Tôn Giáo Trên Xứ Sở Hoa Anh Đào
Văn hóa Nhật Bản
Thần Đạo, tôn giáo cổ xưa nhất của Nhật Bản, là một sản phẩm của totem giáo. Thần Đạo
quan niệm là thần linh hiện hữu trong vạn vật. Quan niệm này đã giúp cho người Nhật có một
cuộc sống gắn bó và hoà đồng với thiên nhiên.
Phật giáo được truyền vào Nhật Bản khoảng năm 552 sau công nguyên từ vương quốc Bách
Tế (nay thuộc Triều Tiên). Lúc bấy giờ quốc vương Bách Tế đã cử một sứ đoàn mang đến
biếu Thiên hoàng Nhật Bản một pho tượng Phật quý và một số sách kinh điển nhà Phật. Tuy
lúc đầu có gặp một số khó khăn, song nhờ được sự bảo trợ của Nữ hoàng Suiko (593-628),
đặc biệt là của Thái tử Shotoku (574- 622), Phật giáo được
truyền bá rộng khắp đất nước. Đầu thế kỷ thứ IX Phật giáo
Nhật Bản chủ yếu phục vụ cho giới quý tộc cung đình. Đến
thời Hei-an (794- 1185) đã xuất hiện và phát triển hai tông
phái lớn là Chân ngôn tông và Thiên thai tông. Bước vào
thời Kamakura (1185-1333) Phật giáo trên quần đảo này
phát triển rực rỡ với sự truyền bá của hàng loạt các tông
phái mới khác từ Trung Quốc như Thiền tông (Zen), Tào
Động tông, Tịnh thổ tông... đem lại hy vọng được giải thoát
cho đông đảo các tầng lớp dân chúng. Dưới thời
Tokugawa (1603-1867), do sự kiểm soát chặt chẽ của
chính quyền nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của Cơ đốc giáo, Phật giáo và sinh hoạt của hệ
thống chùa chiền trên khắp Nhật Bản cũng gặp nhiều trở ngại. Trong thời Minh Trị, chính sách
quốc giáo hoá Thần đạo đã làm cho Phật giáo phải trải qua một giai đoạn đầy khó khăn,
không ít chùa chiền, tượng Phật bị huỷ hoại. Sau Thế chiến thứ II, xuất hiện hàng loạt tổ chức
tôn giáo mới với tư cách những phong trào Phật giáo mà một số tổ chức lớn trong đó là Soka
Gakkai, Risshò Kòseikai, Reiyùkai...Trong suốt lịch sử phát triển lâu dài ở Nhật Bản, Phật giáo
không chỉ đơn thuần là một tôn giáo mà còn góp phần đáng kể vào việc làm giàu nền nghệ
thuật và vốn tri thức của Nhật Bản. Người Nhật cho rằng Thần Đạo chăm lo cuộc sống hiện tại
của họ. Còn Phật giáo thì lại lo cho cuộc sống sau khi chết.
Ngoài Thần đạo và Phật giáo ra, Nho giáo, du nhập vào Nhật Bản khoảng thế kỷ thứ VI cũng
góp phần rất lớn vào việc tạo ra cái gọi là tư tưởng Nhật Bản. Tương tự ở Việt nam và Triều
tham gia giao tiếp.
Một quy tắc bất thành văn là “người dưới” bao giờ cũng phải chào “người trên” trước và theo
quy định đó thì người lớn tuổi là người trên của người ít tuổi, nam là người trên đối với nữ,
thầy là người trên (không phụ thuộc vào tuổi tác, hoàn cảnh), khách là người trên... Người
Nhật sử dụng ba kiểu cúi chào sau:
+ Kiểu Saikeirei: cúi xuống từ từ và rất thấp là hình thức cao nhất, biểu hiện sự kính trọng
sâu sắc và thường sử dụng trước bàn thờ trong các đền của Thần đạo, chùa của Phật giáo,
trước Quốc kỳ, trước Thiên Hoàng.
+ Kiểu cúi chào bình thường: thân mình cúi xuống 20-30 độ và
giữ nguyên 2-3 giây. Nếu đang ngồi trên sàn nhà mà muốn chào
thì đặt hai tay xuống sàn, lòng bàn tay úp sấp cách nhau 10-
20cm, đầu cúi thấp cách sàn nhà 10-15cm.
