MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN THÀNH PHẨM VÀ TIÊU THỤ THÀNH PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT - Pdf 76

Chuyên đề tốt nghiệp ĐHDL Phương
Đông
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC HẠCH TOÁN
THÀNH PHẨM VÀ TIÊU THỤ THÀNH PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP
SẢN XUẤT
I. Ý NGHĨA CỦA VIỆC TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN THÀNH PHẨM VÀ
TIÊU THỤ THÀNH PHẨM
1. Thành phẩm và yêu cầu quản lý thành phẩm:
a. Thành phẩm và vai trò của thành phẩm
Sản phẩm của các doanh nghiệp công nghiệp bao gồm thành phẩm, nửa thành
phẩm và lao vụ mà các đơn vị sản xuất ra để cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng của xã
hội trong đó thành phẩm chiếm đại bộ phận.
Thành phẩm: là những sản phẩm đã kết thúc giai đoạn chế biến cuói cùng của qui
trình công nghệ sản xuất sản phẩm, do các bộ phận sản xuất kinh doanh chính và sản
xuất kinh doanh phụ của đơn vị tiến hành sản xuất xong hoặc thuê ngoài đã được
kiểm nghiệm phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật và nhập kho hoặc giao trực tiếp cho
khách hàng.
Nửa thành phẩm: là những thành phẩm chưa qua giai đoạn chế biến cuối cùng của
quá trình chế biến, nhưng do yêu cầu của sản xuất và tiêu thụ nên được nhập kho
thành phẩm và khi bán cho khách hàng nửa thành phẩm cũng có ý nghĩa như thành
phẩm.
Thành phẩm được biểu hiện trên hai mặt: số lượng và chất lượng. Số lượng thành
phẩm được xác định bằng các đơn vị đo lường như kg, lít, mét… Còn chất lượng thì
lại được xác định bằng tỷ lệ phần trăm tốt hay xấu hoặc được phân cấp theo phẩm cấp.
Sản xuất sản phẩm, hàng hoá là một quá trình diễn ra một cách thường xuyên có
tính chất lượng, phân công lao động có tính chuyên môn hoá cao. Trong một ngành
kinh tế, sản phẩm của công ty này có thể là vật liệu của công ty khác. Vì vậy thành
phẩm có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế và bản thân mỗi
doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp khối lượng thành phẩm hoàn thành trong kỳ là cơ sở để đánh
giá quy mô sản xuất của đơn vị, tỷ trọng cung ứng của doanh nghiệp về sản phẩm

- Trước hết phải quản lý về mặt số lượng. Muốn vậy phải thường xuyên phản ánh
giám sát tình hình thực hiện kế hoạch kinh doanh; tình hình xuất - nhập - tồn kho - dự
trữ thành phẩm để kịp thời phát hiện các trường hợp hàng hoá tồn đọng lâu trong kho
không được tiêu thụ, tìm biện pháp giải quyết, tránh trường hợp ứ đọng vốn.
- Bên cạnh đó, phải quản lý chặt chẽ về mặt chất lượng thành phẩm. Tránh việc
đưa ra thị trường các sản phẩm kém phẩm chất, bởi trong điều kiện hiện nay nó sẽ
SV : Nguyễn Thành Long
2
2
Chuyên đề tốt nghiệp ĐHDL Phương
Đông
ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đi đôi với việc
thường xuyên tăng cường chất lượng thành phẩm, doanh nghiệp cần phải thường
xuyên cải tiến mẫu mã, chủng loại mặt hàng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
xã hội.
2. Tiêu thụ thành phẩm và yêu cầu quản lý tiêu thụ
a. Tiêu thụ thành phẩm và vai trò của tiêu thụ thành phẩm
Trong nền kinh tế tập trung bao cấp, các doanh nghiệp chỉ có nhiệm vụ sản xuất ra
thành phẩm, còn tiêu thụ thuộc về trách nhiệm Nhà nước. Khi chuyển sang nền kinh tế
thị trường, Nhà nước chỉ điều hành vĩ mô nền kinh tế thì các doanh nghiệp phải đảm
nhiệm cả nhiệm vụ sản xuất và tiêu thụ. Đây là điều mới mẻ song cần thiết giúp các
doanh nghiệp tự khẳng định mình và chủ động trong sản xuất kinh doanh.
Tiêu thụ là quá trình thực hiện trao đổi thông qua các phương tiện thanh toán để
thực hiện giá trị của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Trong quá trình đó doanh nghiệp
chuyển giao sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng, còn khách hàng trả cho
doanh nghiệp khoản tiền tương ứng với giá bán sản phẩm hàng hoá đó theo giá trị
thoả thuận. Quá trình tiêu thụ kết thúc khi cả hai điều kiện sau được đảm bảo:
- Doanh nghiệp chuyển giao sản phẩm và quyền sở hữu cho người mua
- Người mua đã trả tiền mua hoặc chấp nhận thanh toán.
Điều trên có nghĩa là trong quá trình tiêu thụ phải có sự thay đổi thoả thuận giữa

