LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT
LIỆU CÔNG CỤ DỤNG CỤ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT KINH
DOANH
I. Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu công cụ dụng cụ
trong doanh nghiệp sản xuất
1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của nguyên vật liệu công cụ, dụng cụ trong
quá trình sản xuất
Các Mác gọi tất cả các vật liệu trong thiên nhiên ở xung quanh ta mà lao
động có ích của con người có thể tác ddộng vào đối tượng lao động. NVL-CCDC
là đối tượng lao động nhưng không phải bất cứ đối tượng lao động nào cũng là
nguyên vật liệu. Chỉ có trong điều kiện đối tượng lao động có thể phục vụ cho quá
trình sản xuất hay tái tạo ra đối tượng sản phẩm và đối tượng đó do lao động tạo ra
mới trở thành nguyên vật liệu.
Đặc điểm nổi bật của nguyên vật liệu là chỉ tham gia vào một chu kỳ sản
xuất kinh doanh nhất định. Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh
doanh, về mặt hiện vật, nguyên vật liệu bị tiêu hao toàn bộ và thay đổi hình thái vật
chất ban đầu. Về mặt giá trị, nguyên vật liệu được dịch chuyển toàn bộ giá trị ban
đầu một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Trong doanh nghiệp sản xuất, chi phí về nguyên vật liệu thường chiếm toàn
bộ tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và toàn bộ dự
trữ quan trọng của doanh nghiệp. Do vậy, việc sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả trong
quá trình sản xuất kinh doanh cũng như việc thu mua, vận chuyển bảo quản nguyên
vật liệu có ý nghĩa vô cùng quan trọng việc hạ thấp giá thành sản xuất, tiết kiệm
chi phí sản xuất kinh doanh.
2. Yêu cầu quản lý NVL-CCDC trong doanh nghiệp
Nguyên vật liệu là tài sản dự trữ, thường xuyên biến động nên các doanh
nghiệp phải thường xuyên tiến hành nguyên vật liệu để đáp ứng kịp thời cho quá
trình sản xuất và nhu cầu khác trong doanh nghiệp. Đồng thời mỗi loại nguyên vật
liệu có tính chất lý hoá khác nhau, công dụng khác nhau, mức độ tỷ lệ khấu hao và
sản phẩm khác nhau. Do đó khi mua phải làm thông qua kế toán NVL-CCDC giúp
kiểm tra chặt chẽ tình hình thực hiện kế toán sử dụng NVL-CCDC giúp biết được
hợp lý vật liệu.
II. Nội dung công tác kế toán vật liệu và công cụ dụng cụ trong các doanh
nghiệp sản xuất
1. Phân loại: Là việc sắp xếp những NVL-CCDC có cùng một tiêu thức nào đó
vào cùng một loại.
* Căn cứ vào nội dung kinh tế,vai trò của NVL-CCDC trong quá trình sản xuất
kinh doanh và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.
- Nguyên vật liệu
+ Nguyên vật liệu chính: là những đối tượng cấu thành nên thực thể sản
phẩm như giấy trong các công ty in, vải trong các doanh nghiệp may. Ngoài ra,
nguyên vật liệu chính còn bao gồm cả bán thành phẩm mua ngoài với mục đích
tiếp tục quá trình sản xuất như sợi mua ngoài của các doanh nghiệp dệt...
+ Nguyên vật liệu phụ: Là các noại vật liệu chỉ có tác dụng phụ trợ cho quá
trình sản xuất như làm tăng chất lượng sản phẩm hoàn chỉnh sản phẩm phục vụ
cho công việc quản lý sản xuất. Ví dụ như hương liệu trong các doanh nghiệp chế
biến sản phẩm.
+ Nhiên liệu: là loại vật liệu khi sử dụng có tác dụng cung cấp nhiệt lượng
cho quá trình sản xuất kinh doanh như xăng, dầu, than, củi, gas...phục vụ cho công
nghệ sản xuất sản phẩm hoặc các phương tiện vận tải, máy móc thiệt bị hoạt động
trong quá trình sản xuất kinh doanh.