+ Kiểu khẽ cúi chào: thân mình và đầu chỉ hơi cúi khoảng một
giây, hai tay để bên hông.
Người Nhật chào nhau vài lần trong ngày, nhưng chỉ lần đầu thì
phải chào thi lễ, những lần sau chỉ khẽ cúi chào. Ngay cả người
Nhật cũng thấy những nghi thức cúi chào này hết sức rườm rà
nhưng nó vẫn tồn tại trong quá trình giao tiếp từ thế hệ này qua
thế hệ khác và cho đến tận ngày nay.
+ Giao tiếp mắt: người Nhật thường tránh nhìn trực diện vào
người đối thoại, mà họ thường nhìn vào một vật trung gian như
caravat, một cuốn sách, đồ nữ trang, lọ hoa..., hoặc cúi đầu xuống
và nhìn sang bên. Nếu khi nói chuyện mà nhìn thẳng vào người đối thoại thì bị xem như là một
người thiếu lịch sự, khiếm nhã và không đúng mực.
+ Sự im lặng: người Nhật có khuynh hướng nghi ngờ lời nói và quan tâm nhiều đến hành
động, họ sử dụng sự im lặng như một cách để giao tiếp và họ tin rằng nói ít thì tốt hơn nói quá
nhiều. Trong buổi thương thảo, người có vị trí cao nhất thường ít lời nhất và những gì anh ta
nói ra là quyết định sau cùng, im lặng cũng là cách không muốn làm mất lòng người khác.
+ Gián tiếp và nhập nhằng: thường thì họ giải thích ít những gì họ ám chỉ và những câu trả
lời thì cũng rất mơ hồ. Họ không bao giờ nói “không” và chẳng nói cho biết rằng họ không
trong giao tiếp nếu chỉ tay trực tiếp vào người khác, thay vào đó ta mở rộng bàn tay ngửa lên
trên như thể đang bưng một cái mâm và chỉ về phía người đó.
Một điều rất quan trọng trong giao tiếp là cách tạo ra thiện cảm ban đầu, trong công việc cũng
như sinh hoạt, người Nhật không muốn bị lãng quên. Với quỹ thời gian eo hẹp của cuộc sống
công nghiệp, công chức Nhật rất quan tâm vấn đề thời gian nếu
có cuộc hẹn. Họ tỏ ra khó chịu khi phải đợi và rất mất cảm tình với
người sai hẹn. Nếu là người đi tìm hiểu cơ hội hợp tác kinh doanh
thì anh ta khó có cơ hội thứ hai gặp lại.
Người Nhật thích tặng quà cho từng người khách và khi được
tặng quà thường không mở món quà đó trước mặt người tặng
quà, như luật bất thành văn, họ tặng quà nhau trong các ngày lễ
tết hoặc khi có tin vui, thăng quan tiến chức. Việc gói quà tặng là
cả một nghệ thuật, bạn nên nhờ nhân viên bán hàng làm giúp để
tránh sai sót. Không nên tặng quà có số lượng 4 hoặc 9, những
vật nhọn hoặc trà uống vì chúng tượng trưng cho điều kém may
mắn tại Nhật.
Khi đến nhà người khác chơi, được chủ nhà mời vào nhà thì
người khách phải đáp “cảm ơn, rất hân hạnh” và cởi bỏ áo khoác
trước cửa nhà. Nếu là người đến thăm lần đầu thì chỉ ở chơi
không quá nửa giờ, sau đó vào lúc thích hợp phải xin phép ra về
với câu “Tôi đã làm phiền ngài quá lâu, xin lượng thứ”. Sau khi cởi đôi dép đi trong nhà, người
khách phải quay mũi dép vào trong phòng, ở cửa người khách phải cúi chào một lần nữa và
cảm ơn chủ nhà vì sự tiếp đón rồi mới đi ra.
Phụ nữ Nhật khi nói chuyện với người ít quen biết thì họ phải im lặng và nhìn đi chỗ khác, đó
được coi là những hành vi đức hạnh, được đánh giá là người phụ nữ đức hạnh, còn nếu nhìn
chăm chú sẽ bị đánh giá là người không đứng đắn, thiếu đức hạnh vì hành vi đó được đánh
giá như lời mời gọi dẫn tới sự thân mật. 3