CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ VÀ KIỂM TOÁN CHU TRÌNH MUA HÀNG VÀ THANH TOÁN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO KIỂM TOÁN NỘI BỘ THỰC HIỆN - Pdf 76

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ VÀ KIỂM TOÁN CHU TRÌNH
MUA HÀNG VÀ THANH TOÁN TRONG BÁO CÁO TÀI CHÍNH DO
KIỂM TOÁN NỘI BỘ THỰC HIỆN
I - TỔNG QUAN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ
1. Sự cần thiết của Kiểm toán nội bộ
Kiểm toán nội bộ là một trong ba loại hình kiểm toán gồm Kiểm toán nội bộ,
Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán độc lập. Mỗi loại kiểm toán có chức năng, tính
chất địa vị pháp lý và phạm vi khác nhau, không thể thay thế nhau được.
Kiểm toán Nhà nước: Có nhiệm vụ kiểm tra, xác nhận việc chi tiêu đúng mục
đích, đúng dự toán, có hiệu quả ngân sách Nhà nước và sử dụng có hiệu quả vốn và
tài sản của Nhà nước tại các doanh nghiệp Nhà nước
Kiểm toán độc lập: Vừa là công cụ quản lý của các chủ doanh nghiệp, vừa là
công cụ của chủ đầu tư, các nhà quản lý.
Kiểm toán nội bộ: Là công cụ quản lý của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp để
kiểm soát, đánh giá, và điều chỉnh chiến lược kinh doanh sao cho có hiệu quả nhất.
Kiểm toán nội bộ cũng là công cụ để phân tích, đánh giá chất lượng của hệ thống
kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ.
Có thể nói, Kiểm toán nội bộ là công cụ giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp
phân tích hoạt động đầu tư, kinh doanh, kiểm soát, đánh giá các chiến lược phát
triển doanh nghiệp, các hành vi quản lý. Kiểm toán nội bộ cung cấp các căn cứ để
lãnh đạo doanh nghiệp điều hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả và chiếm lĩnh thị
trường.
Kiểm toán nội bộ là công cụ để kiểm tra, đánh giá hoạt động của ở từng bộ
phận, ở tất cả các giai đoạn trước, trong và sau quá trình kinh doanh. Kiểm toán nội
bộ là công việc thường xuyên theo yêu cầu và chỉ đạo của lãnh đạo doanh nghiệp.
Ở nước ta, khả năng dự báo và phân tích của các doanh nghiệp còn rất nhiều
hạn chế, còn nhiều dáng dấp của thời quản lý bao cấp. Doanh nghiệp Nhà nước vẫn
muốn ỷ lại, dựa dẫm vào Nhà nước. Doanh nghiệp chưa có hệ thống phân tích
chức năng, do đó việc tổ chức bộ phận Kiểm toán nội bộ ở các doanh nghiệp là hết
sức đúng dắn và cần thiết. Kiểm toán nội bộ là tai mắt cho doanh nghiệp. Mục đích
của Kiểm toán nội bộ là tạo ra công cụ để phân tích toàn bộ hoạt động chiến lược

