Học cách làm giàu. Phần 6: Nghệ thuật đầu tư
Phần tiếp theo của bộ tài liệu cẩm nang "Học cách làm giàu" sẽ cung cấp cho Bạn
những kiến thức cơ bản về Đầu tư, các loại hình Đầu tư và cách chọn cho mình danh
mục Đầu tư phù hợp nhất với khả năng tài chính và nhu cầu của Bạn tại mỗi thời điểm.
Bạn cũng được cung cấp những khái niệm cơ bản về Thị trường chứng khoán, các loại
cổ phiếu, trái khoán và trái phiếu, cũng như các loại Quỹ hỗ trợ đầu tư.
Phần 6: Nghệ thuật đầu tư
1. Quĩ tương hỗ
1.1. Vì sao nên đầu tư vào quĩ tương hỗ?
1.2. Những điểm bất lợi
1.3. Đầu tư cách nào
1.4. Kết luận
2. Chứng khoán
2.1. Mua và bán chứng khoán như thế nào
2.2. Những mô hình truyền thống trong thị trường chứng khoán
2.3. Những công ty uy tín có phải là những khoản đầu tư hời?
2.4. Kết luận
3. Trái khoán
3.1. Vì sao nên đầu tư vào trái khoán?
3.2. Mua trái khoán
3.3. Kết luận
4. Các loại quĩ trên thị trường
4.1. Những điều cơ bản
4.2. Sự khác biệt giữa quĩ kết thúc đóng và quĩ kết thúc mở
4.3. Kết luận
5. Đầu tư cổ phiếu theo chỉ số (Index Investment)
5.1. Những cổ phiếu đó là gì?
5.2. Những loại lưu hành trên thị trường
5.3. Ưu điểm
5.4. Kết luận
trong quĩ. Toàn bộ khoản tiền chung này được một người có chuyên môn, được đào tạo
và có kinh nghiệm quản lý quĩ tương hỗ quản lý.
Tóm lại, quĩ tương hỗ là một dạng đầu tư cho phép người đầu tư gửi tiền của họ vào
tay một nhà quản lý đầu tư có tài.
Quĩ tương hỗ đem lại cho người đầu tư nhiều cái lợi, chẳng hạn:
- đa dạng
- tiền được người có chuyên môn quản lý
- đầu tư ban đầu thấp (đôi khi dưới 100 USD)
- dễ mua
1.1. Vì sao nên đầu tư vào quĩ tương hỗ?
Ở Mỹ, quĩ tương hỗ đã phát triển khá mạnh trong những thập kỷ qua. Các nhà đầu tư
có thể chọn một trong các loại quĩ sau đây một phương án phù hợp với những mục tiêu
đầu tư của mình:
- Các quĩ Thị trường tiền tệ (Money market) đầu tư vào những công cụ thị trường tiền
tệ. Những khoản đầu tư ngắn hạn này rất an toàn và rất ít khi xảy ra rủi ro.
- Các quĩ trái khoán đầu tư vào công trái nhà nước và trái khoán của các công ty. Các
quĩ này quan tâm đến tính định kỳ của trái khoán và được coi là an toàn nhưng giá trái
khoán thường dao động.
- Các quĩ chứng khoán đầu tư vào các công ty tham gia vào thị trường chứng khoán, từ
những công ty nhỏ đến những “người khổng lồ” như Microsoft, Cisco, General
Electric, Intel v.v.
- Các quĩ chứng khoán quốc tế đầu tư vào những công ty ở nhiều nước khác ở châu Á,
châu Âu, Viễn Đông, Australia, v.v.
- Các quĩ chứng khoán toàn cầu đầu tư khắp nơi trên thế giới, kể cả vào những thị
trường mới.
- Các nhà hoạch định tài chính: Bạn nên nhớ không có nhà hoạch định tài chính nào có
thể bán tất cả các loại quĩ tương hỗ. Một nhà hoạch định có thể bán cổ phần của nhiều
quĩ tương hỗ nhưng họ chỉ làm việc cho một công ty quản lý quĩ tương hỗ và vì thế họ
sẽ chỉ giới thiệu cho khách hàng quĩ của công ty họ. Ngay từ đầu, hãy hỏi xem họ có
hạn chế nào trong việc tiếp cận các quĩ không.