Để quản lý tốt khâu tiêu thụ sản phẩm, cần phải quản lý chặt chẽ khối lượng sản
phẩm tiêu thụ, giá thành, giá bán, phương thức thanh toán, thời hạn thanh toán theo
hợp đồng đã ký kết và thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước. Ngoài ra để đảm
bảo tính liên tục của quá trình sản xuất và việc sử dụng vốn có hiệu quả thì trong công
tác tiêu thụ cần biết rõ từng khoản thu nhập, nguyên nhân tăng, giảm từng khoản đó
đồng thời phân tích các nguyên nhân để tìm ra biện pháp có hiệu quả cao nhất.
3. Vai trò của kế toán đối với việc quản lý thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm
Thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm là khâu động của hoạt động kinh doanh trong
xí nghiệp, vì quá trình sản xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc sản xuất ra sản
phẩm mà phải tiêu thụ kịp thời. Giữa kế hoạch sản xuất và kế hoạch tiêu thụ luôn có
mối quan hệ mật thiết, trong đó sản xuất là cái gốc của tiêu thụ. Nếu sản xuất không
hoàn thành thì tiêu thụ gặp nhiều khó khăn, bởi vậy kế toán thành phẩm và tiêu thụ
thành phẩm luôn gắn liền với nhau và có vai trò to lớn trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Thật vậy, thông qua số liệu của kế toán mà giám đốc xí nghiệp và cơ quan cấp trên
có thể biết được mức độ hoàn thành kế hoạch của xí nghiệp về sản xuất sản phẩm,
SV : Nguyễn Thành Long
4
4
Chuyên đề tốt nghiệp ĐHDL Phương
Đông
quá trình tiêu thụ để từ đó phát hiện phát hiện kịp thời những sai sót, mất cân đối ở
từng khâu của quá trình lập và thực hiện kế hoạch, đảm bảo sự cân đối thường xuyên
giữa các yếu tố của quá trình tiêu thụ, dự trữ… Để đạt được yêu cầu đó, công tác tổ
chức quản lý phải thật sự khoa học, đặc biệt là kế toán thành phẩm và tiêu thụ sản
phẩm.
Để phát huy vai trò của kế toán đối với công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh
doanh, kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm phỉa thực hiện những nhiệm vụ
sau:
- Phản ánh, giám đốc tình hình thực hiện kế hoạch sản phẩm về thành phẩm, chất