nước và các văn bản quy định của bản thân doanh nghiệp.
- Bảo vệ tài sản của doanh nghiệp, bao gồm tài sản ghi trên bảng cân đối kế
toán, các tài sản phi vật chất nhưng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất
lượng hoạt động của doanh nghiệp như bầu không khí làm việc và quan hệ với
khách hàng, các thủ tục, quy trình nghiệp vụ, nội quy bảo vệ tài sản...
- Nâng cao tính hiệu quả của các hoạt động bao gồm việc sử dụng các nguồn
lực trong đơn vị (giảm chi phí sản xuất kinh doanh, tăng thị phần, nâng cao chất
lượng hàng hoá, chất lượng dịch vụ) và lựa chọn các phương án, các quyết định
kinh tế.
- Đưa ra những kiến nghị có tính thực tiễn, có kế hoạch hành động cụ thể nhằm
hoàn thiện, cải tiến, khắc phục những khâu yếu và ngăn chặn những khả năng,
biểu hiện gian lận.
Tuy nhiên, trong từng cuộc kiểm toán cụ thể, do yêu cầu của công tác quản
lý cũng như mức độ rủi ro được đánh giá, một trong các mục tiêu trên có thể trở
thành mục tiêu kiểm toán chủ yếu.
4- Chức năng và nhiệm vụ của Kiểm toán nội bộ
Theo chuẩn mực thực hành nghề nghiệp Kiểm toán nội bộ thì Kiểm toán nội
bộ có chức năng: Kiểm tra và đánh giá sự đầy đủ và hữu hiệu của hệ thống kiểm
soát nội bộ của tổ chức và chất lượng hoạt động trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
được giao.
Cụ thể hoá chức năng trên, Kiểm toán nội bộ có những nhiệm vụ sau:
- Kiểm tra tính trung thực, đáng tin cậy của các thông tin và hoạt động tài chính
cũng như các phương thức ghi nhận, đo lường, phân loại, báo cáo các loại thông
tin này.
- Thẩm tra hệ thống đã được thiết lập để đảm bảo tính tuân thủ các chính sách,
thủ tục, luật pháp và quy định có thể ảnh hưởng quan trọng đến các hoạt động và
báo cáo, đồng thời phải xác định tổ chức có tính tuân thủ thực tế hay không.
- Xem xét các phương thức bảo vệ tài sản và khi cần thì kiểm tra sự hiện diện
của chính những tài sản đó.
- Đánh giá việc sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn lực.

“Hướng đẫn lập, công bố, công khai và kiểm tra Báo cáo tài chính, kiểm tra kế
toán các doanh nghiệp Nhà nước” ngày 12/11/1996 của Bộ Tài chính đã bãi bỏ chế
độ quyết toán thuế, yêu cầu doanh nghiệp Nhà nước phải thực hiện Kiểm toán nội
bộ Báo cáo tài chính của mình hay thuê Kiểm toán độc lập nếu thấy cần thiết. Do
vậy, Kiểm toán nội bộ được triển khai trong các doanh nghiệp Nhà nước chủ yếu là
để kiểm toán Báo cáo tài chính trước khi nộp cho các cơ quan quản lý chức năng
hoặc phối hợp với Kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán một phần Báo cáo tài
chính của đơn vị.
Một lý do nữa phải kể đến là thực trạng chứng từ làm cơ sở cho nghiệp vụ
phát sinh còn nhiều bất cập. Chỉ có Kiểm toán viên nội bộ với hiểu biết sâu rộng về
tình hình tài chính của doanh nghiệp, trong nhiều trường hợp, kiểm toán báo cáo
tài chính chính bản thân doanh nghiệp sẽ có hiệu quả cao hơn Kiểm toán độc lập.
Mặt khác, mặc dù có sự giống nhau về tính chất công việc nhưng có một
điểm khác biệt lớn giữa hoạt động kiểm toán báo cáo tài chính của Kiểm toán nội
bộ và Kiểm toán độc lập. Mục tiêu của Kiểm toán độc lập là xem xét báo cáo tài
chính công khai có chứa đựng các sai sót trọng yếu hay không. Trong khi đó, mục
tiêu của Kiểm toán nội bộ là bảo đảm sự chính xác của số liệu trên báo cáo tài
chính trước khi ký duyệt và phát hành. Hơn nữa, Kiểm toán nội bộ còn đặc biệt
quan tâm đến công tác kế toán và những vấn đề quản lý tài chính của đối tượng
kiểm toán, qua đó đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện, cải tiến, khắc phục những
khâu yếu, ngăn chặn những khả năng, biểu hiện gian lận.
Tuy nhiên, do Kiểm toán nội bộ là bộ phận nằm trong đơn vị, mục tiêu của
Kiểm toán nội bộ có thể thay đổi tuỳ theo yêu cầu của Ban giám đốc nên tính độc
lập của Kiểm toán nội bộ là không cao. Điều đó có nghĩa là báo cáo kiểm toán do
Kiểm toán nội bộ lập sẽ không có đủ độ tin cậy như Báo cáo kiểm toán do Kiểm
toán viên bên ngoài lập

