LÍ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VÀ KINH NGHIỆM THẾ GIỚI - Pdf 76

LÍ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY KIỂM TOÁN ĐỘC
LẬP VÀ KINH NGHIỆM THẾ GIỚI
1.1 Khái quát chung về kiểm toán và kiểm toán độc lập
1.1.1 Định nghĩa kiểm toán
Kiểm toán là một hoạt động có từ rất lâu đời kể từ thời mà các thông tin được phê
chuẩn bằng cách đọc lên trong một buổi họp công khai - Thuật ngữ kiểm toán (audit)
theo tiếng Latinh là “auditur” có nghĩa là nghe cũng từ đó ra đời.
Hoạt động kiểm toán gắn liền với quá trình phát triển kinh tế-xã hội của loài
người.Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, hoạt động kiểm toán phát triển
theo đó để đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội.Những lĩnh vực kiểm toán và loại
hình kiểm toán khác nhau đã lần lượt hình thành, đặc biệt là kiểm toán độc lập -
một hoạt động rất phát triển trong nền kinh tế thị thường hiện nay.Để tìm hiểu về
kiểm toán độc lập, trước tiên ta cần hiểu về định nghĩa Kiểm toán.Có rất nhiều
định nghĩa khác nhau về kiểm toán, nhưng định nghĩa được chấp nhận rộng rãi là:
“Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được
kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với
các chuẩn mực kiểm toán được thực hiện bởi các kiểm toán viên có đủ năng lực và
độc lập”( Auditing: An Integrated approach, A.A.Arens & J.K.Loebbecker)
Sơ đồ 1.1 Các yếu tố cấu thành kiểm toán
Kiểm toán viên có đủ năng lực và độc lập
Báo cáo kiểm toán
Thu thập và đánh giá các BCKT
Các chuẩn mực đã được thiết lập
Thông tin được kiểm
tra

Kiểm toán
Các thuật ngữ trong định nghĩa trên được hiểu:
Kiểm toán viên có đủ năng lực và độc lập để có thể thực hiện cuộc kiểm toán
đảm bảo chất lượng.Năng lực là trình độ nghiệp vụ được hoàn thành qua đào tạo và
tích luỹ kinh nghiệm giúp cho Kiểm toán viên(KTV) có khả năng xét đoán công

nghiệp, địa vị và trách nghiệm pháp lý, kiểm tra và đưa ra lời kết luận là các báo
cáo tài chính của doanh nghiệp lập ra có hợp thực không, có trung thực và hợp lý
hay không.Đó chính là công việc của các KTV độc lập thuộc các tổ chức kiểm
toán chuyên nghiệp.Luật pháp nhiều nước đã khẳng định rằng, chỉ những báo cáo
tài chính đã được xem xét và có chữ ký xác nhận của KTV độc lập mới được coi là
hợp pháp, làm cơ sở cho Nhà nước tính thuế cũng như các bên quan tâm khác đưa
ra quyết định kinh tế trong mối quan hệ với doanh nghiệp được kiểm toán.
Trong lịch sử kinh tế - xã hội, khi nền kinh tế phát triển mạnh tạo nên sự tách
biệt rõ rệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản, nhu cầu về thẩm định thông
tin do người sử dụng tài nguyên trở nên cấp thiết.
Sự phá sản của hàng loạt tổ chức tài chính, tín dụng lớn ở Bắc Mỹ và Tây Âu
những năm 30 của thế kỷ XX đã bộc lộ rõ sự hạn chế và yếu kém trong chức năng
tự kiểm tra của kế toán và cũng đòi hỏi có một thể thức mới đáp ứng yêu cầu quản
lý cao hơn và thích hợp hơn; kiểm tra ngoài kế toán.
Cần thấy rõ một thực tế hiển nhiên là: sự tách biệt giữa thực trạng hoạt động
tài chính (thông tin tài chính phát ra) với sự ghi nhận, phản ánh những thông tin
này do kế toán thực hiện (thông tin tài chính do kế toán thu nhận, phản ánh).
Nguyên nhân là những hạn chế của các chính sách kế toán; sự mâu thuẫn giữa tính
đa dạng, phong phú và thường xuyên của các sự kiện kinh tế với sự giới hạn khó
tránh khỏi của trình độ, phương tiện... thu nhận, xử lý và phản ánh các sự kiện kinh
tế. Những thông tin đã được kế toán thu nhận và phản ánh liệu đã phản ánh trung
thực hay không. Ngoài ra, còn một lượng thông tin chưa được ghi nhận trong kế
toán nhưng lại rẩt cần cho sự xác minh thực trạng tài chính, do đó cũng cần được
kiểm tra.Đây là những nguyên nhân đòi hỏi ra đời và hoạt động của tổ chức kiểm
toán độc lập. Đến nay, hoạt động kiểm toán độc lập phát triển rất nhanh chóng và
mạnh mẽ, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Bốn công ty
kiểm toán hàng đầu thế giới hiện nay là:
- KPMG Peat Marwich (KPMG)
- Ernst & Young (E & Y)
- Deloitte Touch Tohmatsu (DTT)