Nguyên tắc 4: Sự biến động của thành phẩm có rất nhiều nguyên nhân, vì vậy để
phản ánh được tình hình biến động của thành phẩm phải tổ chức công tác ghi chép
ban đầu một cách khoa học hợp lý.
2. Đánh giá thành phẩm
Đánh giá thành phẩm là xác định giá trị chúng theo nguyên tắc nhất định.
đối với thành phẩm phải xác định theo giá thực tế, xong trong doanh nghiệp có
nhiều loại thành phẩm và có biến động thường xuyên. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu
hạch toán hàng ngày, doanh nghiệp có thể xử dụng giá hạch toán để hạch toán chi tiết
hàng ngày. Nhưng đến cuối tháng hoặc cuối kỳ hạch toán kế toán phải tính hệ số giá
để chuyển giá hạch toán sang giá thực tế .
Giá hạch toán thành phẩm là giá ổn điịnh trong một niên độ kế toán, do phòng kế
toán quy định. Giá hạch toán có thể là giá thành kế hoạch hoặc theo giá nhập kho
tthống nhất quy định.
2.1. Đánh giá thành phẩm nhập kho
Trị giá thành phẩm phản ánh trong kế toán tổng hợp phải được phản ánh theo
nguyên tắc giá thực tế hay còn gọi là giá vốn thực tế có nghĩa là đánh giá theo giá
thành sản xuất. Giá thực tế của thành phẩm nhập kho được xác định với từng nguồn
nhập:
- Thành phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra được đánh giá theo giá thành công
xưởng thực tế:
Z
cxtt
= CPNVL trực tiếp + CPNC trực tiếp + CPSX chung
- Thành phẩm thuê ngoài gia công được đánh giá theo giá thành thực tế gia công
bao gồm: CPNVL trực tiếp đem gia công, chi phí thuê nhân công gia công và các chi
phí khác có liên quan đến thành phẩm gia công như chi phí vận chuyển, bảo quản…
- Đối với thành phẩm mua ngoài thì được tính theo giá vốn thực tế bao gồm giá
mua ghi trên hoá đơn (bao gồm cả thuế ) cộng với các chi phí mua thực tế như chi phí
SV : Nguyễn Thành Long
6

Theo phương pháp này doanh nghiệp tiến hành xuất lô hàng của lần nhập sau cùng
trước, nhập theo giá nào xuất theo giá đó.
SV : Nguyễn Thành Long
7
7
Chuyên đề tốt nghiệp ĐHDL Phương
Đông
Sử dụng phương pháp này hạch toán thì thành phẩm trong doanh nghiệp phải được
phản ánh một cách chính xác theo từng lô hàng nhập vào, bán ta. Phương pháp này
thể hiện đầy đủ nhất nguyên tắc phù hợp, nghĩa là trị giá vốn của hàng bán ta phù hợp
với doanh thu tạo ra trong kỳ nên nó tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong
hạch toán kế toán cũng như trong kế hoạch tiêu thụ. Tuy nhiên phương pháp này
không phù hợp với việc bảo quản hàng hoá tại kho.
(4) Phương pháp tính theo giá thực tế đích danh
Theo phương pháp này thành phẩm được xác định giá trị theo đơn chiếc hay từng
lô và giữ nguyên từ lúc nhập vào cho đến lúc xuất dùng (trừ trường hợp điều chỉnh)
phương pháp này thường sử dụng các loại vật liệu có giá trị cao và có tính cách biệt.
Khi sử dụng phương pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý, theo dõi chặt
chẽ các loại thành phẩm theo từng lô. Khi xuất kho thành phẩm theo lô nào thì căn cứ
vào số lượng xuất kho và đơn giá nhập kho thực tế của lô hàng đó để tính ra trị giá
hàng xuất kho.
(5) Phương pháp giá hạch toán
Đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn, khối lượng, chủng loại mặt hàng nhiều,
tình trạng nhập - xuất diễn ra thường xuyên nên việc xác định giá thực tế thành phẩm
xuất kho rất khó khăn. Bên cạnh đó, giá thành thực tế lại chỉ có thể tính vào cuối
tháng. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý, công tác kế toán doanh
nghiệp có thể sử dụng phương pháp hạch toán để hạch toán tình hình nhập xuất hàng
ngày. Cuối kỳ kế toán phải điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế. Việc điều chỉnh
này căn cứ vào hệ số giá. Hệ số giá được tính bằng công thức sau:
Giá thực tế của thành phẩm + Giá thực tế của thành phẩm

