Thực trạng xuất khẩu của doanh nghiệp trong các khu công nghiệp miền Trung - Pdf 76

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP TRONG
CÁC KHU CÔNG NGHIỆP MIỀN TRUNG
Xuất khẩu hàng hóa ra thị trường nước ngoài là một hướng đi của hầu hết
các doanh nghiệp muốn mở rộng sản xuât, mở rộng thị trường tiêu thụ. Gia tăng
kim ngạch xuất khẩu cũng là một mục tiêu quan trọng của doanh nghiệp trong
KCN miền Trung. Với rất nhiều lợi thế về vị trí địa lý, về tài nguyên thiên nhiên,
về chính sách quản lý nhưng doanh nghiệp trong các KCN miền Trung vẫn chưa
tận dụng được hết tiềm năng này để thúc đẩy hoạt động xuất khẩu, mở rộng thị
trường tiêu thụ.
2.1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC KHU CÔNG
NGHIỆP MIỀN TRUNG
2.1.1. Đặc điểm chung về tự nhiên, kinh tế xã hội của Miền Trung
Nằm ở giữa cả nước, là cầu nối hai miền Nam – Bắc, miền Trung có nhiều
điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội.
 Vị trí địa lý
Miền Trung Việt Nam bao gồm 14 tỉnh, thành phố ven biển từ Thanh Hóa
đến Bình Thuận chiến 29,1% diện tích và 23,6% dân số cả nước. Miền Trung là
lãnh thổ ven biển, kéo dài từ vĩ tuyến 10
o
B đến 20
o
20’B; phía bắc giáp với tỉnh
Ninh Bình; phía nam giáp với tỉnh Đồng Nai; phía tây giáp với 2 nước Lào và
Campuchia; phía đông giáp biển. Miền Trung nằm ở điểm giữa của nước Việt
Nam, trên hệ thống giao thông huyết mạch của quốc gia với Quốc lộ 1A và
đường sắt xuyên Việt đi ngang qua.
Miền Trung không chỉ nằm ở giữa nước Việt Nam mà còn ở vị trí trung tâm
của các trục giao lưu quốc tế các nước ASEAN. Miền Trung là phần đất vươn ra
biển Đông xa nhất của nước Việt Nam; do đó các hải cảng của miền Trung rất
gần với đường hàng hải quốc tế nối khu vực Đông Bắc Á với Đông Nam Á và

cua, cá, rong câu…cung cấp cho các nhà máy chế biến thủy sản.
Những nhánh núi vươn ra biển cùng với nhiều cửa sông lớn đã tạo cho miền
Trung nhiều cửa biển, vịnh biển sâu và kín gió thuận lợi để phát triển cảng biển.
Hiện Nay ở miền Trung có 4 hải cảng tầm quốc gia là Vinh, Đà Nẵng, Quy
Nhơn và Nha Trang. Các hải cảng này đang phục vụ cho hoạt động kinh tế đối
ngoại và du lịch của các tỉnh miền Trung và nước CHDCND Lào với mức độ
hoạt động ngày càng tăng mạnh. So với các hải cảng lớn ở hai miền Nam – Bắc
thì hải cảng miền Trung không có ưu thế về cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhưng lại có
ưu thế do thiên nhiên tạo ra như mực nước sâu, độ kín gió và đặc biệt là rất gần
đường hàng hải quốc tế.
Do cấu tạo địa chất, khoáng sản miền Trung không nhiều và đa dạng như
miền Bắc nhưng phân phối tương đối tập trung và điều kiện khai thác không
mấy phức tạp.
Đá vôi và đất sét có nhiều ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, trong các rặng núi
thuộc hệ Trường Sơn Bắc. Các mỏ đá vôi ở đây có trữ lượng hàng tỷ tấn, phân
phối nhiều nhất ở Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị và Quảng Nam. Đá
granít và các loại đá cứng có màu dùng để chế tác đá ốp lát có hầu hết ở các
tỉnh. Nguồn đá này được khai thác để cung ứng cho thị trường vật liệu trong
nước và xuất khẩu.
Ở đây còn có nhiều mỏ cát trắng có thể làm nguyên liệu cho công nghiệp
sản xuất thủy tinh. Một phần các mỏ cát trắng ở Quảng Nam, Đà Nẵng, Khánh
Hòa…đã được khai thác để xuất khẩu hoặc cung cấp cho các xí nghiệp địa
phương. Đầu tư xây dựng các nhà máy khai thác, tuyển rửa cát trắng để xuất
khẩu hoặc xây dựng các nhà máy thủy tinh, kính phẳng có công nghệ tiên tiến là
hướng đầu tư ưu tiên trong miền.
Về khoáng sản kim loại, dải phía tây của miền Trung là khu vực miền núi,
chiếm tới 4/5 diện tích lãnh thổ, đây là khu vực có nhiều tiềm năng khoáng sản.
Tuy quy mô khoáng sản không lớn song đa dạng, phong phú. Một số tài nguyên
có giá trị kinh tế lớn như: 61,3% trữ lượng quặng sắt, 100% cromit, 40% đá vôi
so với toàn quốc, vật liệu xây dựng bentonit, graphit, titan…