6- Trình tự các bước công việc kiểm toán báo cáo tài chính do Kiểm
toán nội bộ thực hiện
Kiểm toán báo cáo tài chính do Kiểm toán độc lập, Kiểm toán nội bộ thực

quả quản lý của doanh nghiệp.
- Báo cáo kiểm toán được gửi cho Chủ tịch Hội đồng quản trị, cho (Tổng) Giám
đốc doanh nghiệp. Việc lưu hành và công bố báo cáo kiểm toán nội bộ tuỳ theo
tính chất kiểm toán và do Chủ tịch Hội đồng quả trị, (Tổng) Giám đốc quyết định.
Theo dõi sau kiểm toán
Là công việc tiếp sau cuộc kiểm toán nhằm kiểm tra lại việc triển khai thực
hiện những kiến nghị, những đề xuất và giải pháp nêu trong báo cáo kiểm toán ở
các bộ phận quản lý, điều hành kinh doanh trong doanh nghiệp.
Các bước triển khai của trình tự kiểm toán báo cáo tài chính của Kiểm toán
nội bộ thực hiện có thể khái quát qua bảng 1.
Bảng 1: Trình tự tiến hành kiểm toán Báo cáo tài chính của Kiểm toán nội bộ
Giai đoạn 1
Chuẩn bị
kiểm toán
Lập kế hoạch
chiến lược
- Lựa chọn đối tượng kiểm toán
- Cử Kiểm toán viên
- Thu thập thông tin của đối tượng kiểm toán
- Lập kế hoạch chiến lược
Thiết kế
chương trình
kiểm toán
- Khảo sát nghiệp vụ
- Thủ tục phân tích
- Khảo sát chi tiết số dư
Thông báo cho đối tượng kiểm toán (bằng văn bản hay miệng)
Giai đoạn 2
Thực hiện
kiểm toán

bởi dù trong bất cứ lĩnh vực kinh tế nào, kết quả kinh doanh hàng năm của doanh
nghiệp đều thể hiện trên báo cáo tài chính. Do đó khi thực hiện kiểm toán báo cáo
tài chính, Kiểm toán viên thường chia công việc kiểm toán ra thành các chu trình,
các nghiệp vụ và các tài khoản có liên quan chặt chẽ với nhau được xếp trong cùng
một phần hành. Với cách phân chia như vậy, một chu trình hoạt động của doanh
nghiệp có thể coi là sự liên kết của các chu trình: Tiếp nhận và hoàn trả vốn, mua
hàng và thanh toán, tiền lương và nhân viên, hàng tồn kho, bán hàng và thu tiền.
Các chu trình này có mối quan hệ mật thiết với nhau, giữa chúng không có điểm
bắt đầu và điểm kết thúc. Mối quan hệ này được thể hiện qua sơ đồ 1.
Sơ đồ 1: Mối quan hệ giữa các chu trình
Tiền mặt
Mua hàng và thanh toán
Hàng tồn kho
Huy động và hoàn trả
Tiền lương và nhân viên
Bán hàng và thu tiền
Nhìn sơ đồ trên cho thấy, chu trình mua hàng và thanh toán có mối quan hệ
mật thiết với các chu trình khác và là khâu giữ vai trò quan trọng trong quá trình
sản xuất kinh doanh. Thật vậy, trong đơn vị sản xuất, quá trình kinh doanh bao
gồm ba giai đoạn: Cung ứng, sản xuất và tiêu thụ. Còn ở doanh nghiệp thương mại
quá trình kinh doanh bao gồm hai giai đoạn: Mua và bán. Tóm lại, dù là loại hình
doanh nghiệp nào thì quá trình mua hàng nhằm cung cấp các yếu tố đầu vào hết
sức quan trọng. Chi phí cho việc mua hàng chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng chi phí
sản xuất kinh doanh. Mặt khác, giá cả, chất lượng của các yếu tố đầu vào cũng có
ảnh hưởng quyết định đến các yếu tố đầu ra. Do đó việc thực hiện có hiệu quả quá
trình mua hàng và thanh toán là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp làm ăn có lãi.
1.1- Bản chất cuả chu trình

