng Ngân hàng góp phần tăng cờng quy mô vốn lu động của doanh
nghiệp ngoài quốc doanh, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Do đặc điểm sản xuất của các loại hình kinh tế ngoài quốc doanh thờng có
chu kỳ sản xuất nhanh, đòi hỏi thờng xuyên bổ sung vốn lu động vợt qua khả năng
vốn tự có của công ty, doanh nghiệp. Vốn lu động là số tiền ứng trớc để trả lơng,
mua nguyên nhiên vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, một số công cụ

việc bảo đảm, cách thức và thời gian giao hàng, việc lắp đặt, bảo lãnh và những
vấn đề khác liên quan đến tài sản thuê. Quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên đợc
xác định dựa trên hợp động tín dụng thuê mua đã ký kết. Nhờ đó, các doanh
nghiệp có nhiều điều kiện thuận lợi hơn trong việc đầu t trang thiết bị phục vụ cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình.
Tín dụng Ngân hàng góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp sử dụng vốn có
hiệu quả hơn.
Tín dụng Ngân hàng với đặc điểm là buộc ngời vay phải trả lãi và gốc trong
thời gian nhất định nào đó đã buộc ngời kinh doanh phải nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn vay. Ngời đi vay phải tính toán chi phí sản xuất, tốc độ quay vòng vốn
để sao cho khi hết hạn vay có đủ vốn và lãi trả cho Ngân hàng và tạo ra một phần
lợi nhuận cho mình. Với điều khiện ràng buộc về lãi suất, thời gian và mục địch sử
dụng vốn vay và phải thúc đẩy sản xuất kinh doanh của mình sao cho đạt đợc hiêụ
quả cao nhất. Nh vậy, tín dụng Ngân hàng góp phần thúc đẩy việc hạch toán kinh
doanh của các doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
3.2. Các nhân tố ảnh hởng đến mở rộng tín dụng đối với doanh nghiệp
ngoài quốc doanh .
3.2.1. Nhân khách quan
Môi trờng pháp lý.
Trong nền kinh tế thị trờng, mọi chủ thể đều có quyền tự chủ về hoạt động
sản xuất kinh doanh nhng phải đảm bảo trong khuôn khổ pháp luât cho phép. Trớc
hết, đứng về phía các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, kể từ khi có luật công ty,
luật tổ doanh nghiệp nhân năm 1990 và cho đến năm gần đây năm 2000. Luật
doanh nghiệp đợc chính thức áp dụng, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã có
một hành lang pháp lý tơng đối đầy đủ, an toàn để hoạt động. Cùng với việc quy
định hớng dẫn cụ thể của các văn bản dới luật, các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh có thể nắm đợc phơng thức tổ chức, cách thức hoạt động cũng nh những
ngành nghề đợc phép hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó họ có thể xây dựng đợc
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

đình trệ, các doanh nghiệp có xu hớng co cụm trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình thì tín dụng Ngân hàng sẽ bị thu hẹp. Đặc biệt đối với các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh không có sự hỗ trợ của Nhà nớc khi gặp khó khăn không
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
kế hoạch hoá đợc hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thì xác suất thất bại là
rất lớn. Thực tế đã có nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang trong tình trạng khốn
đốn vì môi trờng kinh doanh không ổn định, thậm chí nghiều doanh nghiệp đã bị
phá sản và không trả nợ đợc Ngân hàng và cũng không đợc Ngân hàng cho vay
tiền. Điều đó đã ảnh hởng mạnh mẽ tới hoạt động tín dụng của Ngân hàng.
3.2.2. Các nhân tố chủ quan
Từ phía doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Một là, xét theo loại hình kinh tế thì kinh tế ngoài quốc doanh gồm các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh và sản xuất nhỏ ( hộ gia đình ). Các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh bao gồm cả các doanh nghiệp t nhân công ty trách nhiêm hu
hạn, công ty cổ phần và các đơn vị theo hình thức hợp tác xã.
Xét về loại hình sản xuất nhỏ ( hộ gia đình ): Đây là loại hình kinh tế sản
xuất do mỗi cá nhân, gia đình tự thành lập và tổ chức hoạt động. Loại hình này th-
ờng có quy mô vốn kinh doanh nhỏ, lợng vốn đầu từ thấp, chủ yếu là các hộ nông
dân, thợ thủ công, ngời làm thơng nghiệp và dịch vụ cá thể. Với đặc điểm nhỏ bé
nhng linh hoạt, kinh tế hộ gia đình có khả năng phát huy nhanh và hiệu quả các
tiềm năng về vốn, sức lao động, tay nghề của từng hộ gia đình, từng ngời lao động.
Do đó, sự tồn tại loại hình kinh tế này cũng góp phần quan trọng cho nền kinh tế.
Đối với các đơn vị theo hình thúc hợp tác xã, đợc phát triển thông qua hình
thứ liên kết tự nguyện của những ngời lao động. Loại hình kinh tế này phát triển
với nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ tổ nhóm hợp tác và có mặt trong nhiều
ngành nghề cả ở nông thôn là thành thị. Các cá nhân tham gia trong hợp tác xã
hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng có lợi theo tinh thần của
luật hợp tác xã. Đây là loại hình kinh tế có đóng góp quan trọng cho nền kinh tế cá
thể về mặt vật chất và các giá trị khác.