vấn và kiểm toán(A&C),Công ty TNHH Tư vấn và kiểm toán Sài Gòn(AFC)…Các
công ty 100% vốn nước ngoài gồm: Công ty TNHH Ernst and Young Việt
Nam(E&Y), công ty TNHH KPMG Peat Marwick Việt Nam (KPMG), công ty
TNHH Warterhouse Cooper Việt Nam(PWC),…
1.1.3 Kiểm toán viên độc lập
a.Khải niệm : Người thực hiện công việc kiểm toán được gọi chung là Kiểm
toán viên.Thông thường, kiểm toán viên hành nghề thuộc doanh nghiệp kiểm toán
được gọi là Kiểm toán viên độc lập.Danh xưng kiểm toán viên độc lập (gọi tắt là
kiểm toán viên) ở từng quốc gia có thể khác nhau.Ví dụ, ở các nước như Mỹ,
Canada, Trung Quốc, kiểm toán viên được gọi là “kế toán viên công chứng”
(Certifed public Accountant – CPA); ở Anh, Scotland gọi là “giám thị viên kế
toán” ( Chartersd Accoutant-CA),...
b.Tiêu chuẩn của kiểm toán viên:
Tuy có thể có tên gọi khác nhau, nhưng theo IAFC và luật pháp các nước
thành viên đều quy định các yêu cầu cơ bản đối với kiểm toán viên là: có kỹ năng
và khả năng nghề nghiệp, chính trực, khách quan, độc lập và tôn trọng bí mật.
* Kỹ năng và khả năng của kiểm toán viên
Trình độ chuyên môn có được nhờ sự đào tạo, trang bị kiến thức chuyên môn
về mặt lý luận và thực tiển.Kiến thức về các lĩnh vực chủ yếu như kế toán, pháp
luật, kiểm toán,... là không thể thiếu. Kiến thức chuyên môn còn phải dược bổ
sung, cập nhật thường xuyên theo thời gian để duy trì và nâng cao trình độ. Bên
cạnh đó, kiểm toán viên độc lập phải có năng lực thực hiện và tổ chức công việc
kiểm tra, phân tích, thu thập bằng chứng.
* Đạo đức của kiểm toán viên
Kiểm toán viên phải là người đảm bảo có đạo đức nghề nghiệp thích hợp.
Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế cũng như chuẩn mực kiểm toán Việt Nam
(CM số 200) thì kiểm toán viên phải đảm bảo các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp
sau đây:
Độc lập: Độc lập được coi là một nguyên tắc hành nghề cơ bản của kiểm toán
viên. Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải độc lập về mặt chuyên môn;

