SỰ TỒN TẠI KHÁCH QUAN CỦA TÍN DỤNG TRONG NỀN SẢN
XUẤT HÀNG HOÁ.
Tín dụng là phạm trù kinh tế hoạt động rât đa dạng và phong phú, được thể
hiện dưới nhiều hình thức khác nhau trên có sở tin tưởng và tín nhiệm nó thể hiện
được hai mặt cơ bản sau:
Thứ 1: Người sở hữu tiền hay hàng hoá giao cho người sử dụng trong một
thời gian nhất định
Thứ 2: Khi đến thời gian trả người sử dụng phải trả cho người sở hữu tiên
hay hàng hoá một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu, phần hơn đó chính là phần lãi hay
chính là Lãi suất tín dụng.
Từ 2 mặt ta thấy rằng sự ra đời và phát triển của tín dụng gắn liền với sự
phân công lao động xã hội và chiếm hữu tư nhân về lao động sản xuất. Do đó xã
hội ngày càng nâng cao việc sản xuất hàng hoá phát triển kéo theo tín dụng ngỳa
một phát triển, nếu sản xuất hàng hoá thấp thì hợp đồng tín dụng rất khó khăn bởi
qua thực tế đã chứng mình. Trước đây Việt Nam ta còn quan liêu bao cấp phát triển
theo lỗi tự cung tự cấp sản xuất ra bao nhiêu thì dùng bấy nhiêu, vì lẽ đó mà hoạt
động kinh tế kém phát triển ít sử dụng đến tiền tệ, tín dụng từ đó bị kìm hãm. các
thành phần kinh tế Nhà nước, kinh tế quốc doanh đề hoạt động theo những ké
hoạch từ trên xuống, các thành phần kinh tế tư nhân và các thành phần kinh tế tập
thể à kinh tế quốc doanh. Do vậy đã làm cho hoạt động tín dụng không phát huy
được hiệu quả là điều không thể tránh khỏi.
Từ nhận định mới của Đảng và Nhà nước về nền kinh tế của thế giới và
trong nước thì nền kinh tế đã được chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường theo
định hướng hiện đại hoá và công nghiệp hoá có sự quản lý của Nhà nước đã thúc
đẩy nền kinh tế thoát dần ra khỏi “vòng luẩn quẩn”, sản xuất hàng hoá phát triển
kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động tín dụng dưới nhiều hình thức khác
nhau.
Xét trên tổng thể nền kinh tế quốc dân, do tính thời vụ và đặc điểm của thị
trường sản xuất và quy định mỗi đơn vị kinh tế, mỗi ngành kinh tế có thời gian cơ
hội nhất định khi đầu tư và thu hồi đồng vốn là khác nhau. Thực tế này dẫn đến
thực trạng tại một thời điểm nào đó một đơn vị kinh tế hau một ngành kinh tế có
người Nông thôn còn thấp đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng trung du, miển
núi, giữa thành thị và nông thôn chưa có sự kết hợp hài hoà. Chính vì lẽ đó, vốn tín
dụng Ngân hàng đóng vại trò quan trọng trong việc phát triển Nông thôn. Để đạt
được những mục tiêu đã đề ra trong những năm tời thì cần phải quan tâm sâu sát
hơn tới đâù tư vốn tín dụng cho Nông nghiệp Nông thôn. tính chung mức đầu tư
vốn cho sản xuất kinh doanh so với thu nhập ở các hộ thuần nông vào khoảng 5-
10% còn ở các hộ kiêm ngành nghề và phi Nông nghiệp từ 15-20%. Do đầu tư thấp
lợi nhuận thu được không cao nên khả năng tích luỹ của nông hộ cũng hạn chế.
Nguồn thu nhập và tích luỹ của đạibộ phận nông hộ chủ yếu vẫn là từ trồng
trọt và chăn nuôi. Một số vùng ngành nghề tiều thủ công nghiệp dịch vụ bán buôn
phát triển, thu nhập từ ngành nghề phi Nông nghiệp là nguồn tích luỹ chủ yếu Nhà
nước vùng như vậy chưa nhiều. Thiếu vốn không rộng được sản xuất, không phát
triển được ngành nghề, thu nhập thấp dẫn đến khả năng tích luỹ còn hạn chế dẫn
đến thiếu vốn … cái vòng luẩn quẩn này, làm cho phần đông nông hộ không thoát
khỏi cảnh đói nghèo và là mảnh đất cho nạn vay nặng lãi ở Nông thôn. vì thế mà
đầu tư hỗ trợ về vốn là rất quan trọng, vai trò trách nhiệm của tín dụng là củng cố
phát triển mở rộng hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp phát triển đa dạng hoá các
hình thức tín dụng Nông thôn, các tổ chức tín dụng nông dân, khai thác mọi nguồn
lực, khuyến khích mọi hình thức tín dụng, nhằm hỗ trợ vốn cho các nông hộ, ngoài
tỷ lệ số hộ được vay tín dụng Nhà nước từ 23% tổng số hiện nay lên 40-50% trong
một vai năm tới. Ngoài việc cho các hộ có khả năng vay để mở rông sản xuất hàng
hoá phải có chính sách cho họ nghèo vay vốn để sản xuất từ vươn lên để khắc phục
nghèo túng. Khuyến khích các hình thức hợp tác xã tự nguyện của nông dân vay
theo hình thức tín chấp. Đơn giản hoá các thủ tục vay vốn phù hợp với trình độ dân
trí và đặc điểm sản xuất Nông nghiệp tập quán địa phương. Nhà nước khuyến
khích và hướng dẫn các hình thức huy động vốn trong nhân dân mang tổ chức hợp
tác như: các tổ chức tín dụng các hình thức tín dụng truyền thống trong nhân dân
có nội dung lành mạnh hỗ trợ lẫn nhau, từng bước thu hẹp nạn vay nặng lãi ở nông
thôn. từ đó nhằm thúc đẩy chuyển dịch Cơ cấu kinh tế nông thôn, phá vở thế độc
canh thuần nông mở mang ngành nghê mới.
Đây là những khoản vay nhằm tạo ra TSCĐ trong các cơ sở kinh doanh
Nông nghiệp.
1.2.2. Phân loại thời hạn:
Theo nghị định 14/CP ngày 2/3/93 của chính phủ về chính sách cho vay hộ
sản xuất để phát triển nong lâm-ngư -diêm nghiệp và kinh tế Nông thôn ban hành
nội dung cụ thể của phân loại tín dụng trong doanh nghiệp Nông nghiệp và phát
triển Nông thôn về thời hạn là.