- Nhà môi giới chứng khoán: Người môi giới chứng khoán thường do các đại lý đầu tư
thuê bán cho nhiều loại quĩ tương hỗ khác nhau. Họ sẽ tính phí giao dịch trên mỗi
thương vụ mà họ thay mặt bạn tiến hành. Họ cũng có thể cung cấp rất nhiều thông tin
và hướng dẫn bạn đầu tư.
- Tổ chức môi giới chiết khấu: Các tổ chức loại này tính phí giao dịch thấp hơn nhà môi
giới chứng khoán truyền thống nhưng cung cấp ít hoặc không cung cấp thông tin và
hướng dẫn về những thương vụ cụ thể.
- Ngân hàng và các thể chế tài chính khác: Một số tổ chức tài chính bán cổ phần của rất
nhiều loại quĩ tương hỗ kể cả quĩ tương hỗ của họ.
- Người bán bảo hiểm: Các đại lý bảo hiểm thường đại diện người tuyển dụng bán cổ
phần quĩ tương hỗ.
- Mua trực tiếp: Nhiều công ty quĩ tương hỗ trực tiếp bán cổ phần cho khách hàng
Bạn có thể bán lại phần đầu tư của mình cho chính đại lý mà bạn đã mua trong vòng 2-
3 ngày sau khi mua. Bạn có thể bán toàn bộ hoặc một phần khoản đầu tư của mình.
Phương pháp phổ thông là rút tiền theo định kỳ hàng tuần, hàng tháng hoặc hàng quí.
1.4. Kết luận
04/04/2006
Có nhiều loại hình quĩ tương hỗ, vấn đề là tìm ra loại nào phù hợp với mục tiêu tài
chính của bạn.
2. Chứng khoán
04/04/2006
Thị trường chứng khoán là nơi mà các nhà đầu tư và các công ty gặp gỡ để “bán” một
phần công ty lấy tiền. Những nhà đầu tư - người có tiền nhàn rỗi và các công ty - nơi
cần tiền để phát triển sẽ trao đổi những thứ họ có thông qua giao dịch chứng khoán.
Lệnh giao dịch hạn chế là một dạng khác của lệnh giao dịch. Các nhà đầu tư sẽ qui định
định mức giá cho người môi giới để người môi giới không trả nhiều hơn một giá nhất
định khi mua chứng khoán (hoặc không bán thấp hơn giá đã định khi bán). Ví dụ, “mua
ABC với giá 60USD” khi ABC đang được bán với giá 62 USD. Lệnh hạn chế này đảm
bảo giữ được giá đã ấn định trước. Tuy nhiên, nó có rủi ro là lệnh có thể không bao giờ
được thực hiện- khi giá mua bán không đạt đến giá đã định. Ở ví dụ trên, nếu trong
ngày giá thị trường giảm xuống 60 USD thì lệnh sẽ được thực hiện và nhà đầu tư mua
được ABC với giá 60 USD.
Lệnh đình chỉ bán yêu cầu người môi giới ngừng bán khi giá mà thị trường đòi hỏi
giảm đến hoặc thấp hơn một mức nhất định nào đó. Có thể sử dụng lệnh đình chỉ bán
để hạn chế thua lỗ hoặc bảo vệ lợi nhuận. Ví dụ, nhà đầu tư mua ABC với giá 60 USD,
nay thấy giá tăng lên 70 USD, có thể bảo vệ số cổ phiếu mình mua không bị giảm giá
bất ngờ bằng cách đặt lệnh đình chỉ bán ở mức 66 USD. Nếu giá giảm và số cổ phiếu
đó bây giờ bán với giá 66 USD hoặc ít hơn thì lợi nhuận trên giấy 6 USD vẫn được bảo
toàn. Lệnh đình chỉ mua ngược lại với lệnh đình chỉ bán và được sử dụng khi nhà đầu
tư vừa bán ra và đang cần mua lại một loại cổ phiếu nào đó. Lệnh này giúp nhà đầu tư
không bị thiệt hại khi giá cổ phiếu muốn mua tăng đột ngột.