Thẻ kho
Chứng từ nhập Chứng từ xuất
Sổ kế toán chi tiết
BK tổng hợp nhập - xuất - tồn Kế toán tổng hợp
Chuyên đề tốt nghiệp ĐHDL Phương
Đông
4.1. Phương pháp ghi thẻ song song
Trong phương pháp này, việc hạch toán thành phẩm được tiến hành đồng thời ở cả
kho và phòng kế toán.
Ở kho: Việc ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn kho thành phẩm hàng ngày do thủ
kho tiến hành trên thẻ kho và chỉ ghi theo số lượng căn cứ vào số liệu trên các chứng
từ nhập, xuất kho (sau khi đã kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của chứng từ).
Ở phòng kế toán: Kế toán sử dụng sổ chi tiết kế toán thành phẩm để ghi chép tình
hình nhập, xuất, tồn kho theo chỉ tiêu hiện vật và giá trị. Cuối tháng, kế toán cộng sổ
chi tiết thành phẩm của mình và tiến hành kiểm tra, đối chiếu với thẻ kho do kế toán
đưa lên. Có thể khái quát nội dung trình tự kế toán chi tiết thành phẩm theo phương
pháp ghi thẻ song song như sau:

Ghi chú: : ghi hàng ngày
: ghi cuối tháng
: đối chiếu kiểm tra
Phương pháp này ghi chép đơn giản, dễ kiểm tra, dễ đối chiếu. Tuy nhiên, việc ghi
chép ở kho và phòng kế toán còn bị trùng lặp về chỉ tiêu số lượng. Việc kiểm tra đối
chiếu được tiến hành vào cuối tháng nên hạn chế chức năng kiểm tra kịp thời của kế
toán. Do vậy, phương pháp này chỉ thích hợp với các doanh nghiệp có ít chủng loại
thành phẩm, các nghiệp vụ nhập, xuất ít, không thường xuyên.
SV : Nguyễn Thành Long
10
10
Phiếu nhập kho

SV : Nguyễn Thành Long
11
11
BK nhập
Chứng từ nhập
Bảng luỹ kế nhập
Sổ só dư
BK tổng hợp N- X - T
Chứng từ xuất
BK xuất
Bảng luỹ kế xuất
Chuyên đề tốt nghiệp ĐHDL Phương
Đông
Ở phòng kế toán: Kế toán mở sổ số dư theo từng kho chung cho cả năm để ghi chép
tình hình nhập, xuất, tồn. Từ các bảng nhập, kế toán lập luỹ kế nhập, luỹ kế xuất theo
từng nhóm sản phẩm theo chỉ tiêu giá trị.
Cuối tháng, kế toán căn cứ vào số liệu trên cột số lượng và số tồn kho cuối tháng do
thủ kho ghi trên sổ dư để tính ra giá trị và ghi vào cột sổ tiền trên sổ số dư. Việc kiểm
tra, đối chiếu được căn cứ vào cột số tồn dư trên sổ số dư và bảng kê tổng hợp nhập,
xuất, tồn và số liệu kế toán tổng hợp.
Phương pháp sổ số dư được ghi theo trình tự sau:

: Kiểm tra,đối chiếu
: Ghi hàng ngày
: Ghi cuối tháng
Phương pháp này có ưu điểm là tránh được sự ghi chéo trùng lặp giữa kho và phòng
kế toán, công việc được tiến hành đều trong tháng. Tuy nhiên, do kế toán chỉ theo dõi
về mặt giá trị nên muốn biết số hiện có và tình hình tăng giảm thành phẩm về hiện vật
thì xem số liệu của thẻ kho. Do vậy, việc kiểm tra của kế toán sẽ kém hiệu quả, công
việc phát hiện sai sót, nhầm lẫn giữa thủ kho và kế toán gặp khó khăn phức tạp. Như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status