nhận thức khoa học và tiến tới sự nhận được đặc trưng mang tính luận điểm của
toàn bộ các phổ quát.Một trong những nhiệm vụ chính của tiếp cận này là làm rõ
và phân tích các quy luật, các quan hệ qua lại chung đối với các lĩnh vực khác nhau
của hiện thực.Do vậy, cách tiếp cận hệ thống đã được sử dụng trong lý thuyết đã
nêu mang tính chất liên ngành, bởi vì nó tạo ra cơ hội đem những quy luật và
những khái niệm từ một lĩnh vực nhận thức sang một lĩnh vực khác.Tổ hợp các
khái niệm hệ thống là bộ khung khái niệm khởi điểm, tạo ra sơ đồ nguyên nguyên
tắc của sự phân chia khách thể.
Hệ thống - khái niệm trung tâm biểu thị một tập hợp các phần tử trong sự
tương tác qua lại thể hiện tính chỉnh thể và tính chung của mình.
Phần tử - đơn vị không thể chia nhỏ được nữa trong một phương thức phân
chia đã cho, và nằm trong thành phần của hệ thống, việc có những mối liên hệ giữa
các phần tử sẽ dẫn đến sự xuất hiện trong hệ thống chỉnh thể những tính chất m
Chỉnh thể - hình thức của tồn tại hệ thống với tư cách được xác định chặt chẽ,
phản ánh sự độc lập của nó với các hệ thống khác.
Tính chỉnh thể là tính thống nhất của hệ thống như một chỉnh thể được các
phần tử thể hiện trong sự tương tác qua lại thực tế của chúng.Nó là cơ sở ổn định
của hệ thống.
b.Tổ chức – thực thể xã hội phức tạp
Theo quan niệm triết học:”Tổ chức nói rộng ra là cơ cấu tồn tại của sự vật.Sự
vât không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố
thuộc nội dung gì.Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật”.Định
nghĩa này bao quát cả các phân hệ tự nhiên và xã hội loài người.
Tổ chức là một thực thể xã hội vì tổ chức thực hiện những chức năng nhất
định trong xã hội, tổ chức gồm nhiều người, nhiều mối quan hệ trong xã hội, và
điều tất yếu tổ chức tồn tại trong một xã hội nhất định, nó thuộc một xã hội nhất
định, xã hội là môi trường cho sự hình thành tồn tại và phát triển của tổ chức.Tổ
chức bao gồm rất nhiều yếu tố cấu thành trong mỗi yếu tố cấu thành đó lại có rất
nhiều yếu tố cấu thành bé hơn và với mỗi yếu tố đó, mỗi bộ phận lại có sự khác
nhau về cơ cấu, mục tiêu, cơ chế quyền lực, môi trường.Sự phức tạp của tổ chức

phải trở thành nhận thức và cả kinh nghiệm trong con người và trở thành cơ chế
hoạt động (kể cả phần cứng và phần mềm) của các phương tiện cấu thành bộ máy
kiểm toán
Lý thuyết hệ thống cũng chỉ rõ mối liên hệ logic giữa các yếu tố, phân hệ và
hệ thống. đó là mối liên hệ giữa cái riêng và cái chung và chúng có thể chuyển hóa
cho nhau, song sự bao gồm của cái riêng trong cái chung vẫn phải được tôn trọng
trong tổ chức bộ máy kiểm toán nói riêng cũng như trong mọi hệ thống tổ chức nói
chung.Ngoài ra theo nguyên lý chung của tổ chức bộ máy, bộ máy kiểm toán cũng
có thể được tổ chức theo phương thức trực tuyến – tham mưu hoặc phương thức
chức năng có thể chọn loại hình tập trung hay phân tán tùy quy mô và địa bàn hoạt
động… tùy khả năng và phương tiện điều hành
Do có sự khác nhau về các điều kiện trên và do trình độ nhận thức và kinh
nghiệm kiểm toán cùng mức trang bị các phương tiện kiểm toán ở mỗi nơi, mỗi lúc
khác nhau nên bộ máy kiểm toán không thể tổ chức theo một khuôn mẫu máy
móc.Hơn nữa, khi đã nói tới yếu tố con người là nói tới các quan hệ xã hội, đến
truyền thống văn hóa cụ thể.Do đó, tổ chức bộ máy kiểm toán không chỉ mang tính
khoa học mà còn mang cả tính nghệ thuật nữa.Trong trường hợp này, tính khoa học
của tổ chức bộ máy đòi hỏi phải tạo ra những mối liên hệ giữa các yếu tố, các phân
hệ với hệ thống; giữa bản thân hệ thống kiểm toán với các yếu tố khác và cả với
môi trường hoạt động của hệ thống này.Trong khi đó, tính nghệ thuật của tổ chức
đòi hỏi phải phải xử lý các mối liên hệ này thật mềm dẻo để duy trì được biên độ tổ
chức ở mức cao nhất thích ứng với điều kiện cụ thể về nhân viên, thiết bị và môi
trường thực hiện…
Tất cả các yêu cầu trên đòi hỏi khoa học về tổ chức kiểm toán trước hết phải
xác định được những nguyên tắc cơ bản về tổ chức bộ máy kiểm toán, trên cơ sở
đó xác định các mô hình tổ chức trong hang loạt các mối liên hệ trong và ngoài hệ
thống, đồng thời phân tích điều kiện và xác dịnh mục tiêu và bước đi trong tổ chức
bộ máy kiểm toán ở Việt Nam.
a.Nguyên tắc tổ chức bộ máy kiểm toán
Thứ nhất, phải xây dựng đội ngũ kiểm toán viên đủ về số lượng và bảo đảm