Ngoài ra còn nhiều hướng dẫn khác nữa nhưng không phải mọi nhà môi giới đều biết
rõ. Bạn nên gặp gỡ hãng môi giới hoặc đọc kỹ những tài liệu in hướng dẫn khi mở tài
khoản.
2.2. Những mô hình truyền thống trong thị trường chứng khoán
04/04/2006
Đầu tư vào chứng khoán là một việc không hề dễ. Có quá nhiều loại công ty khác nhau
để bạn có thể đầu tư - công ty phát triển nhanh, công ty phát triển chậm, công ty to,
công ty nhỏ, công ty tốt, công ty xấu. Mỗi loại công ty đều có những rủi ro riêng và
những đặc điểm lợi nhuận riêng, nhưng không phải mọi loại công ty đều làm ra tiền
cho các nhà đầu tư.
b) Dựa trên tiền lãi - kỳ vọng
Những đặc điểm dưới đây cho thấy những công ty gây bất ngờ cho nhà đầu tư bởi
những tin tức tốt lành (chẳng hạn kỳ vọng nhiều hơn cho tương lai) sẽ có kết quả hoạt
động tốt hơn:
- Những công ty mới được giới phân tích nâng hạng có xu hướng đem lại lợi nhuận đầu
tư cao hơn.
- Những công ty có báo cáo lãi suất cao bất ngờ có xu hướng sẽ phát triển tốt hơn.
- Có hai hiệu ứng cần chú ý: những cổ phiếu phổ thông mà nhà đầu tư kỳ vọng rất
nhiều thường lại ít có lãi trên thị trường trong khi những công ty ít được để ý và nhà
đầu tư không trông đợi nhiều lại có hiệu quả hơn.
- Công ty có báo cáo lãi suất muộn thường đem lại những tin không hay.
- Công ty không bị các nhà đầu tư đeo bám sẽ hoạt động tốt hơn
Ngoài ra, trong lịch sử phát triển của thị trường chứng khoán còn chứng kiến một số
mô hình sau đây:
c) Dựa trên giá cổ phiếu
• Giá cổ phiếu thấp- chứng khoán giá thấp thường hiệu quả hơn chứng khoán giá
cao. Các công ty thường có xu hướng tăng giá trị sau khi tuyên bố phân nhỏ cổ
phần.
• Công ty nhỏ hiệu quả hơn công ty lớn và đó chính là lý do tại sao nên đầu tư
vào cổ phiếu của các công ty nhỏ.
• Các công ty thường áp dụng sơ đồ giá tăng giảm ngược nhau khi đầu tư ngắn
hạn và dài hạn.
• Các công ty có giá chứng khoán giảm có xu hướng bị lỗ về thuế nếu bán ra vào
tháng Chạp nhưng sẽ hồi phục ngay vào đầu năm mới.
có giá chứng khoán cao. Để xác định mức độ hấp dẫn của một khoản đầu tư, các nhà
đầu tư “giá trị” sử dụng những tiêu chuẩn đánh giá có liên quan đến giá trị công ty như
tỷ lệ giá chứng khoán/ giá trị trên sổ sách của công ty (P/B), giá chứng khoán/ thu nhập
công ty (P/E) và cổ tức. Các nhà đầu tư “tăng trưởng” lại thích đầu tư vào những công
ty có mức tăng thu nhập và/ hoặc lợi tức nhanh hơn so với mức trung bình trong cùng
ngành hoặc của thị trường chứng khoán nói chung. Những công ty này thường trả ít
hoặc không trả cổ tức cho nhà đầu tư ngay mà sử dụng tiền lời để đầu tư mở rộng thêm
và phát triển trong tương lai. Các nhà đầu tư “giá trị” ưa sở hữu cổ phiếu của các công
ty với giá hời, còn các nhà đầu tư “tăng trưởng” ưa sở hữu các công ty lớn còn giá cả
chỉ là vấn đề thứ yếu.
