Sự di truyền của các
gene ty thể
1. Đặc điểm di truyền của các gene ty thể
Theo Mendel, khi tạp giao những sinh vật
lưỡng bội thì có sự phân ly tính trạng theo
đúng định luật của Mendel vì những gene ở
trong nhân đều nằm trên nhiễm sắc thể và
trong giảm phân được phân chia cho các
giao tử cùng với nhiễm sắc thể. Đối với
những tính trạng ở trong tế bào chất không
có một hệ thống phân chia nào đảm nhận
nên không có sự phân ly theo một quy luật
nhất định.
Ở nấm men có một thể đột biến có thể
hình thành những khuẩn lạc petite kích
thước nhỏ hơn bình thường, đường kính chỉ
bắng 1/2 - 1/2 khuẩn lạc bình thường. Các tế
bào tạo nên khuẩn lạc petite có kích thước
giống kích thước tế bào bình thường.
Nguyên nhân tạo nên khuẩn lạc kích thước
nhỏ là do các tế bào đột biến petite bị hỏng
hệ thống hô hấp, tức là những enzyme oxy
hóa trong ti thể là các cytochrom b, c, a, a3
và cytochrom oxydase bị phá hủy. Đây là
những enzyme của màng trong ty thể. Khác
với kiểu dại, các đột biến petite không thực
hiện được phản ứng phosphoryl hóa để sản
ra năng lượng, vì vậy tốc độ sinh trưởng và
Khi lai nấm men 2 tế bào cha mẹ, hai tế bào
cha mẹ kết hợp với nhau và góp tế bào
chất như nhau vào tế bào con lưỡng bội.
Sự di truyền của các petite trung tính và ức
chế độc lập với kiểu bắt cặp thể hiện rõ sự di
truyền ngoài nhân nên được gọi là petite tế
bào chất. Qua nghiên cứu chúng có các đặc
điểm kiểu hình như sau:
- Chuỗi chuyền điện tử của ty thể bị sai hỏng
ở các petite tế bào chất. Do sai hỏng này,
chúng lên men để tạo ATP kém nên mọc
chậm.
- Không có sinh tổng hợp protein ở các
petite tế bào chất. Các ty thể có hệ thống
sinh tổng hợp riêng gồm tRNA, các
ribosome khác với tế bào chất.
- mtDNA ở các đột biến petite có biến đổi
lớn. Ty thể của tất cả các Eukaryote có
mtDNA riêng tuy số lượng nhỏ, nhưng
khác với DNA của nhân tế bào. Ở các
petite trung tính, mtDNA bị mất hoàn
toàn, còn ở các petite ức chế có sự thay
đổi đáng kể tỷ lệ base so với mtDNA
của dạng khuẩn lạc to bình thường.
Nhóm các đột biến thứ hai của nấm men là
antR (antR mutants), có kiểu hình đề kháng
với các kháng sinh khác nhau. Ví dụ: capR
(chloramphenicol resistance) kháng
chloramphenicol, eryR kháng
erythromycine, spiR kháng spiromycine,