CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN TÀI SẢN
CỐ ĐỊNH Ở CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 11
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 11
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty Cổ phần sông Đà 11
Công ty cổ phần sông Đà 11 tiền thân là một đội điện nước thuộc Công ty thủy
điện Thác Bà do Bộ kiến trúc thành lập từ năm 1961 đến năm 1973 được nâng
cấp thành công trường cơ điện. Năm 1976 theo quyết định của Bộ Xây dựng,
chuyển đơn vị về thị xã Hòa Bình để chuẩn bị cho khởi công nhà máy thủy điện
Hòa Bình trên sông Đà và được đổi tên là: “xí nghiệp lắp máy điện nước thuộc
Tổng công ty xây dựng thủy điện Sông Đà 11”. Đến năm 1989 theo quyết định số
03/TCT-TCLĐ ngày 12/12/1989 của Tổng giám đốc Tổng công ty, xí nghiệp lắp
máy điện nước được nâng cấp lên thành Công ty xây lắp điện nước. Năm 1993
theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng Công ty lắp máy điện nước đổi tên
thành: “Công ty xây lắp năng lượng thuộc Tổng công ty thủy điện sông Đà”.
Ngày 11/03/2002 Bộ xây dựng có quyết định số 285/QĐ đổi tên thành “Công ty
Sông Đà 11”. Thực hiện nghị quyết TW3 về đổi mới sắp xếp lại doanh nghiệp
Nhà nước, ngày 17/08/2005 Bộ xây dựng đã có quyết định số 1332/QĐ-BXD về
việc chuyển Công ty Sông Đà 11 thuộc Tổng Công ty sông Đà thành Công ty Cổ
phần sông Đà 11.
Trụ sở Công ty tại cơ sở 2 tổng Công ty sông Đà km 10 đường Trần Phú, phường
Văn Mỗ, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây.
Là một đơn vị thành viên 40 năm phát triển và trưởng thành cùng Tổng công ty
Sông Đà, Công ty Cổ phần Sông Đà 11 đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong
lĩnh vực thi công xây lắp và điều hành sản xuất. Đến nay, Công ty cổ phần Sông
Đà 11 đã có một đội ngũ hơn 1500 cán bộ kỹ thuật, cử nhân, công nhân lành nghề
(trong đó có hơn 250 cán bộ kỹ thuật có trình độ đại học và trên đại học).
2.1.2 Lĩnh vực kinh doanh của Công ty Cổ phần Sông Đà 11.
- Xây dựng các công trình thủy lợi, giao thông, bưu điện, quản lý vận hành
phân phối điện nước cho các công trình.
- Xâp lắp hệ thống cấp thoát nước cho các đô thị và khu công nghiệp, đường
Phòng kinh tế kế hoạch: Có nhiệm vụ lập các kế hoạch ngắn hạn và dài hạn,
báo cáo về tổ chức công ty, đồng thời lập kế hoạch giao cho đơn vị, theo dõi
thực hiện kế hoạch.
Phòng tài chính kế toán: Có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra giám sát về kỹ thuật
chất lượng các công trình đồng thời đề ra các sáng kiến thay đổi biện pháp thi
công, ngoài ra còn có nhiệm vụ quản lý vật tư cơ giới toàn công ty, lập kế
hoạch, mua sắm và giám sát tình hình sử dụng, dự trữ vật tư thiết bị của các đơn
vị theo dõi hiện trạng máy móc thiết bị toàn doanh nghiệp để tham mưu cho
việc mua sắm, thanh lý máy móc bổ sung.
Phòng dự án: Theo dõi, quản lý dự án của công ty.
- Dưới các phòng ban của Công ty, tại các xí nghiệp trực thuộc cũng tổ chức
các phòng ban tương tự trực tiếp quản lý hoạt động của từng đơn vị mình,
đồng thời chịu sự chỉ đạo của các phòng ban trên công ty. Giữa các phòng
ban cơ quan Công ty và dưới xí nghiệp có sự phân công quản lý và phối hợp
chặt chẽ.
2.1.4 Bộ máy tổ chức và công tác kế toán ở Công ty.
2.1.4.1 Bộ máy tổ chức:
Bộ máy kế toán của Công ty có nhiệm vụ tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra
công tác kế toán trong phạm vi toàn Công ty kể cả các đơn vị thành viên. Giúp
giám đốc tổ chức phân tích hoạt động kinh tế, thông tin kinh tế, đề ra các giải pháp
tài chính kịp thời phục vụ cho sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao.