Kiểu đầu tư nào tốt hơn? Điều này phụ thuộc vào bản thân nhà đầu tư. Nhà đầu tư nào
ít có khả năng chịu đựng rủi ro sẽ nên ưu tiên đầu tư phần lớn tiền vào những chứng
khoán “giá trị”. Những nhà đầu tư có khả năng chịu đựng rủi ro cao hơn nên đầu tư
thiên về chứng khoán “tăng trưởng”. Tuy nhiên, nếu muốn tránh thiệt hại bất ngờ trên
thị trường chứng khoán nói chung thì bao giờ cũng nên đầu tư dù ít dù nhiều vào cả hai
loại cổ phiếu này.
Xét về lâu dài, chứng khoán “giá trị” lợi hơn chứng khoán “tăng trưởng”. Nhưng đôi
khi, trong tương lai gần thì ngược lại. Các nhà đầu tư phải nhận thức được các khả
năng sau đây:
- Tùy từng thời điểm kiểu đầu tư này có thể hiệu quả hơn kiểu đầu tư kia hoặc ngược
lại.
- Các nhà đầu tư “giá trị” có xu hướng “mua và giữ”, các nhà đầu tư “tăng trưởng”
thường đầu tư ngắn hạn hơn.
- Rất khó xác định được dạng đầu tư nào sẽ có lợi hơn trong kỳ hạn ngắn.
- Sự khác biệt về hiệu quả giữa 2 kiểu đầu tư “giá trị” và “tăng trưởng” có thể rất lớn
trong một khoảng thời gian ngắn.
khi trái khoán đáo hạn, tiền gốc (mệnh giá) sẽ được hoàn lại và việc thanh toán lãi suất
chấm dứt. Trái khoán do các cơ quan Nhà nước và các tập đoàn kinh doanh phát hành.
Uy tín tài chính của tổ chức phát hành trái khoán là thước đo mức độ rủi ro và tác động
đến lãi suất trái khoán. Nói chung, các tập đoàn có độ rủi ro cao thì lãi suất cao, trái
khoán của các cơ quan Nhà nước mức độ an toàn cao hơn nên lãi suất thấp hơn. Thời
gian đáo hạn của một trái khoán có thể là 1 năm đến trên 30 năm, thời gian càng dài thì
lãi suất càng lớn (tương ứng với độ rủi ro tăng lên).
3.2. Mua trái khoán
11/04/2006
Trái khoán dài hạn có nguy cơ tăng giảm giá đột ngột hơn trái khoán ngắn hạn. Mức
thanh toán lãi theo trái khoán càng cao thì trái khoán càng ít dao động. Xen kẽ các trái
phiếu với thời gian đáo hạn khác nhau (xen kẽ các trái phiếu ngắn, trung và dài hạn),
và mua trái khoán của nhiều tổ chức khác nhau (công trái Nhà nước và trái khoán một
số công ty) sẽ đem lại cho bạn một danh mục trái khoán đa dạng.
Việc buôn bán trái khoán diễn ra giữa những người kinh doanh trái khoán. Như thế có
nghĩa là bạn không thể nhìn thấy một chợ bán đấu giá hoàn chỉnh và cũng không thấy
báo giá trên mạng Internet hay trên báo. Bạn phải dựa vào các nhà kinh doanh trái
khoán. Những người này sẽ cung cấp cho bạn số liệu chính xác về lợi tức và giá hiện
tại của trái khoán.
Những người đầu tư trực tiếp vào trái khoán mà không thông qua trung gian (quĩ tương
hỗ chẳng hạn) sẽ tiết kiệm được khoán phí. Chỉ cần tiết kiệm được 0,5 hay 1% cũng đã
thành một khoản rất đáng kể rồi.
3.3. Kết luận
Trái khoán, cho dù là Bạn mua trực tiếp hay thông qua trung gian, cũng nên có mặt