ngạch xuất khẩu tăng theo từng năm (tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2005 là
1.846 triệu USD, đạt bình quân 95 USD/người). Phát huy lợi thế về điều kiện tự
nhiên và các di sản văn hóa thế giới, các tỉnh trong vùng đã tập trung phát triển
du lịch, bước đầu đạt kết quả khả quan, đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh
tế mũi nhọn của vùng.
Bảng 2.1. Các khu kinh tế tại Việt Nam
STT Khu kinh tế Địa phương
Diện tích
(ha)
1 Chu Lai Quảng Nam 27.040
2 Dung Quất Quảng Ngãi 10.300
3 Nhơn Hội Bình Định 12.000
4 Chân Mây – Lăng Cô Thừa Thiên Huế 27.108
5 Vũng Áng Hà Tĩnh 22.781
6 Nghi Sơn Thanh Hóa 18.611
7 Vân Phong Khánh Hòa 150.000
8 Đảo Phú Quốc Kiên Giang 56.100
9 Đông Nam Nghệ An Nghệ An 18.826
10 Vân Đồn Quảng Ninh 217.133
11 Đình Vũ – Cát Hải Hải Phòng 21.600
Tổng Diện Tích 581.499
(Nguồn: Vụ quản lý KCN và KCX )
Trong việc xây dựng các KCN, KKT thì hiện nay, trên toàn bộ khu vực
miền Trung đã có 22 KCN được xây dựng, và đặc biệt là nơi đây đã hình thành
8 KTT trên tổng số 11 KKT của cả nước. Việc hình thành các KKT, KCN là
một biện pháp tích cực và có hiệu quả để tập trung nguồn lực trong và ngoài
nước nhằm phát triển các ngành kinh tế trong vùng, đặc biệt là phát triển các
ngành công nghiệp và dịch vụ.
Việc hình thành và phát triển các KCN, KKT đã và đang là một thuận lợi
lớn cho vùng trong việc thu hút đầu tư, đẩy mạnh sản xuất, xuất khẩu để chuyển

của miền Trung được thành lập với tổng diện tích ban đâu là 62,99 ha được đặt
tại quận Sơn Trà, nằm cách cảng biển Tiên Sa 6 km về phía Nam, cách sân bay
quốc tế Đà Nẵng 5 km về phía Đông và cách trung tâm thành phố Đà Nẵng gần
2 km. Việc hình thành KCN Đà Nẵng đã mở ra một hướng đi mới cho sự phát
triển của kinh tế miền Trung theo đường lối chủ trương của Nhà nước. Những
năm tiếp theo, hàng loạt các KCN được thành lập ở các tỉnh trong miền như
KCN Điện Nam – Điện Ngọc ở Quảng Nam được thành lập sau đó 2 năm (năm
1996).