+ Phụ tùng thay thế: là những chi tiết máy móc, phụ tùng mà doanh nghiệp
đã mua sắm, dự trữ phục vụ cho quá trình sửa chữa, thay thế các phụ tùng máy
móc, thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải...
+ Thiết bị xây dựng cơ bản: là loại thiết bị, phương tiện được sử dụng cho
công việc xây dựng cơ bản gồm thiết bị cần lắp, công cụ, khí cụ, vật kết cấu...
trong doanh nghiệp.
+ Vật liệu khác: là toàn bộ NVL còn lại loại ra trong quá trình sản xuất chế
tạo sản phẩm như gỗ, sắt, thép vụn... hoặc phế liệu thu hồi từ việc thanh lý tài sản
cố định.
Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý và hạch toán chi tiết, cụ thể của từng doanh
biến động trong quá trình sản xuất kinh doanh và do yêu cầu của công tác kế toán
vật liệu-CCDC là phải phản ánh kịp thời tình hình biến động và số liệu còn của
NVL-CCDC nên trong công tác kế toán NVL có thể đánh giá theo giá hạch toán.
a. Đánh giá NVL theo thực tế
* Giá thực tế NVL nhập kho
- Đối với vật liệu mua ngoài
+ Trường hợp doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT) theo phương
pháp khấu trừ thuế thì giá vốn thực tế của nguyên vật liệu nhập kho là giá mua
thực tế không có thuế GTGT đầu vào cộng với các khoản chi phí mua (gồm chi
phí vận chuyển, bốc xếp bảo quản, bảo hiểm, chi phí thuế kho, thuê bãi, chi phí
nhân viên...) trừ đi các khoản giảm giá hàng bị trả lại (nếu có)
+ Trường hợp doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
doanh nghiệp không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT và các hoạt động dự án, sự
nghiệp, hoạt động văn hóa, phúc lợi và các hoạt động khác có nguồn chi riêng thì
giá vốn thực tế của NVL mua ngoài là tổng giá thành toán ghi trên hoá đơn (bao
gồm các khoản thuế nếu có, cả thuế GTGT) cộng với các khoản thu mua thực tế
trừ đi các khoản giảm giá, hàng trả lại (nếu có).
- Đối với vật liệu do doanh nghiệp tự gia công, chế biến thì giá vốn thực tế
nhập kho là giá thành công xưởng thực tế bao gồm chi phí NVL trực tiếp, chi phí
nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung.
- Đối với vật liệu thuê ngoài gia công, chế biến: Giá vốn thực tế bao gồm giá
trị thực tế của vật liệu xuất kho thuê chế biến cộng với các chi phí vận chuyển, bốc
dỡ đến nơi thuê chế biến và từ đó về doanh nghiệp cộng với tiền phải trả cho người
gia công chế biến.
- Đối với vật liệu do đơn vị khác liên doanh: Giá vốn thực tế của nguyên vật
liệu nhận vốn góp liên doanh là giá do hội đồng liên doanh đánh giá cộng với các
chi phí vận chuyển nếu có.
- Đối với phế liệu nhập kho: Phế liệu nhập kho được đánh giá theo giá ước
tính (giá thực tế có thể sụng dụng được hoặc có thể bán được).
* Giá thực tế vật liệu xuất kho
kho sau là những vật liệu xuất ra trước và những vật liệu tồn kho cuối kỳ sẽ gồm
những vật liệu nhập vào đầu tiên. Theo phương pháp này, ta phải xác định được
đơn giá thực tế nhập kho của từng lần nhập, nhưng khi xuất sẽ căn cứ vào số lượng
xuất và đơn giá nhập lần cuối. Sau đó xem xét đến các lần nhập trước để tính giá
thực tế xuất kho.