Xuất phát từ đặc điểm tổ chức quản lý và quy mô sản xuất, kinh doanh ở Công ty
gồm nhiều xí nghiệp thành viên, trung tâm, ban quản lý dự án và có trụ sở giao
dịch ở nhiều nơi khác nhau trên địa bàn cả nước cho nên bộ máy kế toán ở công ty
được tổ chức theo hình thức nửa tập trung, nửa phân tán. Hàng tháng, bộ phận kế
toán của các đơn vị thành viên sẽ tập hợp số liệu gửi lên phòng tài chính kế toán
của Công ty có nhiệm vụ tổng hợp số liệu chung toàn Công ty và lập báo cáo tài
chính hàng kỳ.
Hiện nay phòng tài chính kế toán của Công ty gồm 12 người được bố trí theo các
chức năng nhiệm vụ sau:
Kế toán tiền lương và BHXH
Kế toán tạm ứng và thanh toán
Kế toán thuế và công nợ nội bộ
Kế toán tổng hợp Thủ quỹ Kế toán nhật ký chung
Kế toán các đơn vị trực thuộc
2.1.4.2 Hình thức sổ kế toán mà Công ty đang vận dụng:
Công ty cổ phần sông Đà 11 có tình hình biến động TSCĐ tương đối lớn, phong
phú, đa dạng, địa điểm kinh doanh sản xuất xa nằm rải rác khắp mọi miền đất
nước. Để thuận tiện cho công tác hạch toán kế toán Công ty đang áp dụng hình
thức “Nhật ký chung”. Các sổ kế toán đang sử dụng tại công ty: Các sổ cái, Sổ nhật
ký chung, Các bảng bao gồm: bảng phân bổ lương, phân bổ khấu hao, phân bổ chi
phí, Sổ quỹ, các sổ chi tiết (tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tạm ứng…),Các bảng kê.
Sơ đồ tổng quát: hình thức nhật ký chung
Chứng từ gốc
Chứng từ mã hóa nhập liệu vào máy tính
Bảng tổng hợp chi tiết số phát sinh
Sổ chi tiết
Sổ cái
Nhật ký chung
Ghi chú:
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Đối chiếu hàng ngày
Các bút toán điều chỉnh kết chuyển
Bảng cân đối số phát sinh thử
Bảng cân đối số phát sinh hoàn chỉnh
Báo cáo tài chính và các báo cáo khác
2.1.4.3 Phần mềm kế toán đang được áp dụng tại Công ty.
Thông tin kế toán đòi hỏi ngày càng phải nhanh, kịp thời, chính xác cũng như giảm
Về mặt hiện vật: Phòng quản lý thiết bị trực tiếp lập sổ sách theo dõi, ghi chép về
công tác quản lý và điều phối vật tư, cơ giới. Phòng còn theo dõi và nắm giữ năng
lực máy móc thiết bị tham gia phục vụ thi công các công trình và khả năng khai
thác tài liệu sử dụng thiết bị các công trình. Đồng thời phòng quản lý các thiết bị
các công trình do công ty đảm nhiệm thi công để cân đối năng lực thiết bị động
lực, thiết bị công tác, phương tiện vận tải…Nhằm điều phối nhịp nhàng giữa các
đơn vị thành viên và giữa các công trình thi công. Phòng quản lý thiết bị còn cùng
với các đơn vị thành viên lập kế hoạch mua thêm máy móc thiết bị mới, đáp ứng
các yêu cầu tiến bô, chất lượng thi công.
Về mặt giá trị: Phòng kế toán trực tiếp lập sổ sách theo dõi tình hình tăng, giảm
TSCĐ có ở công ty theo chỉ tiêu giá trị. Đồng thời định kỳ tính toán giá trị hao
mòn, trích khấu hao và quản lý quỹ khấu hao.
2.2.2 Phân loại TSCĐ và đánh giá TSCĐ ở Công ty.
2.2.2.1 Phân loại TSCĐ.
Tại Công ty Cổ phần sông Đà 11, TSCĐ rất đa dạng, phong phú nên TSCĐ được
phân chia theo nhiều cách để đáp ứng yêu cầu quản lý của Công ty. Vì vậy, TSCĐ
của Công ty cần được phân loại theo những tiêu thức nhất định:
• Phân loại TSCĐ theo nguồn hình thành:
TSCĐ đầu tư bằng nguồn vốn góp 2.615.064.625
TSCĐ đầu tư bằng nguồn vốn CNK 11.648.831.609
TSCĐ đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng 21.345.386.971
• Phân loại TSCĐ theo đặc trưng kỹ thuật:
NG TSCĐ
Giá mua (chưa thuế)
Các khoản giảm trừGiá trị sản phẩm thu được do chạy thử
= + + - -
Nhà cửa, vật kiến trúc 500.347.453
Phương tiện vận tải, truyền dẫn 17.762.151.929
Máy móc thiết bị 15.159.785.830
Giá trị còn lại của TSCĐ
Nguyên giá TSCĐ
Giá trị hao mòn lũy kế của TSCĐ
=
-
Tỷ lệ % năng lực TSCĐ còn lại Nguyên giá TSCĐ (nguyên giá cũ)
=
-
Giá trị còn lại của TSCĐ khi đánh giá lại
Đánh giá TSCĐ theo giá trị còn lại:
Giá trị còn lại của TSCĐ được xác định theo công thức:
Ở Công ty cổ phần sông Đà 11, khi đánh giá lại theo tỷ lệ phần trăm so với TSCĐ
khi còn mới thì giá trị còn lại của TSCĐ là:
Thông thường vào cuối mỗi năm Tổng công ty đều có quyết định kiểm kê lại
TSCĐ. Khi đó phòng quản lý vật tư cơ giới tổ chức đánh giá lại TS để xác định giá
trị tài sản thực tế hiện có ở Công ty.