Hình 2.1: Số các KCN ở miền Trung từ năm 1994 – 2007
(Nguồn: Vụ quản lý KCN và KCX)
Như vậy cho đến nay, miền Trung có tất cả 22 KCN trong đó có 17 KCN
chiếm 77% đã đi vào hoạt động và 5 KCN chiếm 23% đang trong thời kỳ xây
dựng cơ bản. (xem phụ lục 2).
Nhìn trên biểu đồ ta thấy, việc xây dựng các KCN đã được các tỉnh trong
miền chú trọng đó từ năm 1994 đến nay, đặc biệt năm 1998 với 8 KCN mới
được thành lập đã trở thành một năm có nhiều KCN được thành lập nhất. Các
tỉnh miền Trung không chỉ tập trung xây dựng các KCN mới mà còn chú ý đến
việc mở rộng các KCN sẵn có như KCN Hòa Khánh ở Đà Nẵng (năm 2004),
KCN Phú Tài ở Bình Định (năm 2003), KCN Điện Nam – Điện Ngọc ở Quảng
Nam (năm 2005) để đáp ứng nhu cầu thu hút vốn đầu tư của KCN và yêu cầu
mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp.
Bảng 2.2. Phân bổ các KCN miền Trung theo tỉnh thành
STT Tỉnh, Thành phố Số KCN Tên KCN
1 Đà Nẵng 4
KCN Đà Nẵng, Hòa Cầm, Liên Chiểu,
Khánh Hòa
2 Bình Định 2 KCN Long Mỹ, Phú Tài
3 Bình Thuận 3 KCN Phan Thiết, Hàn Kiệm I, Hàn Kiệm II
4 Khánh Hòa 1 KCN Suối Dầu

39 9.201
2 Trung du miền núi Bắc Bộ
14 2.801
3 Bắc Trung Bộ
7 779
4 Duyên hải Nam Trung Bộ
15 3.583
5 Tây Nguyên
4 463
6 Đông Nam Bộ
74 21.396
7 Đồng bằng Sông Cửu Long
26 4.763
Cả nước
179 42.986
(Nguồn: Vụ quản lý KCN và KCX )
Hình 2.2. Tỷ trọng các KCN được phân bổ ở các vùng trên cả nước
(Nguồn: Vụ quản lý KCN và KCX)
Mặc dầu vậy, trong hơn 10 năm qua các KCN miền Trung đã phát huy tác
dụng rất tích cực, góp phần quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trong vùng. Làm tốt vai trò thu hút vốn đầu tư, các KCN đã trở thành địa điểm
đầu tư lý tưởng của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, qua đó tăng nhanh tỷ
trọng sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu công
nghiệp hóa hiện đại hóa.
2.2. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP TRONG CÁC
KHU CÔNG NGHIỆP MIỀN TRUNG
2.2.1. Vài nét về tình hình đầu tư vào các KCN miền Trung
Với nhiều lợi thế về tự nhiên như nằm trên trục giao thông Bắc – Nam; có
các tuyến quốc lộ nối các cảng biển của vùng đến Tây Nguyên và Lào, Đông
bắc Campuchia, Đông bắc Thái Lan, Myanmar theo tuyến hành lang đông – tây;

dựng CSHT KCN và sử dụng để SXKD. Khi CSHT của KCN đã cơ bản hình
thành thì cần phải có biện pháp thu hút vốn đầu tư vào việc sản xuất kinh doanh,
gia tăng sản xuất và thúc đẩy xuất.
Bảng 2.4. Thu hút đầu tư tính lũy kế theo các năm vào phát triển CSHT và
SXKD trong các KCN miền Trung
Năm Vốn đầu tư vào phát triển CSHT Vốn đầu tư vào SXKD
Vốn đầu tư
nước ngoài
(Tr USD)
Vốn đầu tư
trong nước
(Tỷ đồng)
Vốn đầu tư
nước ngoài
(Tr USD)
Vốn đầu tư
trong nước
(Tỷ đồng)
2003 13 1.456 332 8.937
2004 13 2.423 433 11.508
2005 13 3.222 587 13.503
2006 13 3.795 830 17.705
2007 25 4.553 1700 20.951
(Nguồn: Vụ quản lý KCN và KCX)
Trong những năm qua, vốn đầu tư dành cho việc SXKD trong các KCN
miền Trung luôn tăng đều. Tính đến năm 2007, số vốn đầu tư nước ngoài đầu tư
vào SXKD đạt 1.700 triệu USD chiếm tới 98,5% tổng vốn, số vốn đầu tư trong
nước vào SXKD đạt 20.951 tỷ đồng chiếm 82% tổng vốn. Nhìn vào bảng 2.4 ta
thấy từ sau năm 2003, hầu hết các KCN ở miền Trung đã xây dựng xong và đi
vào hoạt động. Đây là một yếu tố thuận lợi cho việc thu hút đầu tư để sản xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status