5. Phương pháp tính theo giá thực tế đích danh: Phương pháp này thường áp dụng
đối với những loại vật liệu có giá trị cao, các loại vật liệu đặc biệt, ít chủng loại
như các loại vàng, bạc, đá quý, các chi tiết ô tô, xe máy mà có thể nhận diện được
từng thứ, từng nhóm hoặc từng loại theo từng lần nhập kho. Theo phương pháp
này, doanh nghiệp phải quản lý, theo dõi vật liệu theo từng lô hàng. Khi xuất kho
NVL thuộc lô hàng nào thì căn cứ vào số lượng xuất kho và đơn giá nhập kho thực
tế của lô hàng đó để tính ra giá thực tế xuất kho.
b. Đánh giá NVL theo giá hạch toán
Giá hạch toán NVL là giá quy định thống nhất trong phạm vi doanh nghiệp,
được sử dụng ổn định trong thời gian dài và nó chỉ dùng để ghi sổ kế toán chi tiết
NVL hàng ngày. Giá hạch toán của NVL có thể là giá mua tại thời điểm nào đó
hoặc xác định theo giá kế hoạch của vật liệu mà doanh nghiệp đã xây dựng. Hàng
gnày kế toán phản ánh tình hình nhập xuấ vật liệu theo giá hạch toán trên sổ chi
tiết giá trị vật liệu nhập xuất.
Trị giá hạch toán của vật liệu (nhập, xuất ) = (Số lượng vật liệu <nhập,
xuất> x (đơn giá hạch toán)
Cuối kỳ hạch toán, kế toán phải điều chỉnh giá hạch toán vật liệu theo giá
thực tế để có số liệu ghi vào các tài khoản, sổ kế toán tổng hợp và báo cáo kế toán.
Việc tính đổi ngày được thực hiện dựa trên cơ sở hệ số giá vật liệu. Hệ số giá vật
liệu là hệ số chênh lệch giữa giá thực tế với giá hạch toán của vật liệu.
Giá vốn thực tế của vật liệu xuất kho trong kỳ = (giá hạch toán của vật liệu
xuất kho trong kỳ) x (hệ số giá vật liệu).
Hệ số giá
vật liệu
=
dõi chi tiết vật liệu-CCDC song song ở cả kho và ở phòng kế toán theo từng thứ
với cách ghi chép gần như nhau. Chỉ khác ở chỗ thủ kho chỉ theo dõi tình hình
nhập, xuất, tồn kho vật liệu-CCDC theo chỉ tiêu số lượng, còn kế toán theo dõi cả
chỉ tiêu giá trị trên sổ kế toán chi tiết vật liệu-CCDC. Cơ sở để ghi sổ (thẻ) kế toán
chi tiết là các chứng từ nhập, xuất, tồn kho du thủ kho gửi đến sau khi kế toán đã
kiểm tra lại, hoàn chỉnh đầy đủ chứng từ việc ghi chép các loại vật liệu-CCDC
trong sổ kế toán chi tiết và thẻ kho phải phù hợp. Cuối tháng kế toán cộng sổ chi
tiết và tiến hành kiểm tra, đối chiếu với thẻ kho. Ngoài ra để có số liệu đối chiếu
kiểm tra với kế toán tổng hợp cần phải tổng hợp số liệu kế toán chi tiết từ các sổ
chi tiết vào bảng tổng hợp nhập- xuất- tồn kho vật liệu-CCDC theo từng nhóm.
Phương pháp này được áp dụng với những doanh nghiệp có ít chủng loại vật
liệu-CCDC, khối lượng nghiệp vụ (chứng từ) nhập xuất ít, không thường xuyên và
trình độ nghiệp vụ chuyên môn của các bộ phận kế toán còn hạn chế.
Thẻ kho
Chứng từ xuất
Chứng từ nhập
Số (thẻ) kế toán Chi tiết vật liệu
Bảng kê tổng hợp nhập xuất
(1)
(2)
(2)
(3)
(4)
Ghi chú:
: Ghi hàng ngày
: Ghi đối chiếu, kiểm tra
: Ghi cuối tháng