Đặc điểm di truyền của
các thể tự đa bội
Thể tự đa bội là những dạng đa bội xuất hiện
trên cơ sở gấp bội bộ nhiễm sắc thể của
chính loài đó.
Các thể tự đa bội được áp dụng rất rộng rãi
trong chọn giống thực vật để tạo ra những
dạng cây có kiểu gene ổn định. Bằng
phương pháp sinh sản sinh dưỡng và tự thụ
phấn, các dạng tự đa bội được duy trì rất lâu.
Trong sinh sản hữu tính, thể tự đa bội cho ra
những dạng đồng nhất về số lượng nhiễm
sắc thể và bộ gene nếu như dạng ban đầu là
đồng hợp tử.
Tuy nhiên, có một vấn đề rất lớn và đặc
trưng cho các thể tự đa bội là khả năng sinh
sản và kết hạt của nó rất kém. Đặc tính này
có liên quan chặt chẽ đến qúa trình giảm
phân và một số đặc điểm di truyền khác.
Do thể tự tứ bội có sự gấp đôi về số lượng
nhiễm sắc thể nên sự tiếp hợp của các nhiễm
sắc thể trong giảm phân của nó khác so với
dạng lưỡng bội. Sự rối loạn của quá trình
phát sinh giao tử chính là nguyên nhân cơ
bản làm giảm tính hữu thụ của chúng. Kiểu
gene AAaa sẽ cho ra 3 kiểu giao tử với tỉ lệ
1AA :4A a:1aa. Ở F
2
sự phân ly theo kiểu
Theo Darlington, Kostoff, Mather...thì
những nguyên nhân gây ra tính sinh sản kém
ở cây tự đa bội chủ yếu là về mặt tế bào học.
đó là do sự rối loạn của quá trình giảm phân.
Ví dụ, ở luá mạch tứ bội, đáng lẽ hình thành
những tế bào sinh dục có 14 nhiễm sắc thể
thì con số ấy thường lại là 13 hay 15. Những
giao tử này hoặc bị chết sớm hoặc kém sức
sống thường là những giao tử đực. Theo
quan sát của Fischer, ở ngô tứ bội có khoảng
85% tế bào có từ 8 - 10 bộ 4 nhiễm sắc thể,
những cây này có tỉ lệ kết hạt cao. Còn ở
những cây có tỉ lệ kết hạt kém thì số lượng
bộ bốn này ít đi.
Tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu cho
thấy tính hữu thụ kém của thể tự đa bội, ít
hoặc không có liên quan rõ rệt đến sự rối
loạn của quá trình giảm phân.
Xét theo nguyên nhân tế bào học, về mặt
nguyên tắc có thể khắc phục hiện tượng bất
thụ bằng cách khống chế sự đa tiếp hợp giữa
các nhiễm sắc thể tương đồng tạo điều kiện
cho sự tiếp hợp đôi. Muốn vậy, phải tạo
được những thể tự đa bội nhưng có nguồn
gốc lai giữa những dạng có kiểu nhân rất
gần nhau trong cùng một loài. Ví dụ, lai
giữa các dạng tự tứ bội của các thứ lúa thuộc
hai loài phụ Japonica và Indica của loài
Oryza sativa như Lương Đình Của (1952)
đã làm.