chuyển sang cơ chế thị trờng nên những kiến thức về kinh tế, những hiểu biết về
kinh doanh không phải ai cũng nắm bắt kịp thời. Điều này trớc hết gây khó khăn
trong việc điều hành doanh nghiệp cho chính những ngời làm chủ. Họ gặp nhiều
hạn chế, vớng mắc trong công tác tổ chức nhân sự, trong việc hoạch định kế hoạch
cũng nh phân tích dự án, các cơ hội đầu t. Việc thực hiện pháp lệnh về tài chính và
thông kê của Nhà nớc trong các doanh nghiệp này cha đợc thực hiện nghiêm túc.
Phần lớn các doanh nghiệp hoạch định kế toán chủ yếu đợc thực hiện da vào kinh
nghiệm của bản thân. do đó họ gặp nhiều khó khănkhi tiếp cận nguồn vốn Ngân
hàng vì không chứng thực đợc năng lực kinh doanh cũng nh tình hình tài chinhd
của bản thân một cách rõ ràng.
Mặc dù, còn nhiều hạn chế nhng kinh tế ngoài quốc doanh đã và đang phát
triển nhanh chóng. Trong quá trình phát thiển của mình, thành phần kinh tế này
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thực sự cần một lợng vốn rất lớn mà các Ngân hàng thơng mại sẽ là ngời hỗ trợ
tốt nhất . Xuất phát từ chính những đặc trng của nền kinh tế ngoài quốc doanh, các
Ngân hàng thơng mại sẽ có những chính sách, chiến lợc riêng của mình. Trong đó,
bản thân hoạt động tín dụng của Ngân hàng sẽ là nhân tố quan trọng quyết định
đến việc mở rộng cho vay đôi với thành phần kinh tế này.
Từ phía Ngân hàng thơng mại.
Một là, chính sách tín dụng của Ngân hàng.
Chính sách tín dụng là một yếu tố đầu tiên tác động đến việc cho vay,cung
ứng vốn cho nền kinh tế. Chính sách tín dụng bao gồm:
- Hạn mức tín dụng
- Kỳ hạn của các khoản vay.
- Lãi suất cho vay
- Mức lệ phí tín dụng.
Các loại cho vay đợc thể hiện: các điều khoản của chính sách tín dụng đợc
xây dựng dựa trên những nhân tố khác nhau nh các điều kiện kinh tế, chính trị, tài
chính của Ngân hàng nhà nớc, khả năng về vốn của Ngân hàng và nhu cầu tín

những trờng hợp nhất định.
Tuy nhiên, quy trình tín dụng của mỗi Ngân hàng không mang tính cứng
nhắc. Đối với mỗi khách hàng khác nhau, Ngân hàng có thể chủ động, linh hoạt
thực hiện các bớc trong quy trình tín dụng cho phù hợp. Việc áp dụng một cách
sáng tạo, linh hoạt, chuyển biến quy trình tín dụng thành kỹ năng, nghệ thuật sẽ
tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng hoạt động cho vay của Ngân hàng đối với
nền kinh tế. Nhờ đó, mục đích của cả khách hàng và Ngân hàng đều thực hiện đ-
ợc.
Ba là, hoạt động của Ngân hàng.
Phơng châm hoạt động của Ngân hàng là đi vay để cho vay. Bởi vậy, nếu
hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thuận lợi, lợng vốn huy động dồi dào, chi
phí huy động thấp và hợp lý thì Ngân hàng sẽ tích cực mở rộng hoạt động tín dụng
đối với các thành phần kinh tế. Ngợc lại, nếu tình hình huy động vốn của Ngân
hàng không tốt Ngân hàng sẽ có chính sách tín dụng phù hợp với nó để đảm bảo
hoạt động của Ngân hàng vừa tránh đợc rủi ro. Bên cạnh đó còn phải kể đến công
tác tổ chức, chất lợng nhân sự và cơ sở vật chất thiết bị của Ngân hàng. Đó sẽ là
những nhân tố ảnh hởng sâu sắc đến hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Nếu công
tác thu hút khách của Ngân hàng đựơc cụ thể hoá và sắp xếp một cách hợp lý khoa
học, thống nhất từ trên xuống dới thì hoạt động tín dụng sẽ đợc diễn ra lành mạnh
24
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
và có hiệu quả hơn. Đội ngũ cán bộ nhân viên và trang thiết bị đợc gọi là hình ảnh
đầu tiên của Ngân hàng trong con mắt của khách hàng. Nếu khách hàng giao tiếp
với cán bộ tín dụng mà cảm thấy hài lòng thì khách hàng sẽ thấy yên tâm, đặt
niềm tin vào Ngân hàng đó và mong muốn đợc duy trì quan hệ lâu dài với Ngân
hàng. Còn cơ sở trang thiết bị của Ngân hàng chính là yếu tố làm tăng khả năng
cạnh tranh của Ngân hàng. Cơ sở vật chất phù hợp với quy mô huy động của Ngân
hàng sẽ là cơ sở tạo niềm tin cho khách hàng.
3.3. Hớng mở rộng cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh của
các Ngân hàng thơng mại.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status