Trong công tác hạch toán TSCĐ, Công ty chỉ hạch toán theo giá trị ghi trên sổ sách
còn giá trị TSCĐ thực tế kiểm kê và giá trị còn lại của TS khi đánh giá lại Công ty
chỉ sử dụng để xem xét đánh giá công tác quản lý và sử dụng TSCĐ là tốt hay
không tốt.
Do không sử dụng số liệu giá trị còn lại theo đánh giá lại TSCĐ để hạch toán nên
Công ty không xác định giá trị hao mòn của TSCĐ sau khi đánh giá lại (giá trị còn
lại của TSCĐ khi đánh giá lại chỉ được thể hiện trên báo cáo chi tiết kiểm kê
TSCĐ). Như vậy chưa phản ánh được thực tế giá trị TSCĐ hiện có ở Công ty và
nguồn vốn cố định trong quá trình sản xuất kinh doanh.
2.2.3 Tổ chức hạch toán chi tiết TSCĐ hữu hình ở Công ty sông Đà 11.
+ Thủ tục, chứng từ:
Để hạch toán các nghiệp vụ liên quan đến TSCĐ ở Công ty Cổ phần sông Đà 11
đều phải dựa vào các chứng từ tăng, giảm, khấu hao TSCĐ và các chứng từ khác
chứng từ tăng TSCĐ do mua sắm mới mà Công ty sử dụng bao gồm: biên bản giao
nhận TSCĐ, biên bản đánh giá lại TSCĐ, thẻ TSCĐ và các chứng từ liên quan
khác: hóa đơn giá trị gia tăng, giấy đề nghị mua hàng…
Quy trình luân chuyển chứng từ tổng quát khi tăng TSCĐ do mua sắm được minh
họa theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.2: Luân chuyển chứng từ trong nghiệp vụ mua sắm TSCĐ
Hàng năm phòng dự án sẽ căn cứ vào nhu cầu của các xí nghiệp, cơ quan thuộc
Công ty về TSCĐ để lập dự án trình lên HĐQT Công ty phê duyệt dự án. Sau khi
được HĐQT phê duyệt, dư án đó được giao cho Tổng giám đốc thực hiện, tiếp đó
TGĐ giao cho Phòng kinh tế kế hoạch tìm kiếm nhà cung cấp, và lập “Biên bản xét
chào giá cạnh tranh” trong biên bản đó nêu ra ba nhà cung cấp để lựa chọn một nhà
cung cấp có giá sản phẩm, chất lượng hợp lý nhất. Phòng Kinh tế kế hoạch trình
lên TGĐ phê duyệt nhà cung cấp đã lựa chọn, sau khi được phê duyệt phòng Kinh
tế kế hoạch tiến hành ký kết hợp đồng với bạn hàng. Cuối cùng, Phòng Kinh tế kế
hoạch giao toàn bộ chứng từ cho Phòng Kế toán để phòng Kế toán lập hồ sơ tăng
tài sản.
- Các chứng từ sử dụng
+ Quyết định của hội đồng quản trị Công ty cổ phần Sông Đà 11.
Tổng công ty Sông ĐàCông ty CP Sông Đà 11----------------------Số: 62CT/HĐQTCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt NamĐôc lập – Tự do – Hạnh phúc----------------------- Hà Tây, ngày 07 tháng 08 năm 2007
+ Hóa đơn giá trị gia tăng, hóa đơn vận chuyển.
+ Hợp đồng kinh tế (về việc cung cấp máy tính xách tay).
+ Biên bản giao nhận, và biên bản thanh ly hợp đồng.
Ví dụ minh họa:
Theo nhu cầu để phục vụ cho công tác quản lý điều hành tại cơ quan công ty.
Nên Tổng giám đôc công ty đã xin Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Sông Đà
11 Theo nhu cầu để phục vụ cho công tác quản lý điều hành tại cơ quan công ty.
mua máy tính xách tay cho công ty năm 2007 nhằm phục vụ công tác quản lý điều
hành.
Dự án mua máy tính xách tay của cơ quan công ty đã được Tổng giám đốc công
ty phê duyệt và TGĐ giao cho phòng Kinh tế kế hoạch tìm kiếm nhà cung cấp, sau