trong từng thời kỳ phát triển mối liên hệ chủ thể - khách thể - môi trường kiểm
toán. ở từng phân hệ kiểm toán trong từng thời kỳ phát triển mối liên hệ chủ thể -
khách thể có những điểm khác nhau song đều được tổ chức và hoạt động trong mỗi
Nhà nước cụ thể với một nguyên tắc tổ chức chụ thể: Nhà nước của dân, do dân và
vì dân.
Từ ý nghĩa và nguyên tắc tổ chức bộ máy kiểm toán, có thể thấy nhiệm vụ cơ
bản của tổ chức bộ máy kiểm toán là xây dựng mô hình tổ chức bộ máy, xác định
kiểu liên hệ trong từng mô hình và mối liên hệ giữa các yếu tố cơ bản cấu thành hệ
thống bộ máy kiểm toán – kiểm toán viên.
b.Tổ chức bộ máy kiểm toán độc lập
Bộ máy kiểm toán độc lập là tổ chức của các kiểm toán viên chuyên nghiệp
kinh doanh dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ khác có liên quan.là tổ chức kinh
doanh, một đơn vị kiểm toán độc lập phải thức hiện các nghĩa vụ có quyền lợi như
các tổ chức kinh doanh khác. Hơn nữa, kinh doanh dịch vụ kiểm toán là kinh
doanh một nghề chuyên sâu nên phải có kiểm toán viên đủ điều kiện hành nghề.Do
đó, chỉ có những người có chứng chỉ kiểm toán viên và đủ điều kiện hành nghề
khác nhau mới được phép tổ chức các đơn vị kinh doanh dịch vụ này. Thông
thường, cùng với dịch vụ kiểm toán, bộ máy này có thể thực hiện các dịch vụ khác
có liên quan như kế toán, thuế, tư vấn, tài chính, tin học… Để thực hiện các loại
dịch vụ này, các tổ chức kiểm toán độc lập có quan hệ với khách hàng tự nguyện
hoặc bắt buộc theo quy định của pháp luật.
1.3 Mô hình tổ chức kiểm toán độc lập trên thế giới
1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới tổ chức bộ máy kiểm toán độc lập
a. Kiểm toán viên-Nhân tố hàng đầu
Theo quan điểm của kinh tế chính trị học Mác-Lênin, bất cứ phương thức sản
xuất nào của xã hội đều bao gồm hai mặt là Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản
xuất. Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất, người lao động và khoa học kỹ
thuật (thể hiện thông qua kỹ năng của người lao động hiện đại ). Trong đó, người
lao động là chủ thể và là lực lượng sản xuất cơ bản nhất, quyết định nhất của xã
hội. Kiểm toán nói chung và kiểm toán độc lập nói riêng cũng có thể coi là một

trung bình
Trách nhiệm đặc thù
Trợ lý kiểm
toán
0-2 năm
-Thực hiện hầu hết các công việc kiểm toán chi tiết
-Chuẩn bị các giấy tờ làm việc cần thiết
-Báo cáo cho nhóm trưởng cuộc kiểm toán tất cả các khúc mắc
liên quan tới kiểm toán, kế toán
Kiểm toán
viên
2-5 năm
-Hỗ trợ việc lập kế hoạch kiểm toán và chuẩn bị ngân sách
-Thực hiện điều phối và có trách nhiệm trong công việc kiểm
toán, bao gồm giám sát và xét duyệt lại công việc của các trợ lý
kiểm toán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status