Câu hỏi: Hãy phân tích và trình bày sự biến đổi của protein trong
nạc cá từ khi cá được đánh bắt lên bờ đến khi cá phân hủy.
Trả lời
Từ khi cá đánh bắt lên bờ đến khi cá phân hủy thì trải qua 4 giai đoạn:
1. Giai đoạn tiết dịch nhày – tiền co cứng xác.
2. Giai đoạn co cứng xác.
3. Mềm xác – tự phân.
4. giai đoạn thối rửa.
Tuy nhiên các giai đoạn này xảy ra chồng chéo kên nhau nên rất khó xác
định bắt đầu khi nào và kết thúc khi nào. Dựa vào những dấu hiệu bên ngoài
hình thể mà xác định từng giai đoạn. Mỗi giai đoạn xảy ra dài hay ngắn phụ
thuộc vào các yếu tố sau; loài, giai đoạn phát triển, kích thước, điều kiện
đánh bắt và môi trường bảo quản.
1 Giai đoạn tiết dịch nhày – tiền co cứng xác.
1.1 Dấu hiệu nhận biết:
• Bên ngoài da dịch nhày tiết ra nhiều và nhớt
• Khi cá chết thì thân cá duỗi hoàn toàn
• Thân cá mềm, dể uốn
• Cơ thịt có tính đàn hồi cao và có màu xẩm đỏ.
1.2 Điều kiện hoạt động.
Do môi trường sống thay dổi nên hệ thống dịch nhày trong cơ thể
tiết ra nhiều để bảo vệ cơ thể.
Do tập tính và phản xạ bình thường của cá khi nguồn cung cấp ôxy
qua mang không có nên cá vùng vẩy rất nhiều
Cá chết vì thiếu ôxy.
1.3 Các quá trình và biến đổi bên trong.
Quá trình tiết dịch nhày : cơ thể cá tiết dịch
nhày rất nhiều để bảo vệ cơ thể giảm ma sát, thông thường có độ
dày từ 2-3mm. Tuy nhiên vẫn phụ thuộc nhiều vào từng loài cá.
Dịch nhày lúc đầu trong suốt, không mùi có độ dẻo cao sau đó
chuyển sang màu đục hơn có mùi chua và tanh hơi lỏng.
• Miệng và mang khép lại chặt
• Dịch nhày trở nên lỏng hơn và chuyển sang màu đục
2.2 Điều kiện hoạt động.
Do nguồn ôxy trong cơ thể của cá ngày cạn kiệt nên tiếp tục quá
trình chết từng phần của cơ thịt cá. Cuối giai đoạn này cá chết
hoàn toàn
Cơ thịt cá mất khả năng hydrat hóa do : pH giảm, ATP phân hủy,
sự tạo thành actomiozin
Sự thay đổi của pH từ trung tính sang acid do: quá trình phân hủy
glycogen đã sinh ra nhiều acid lactic làm cho môi trường có tính
acid
2.3 Các quá trình và biến đổi bên trong
• Quá trình phân giải glycogen
Glycogen trong cơ thể cá phân giải bằng hai con đường: đường
phân Embden khoảng 85% sản phẩm sinh ra đáng chú ý là ATP
và acid lactic chính vì acid lactic sinh ra nhiều nên làm pH giảm
xuống và con đường amilo phân sản phẩm là maltose, glucose…
• Do không có ôxy trong mô bào nên chu trình Krebs không
xảy ra.
• Quá trình phân hủy ATP:
Sau khi chết, ATP bị phân hủy nhanh tạo thành inosine
monophosphate (IMP) bởi enzym nội bào (sự tự phân). Tiếp theo sự
phân giải của IMP tạo thành inosine và hypoxanthine là chậm hơn
nhiều và được xúc tác chính bởi enzym nội bào IMP phosphohydrolase
và inosine ribohydrolase, cùng với sự tham gia của enzym có trong vi
khuẩn khi thời gian bảo quản tăng. Sự phân giải ATP được tìm thấy
song song với sự mất độ tươi của cá, được xác định bằng phân tích
cảm quan.
ATP bị phân hủy xảy ra theo bởi các phản ứng tự phân:
lại vì các sợi co không co duỗi được,Mô bào thay đổi, Các nhóm sợi cơ
riêng biệt co rút ở những thời gian khác nhau cho nên sự tê cứng trên
cơ thể không đồng đều. Trong thời kì tê cứng này không phát sinh
những biến đổi sâu sắc về thành phần cấu trúc của sợi cơ,cơ thịt cá mà
điều đó được thể hiện rõ trong quá trình tự chín sau này.
Kết luận: ở cuối giai đoạn này thì protein mới có những điều kiên thuận
lợi để phân hủy nhờ vào hệ thống enzim protease trong mô bào bắt
đầu hoạt động khi pH của mô bào xuống thâp khoảng 4 – 6.
3 Giai đoạn mềm xác – tự phân
3.1 Các dấu hiệu nhận biết
Cơ thể của cá mềm lại và có hiện tượng rỉ nước ở nắp mang cá
Toàn cơ thể cá chuyển sang màu trắng bạc dịch nhày không tiết
ra.
Cuối giai đoạn thịt cá mềm nhão va trương phồng lên có hiện
tượng rỉ nước trên da
3.2 Điều kiện hoạt động
Hệ thống enzim protease đã có diều kiện hoạt động khi pH có tính
acid
Đây là quá trình tự nhiên chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố
như;loài,nhiệt độ môi trường , điều kiện sống ,pH …
Vi sinh vật phân hủy chưa có điều kiện phát triển vì bị pH acid
kiêm chế.