Chu trình mua hàng và thanh toán bao gồm các quyết định và các quá trình
cần thiết để có hàng hoá và dịch vụ cho quá trình hoạt động kinh doanh của doanh

bằng chứng của sự nhận hàng và sự kiểm tra hàng hoá và số hàng đã được tiếp
nhận. Một bản sao thường được gửi cho thủ kho và một bản khác gửi cho kế toán
các khoản phải trả để thông báo. Để ngăn ngừa sự mất mát và sự lạm dụng thì điều
quan trọng là hàng hoá phải được kiểm soát chặt chẽ từ lúc nhận chúng cho đến
khi chúng được chuyển để tiếp tục sử dụng cho quá trình sản xuất kinh doanh.
Nhân viên trong phòng tiếp nhận hàng hoá dịch vụ phải độc lập với thủ kho và
Phòng Kế toán. Cuối cùng, sổ sách kế toán sẽ phản ánh việc chuyển giao giao trách
nhiệm đối với hàng hoá khi hàng hoá được chuyển từ phòng tiếp nhận qua kho và
từ kho vào quá trình sản xuất hay tiêu thụ.
1.2.3- Ghi nhận các khoản nợ người bán

Sự ghi nhận đúng đắn khoản nợ về hàng hoá hay dịch vụ nhận được đòi hỏi
việc ghi sổ chính xác và nhanh chóng. Việc ghi sổ ban đầu có ảnh hưởng quan
trọng đến các báo cáo tài chính và đến khoản thanh toán thực tế, do đó kế toán chỉ
được phép ghi vào các lần mua có cơ sở hợp lý theo số tiền đúng.
Kế toán các khoản phải trả thường có trách nhiệm kiểm tra tính đúng đắn
của các lần mua vào và ghi chúng vào sổ nhật ký và sổ hạch toán chi tiết các khoản
phải trả. Khi kế toán các khoản phải trả nhận được hoá đơn của người bán thì phải
so sánh mẫu mã, giá, số lượng, phương thức và chi phí vận chuyển ghi trên hoá
đơn với thông tin đặt mua và báo cáo nhận hàng (nếu hàng đã về). Thường thì các
phép nhân và các phép cộng tổng được kiểm tra lại và được ghi vào hoá đơn. Sau
đó, số tiền phải trả nhà cung cấp được ghi vào sổ kế toán theo dõi chi tiết các
khoản phải trả nhà cung cấp.
1.2.4- Xử lý và ghi sổ các khoản thanh toán cho người bán
Đối với hầu hết các công ty, các hoá đơn về các khoản nợ phải trả lưu giữ
theo thời hạn quy định về lưu trữ chứng từ. Việc thanh toán cho nhà cung cấp về
các khoản nợ thường được thực hiện bằng uỷ nhiệm chi, séc hoặc phiếu chi làm
thành nhiều bản, một bản gửi cho người được thanh toán, một bản sao được lưu lại
trong hồ sơ theo dõi nhà cung cấp đã được thanh toán.
1.3- Thủ tục kiểm soát nội bộ đối với chu trình

 Bộ phận kho: Bảo đảm việc nhận hàng. Cửa hàng nhận hàng hoá đã được
nhập bằng cách ghi phiếu nhận hàng (hoặc nhập). Phiếu này được lập bởi Công ty
(được đánh số trước) và cửa hàng sẽ miêu tả hàng hoá nhận được, số lượng, ngày
nhận. Phiếu nhận hàng có thể được thay thế bằng phiếu giao hàng của người cung
cấp hàng. Nhân viên cửa hàng tiếp tục kiểm tra số lượng và chất lượng hàng hoá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status