Cơ sở lý luận về cổ phần hóa - Pdf 77

TiÓu luËn Kinh tÕ chÝnh trÞ
LỜI MỞ ĐẦU

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế nước ta đang từng
bước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết
của Nhà nước.Trong một môi trường mới,điều kiện cơ chế quản lý thay đổi,khi hiệu
quả sản xuất kinh doanh trở thành yếu tố sống còn của mỗi doanh nghiệp thì các
doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước đã bộc lộ những yếu kém và lâm vào
tình trạng sa sút và khủng hoảng.Kinh nghiệm từ nhiều nước trên thế giới cho
thấy,Cổ phần hóa có vai trò rất quan trọng trongviệc đổi mới các doanh nghiệp Nhà
nước,nhất là những nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi như Việt Nam.Cổ
phần hóa có tác động mạnh mẽ và rấthiệu quả đến việc khai thác,sử dụng và phát
huy các nguồn lực về vốn, tài sản và con người để phát triển sản xuất kinh
doanh,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Vì vậy Cổ phần hóa là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong
tiến trình đổi mới và phát triển DNNN nói riêng và kinh tế xã hội nói chung. Tìm
hiểu CPH DDNN ở nước ta,để thấy được những thành công và khó khăn trong quá
trình triển khai thực hiện ,em đã chọn "Đẩy mạnh cổ phần hóamột bộ phận doanh
nghiệp nhà nước ở Việt Nam" làm đề tài cho bài tiểu luận kinh tế chính trị.
Kết cấu bài viết gồm:
I.LỜI MỞ ĐẦU
II.NỘI DUNG
Phần I : Cơ sở lý luận về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
1.Khái niệm,mục tiêu và thực chất cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước
Phần II : Thực trạng cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam trong thời
gian qua
1.Một số kết quả đạt được
2.Những vấn đề nảy sinh
3.Nguyên nhân
Phần III : Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quá trình CPH DNNN
I.CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

lại.Qua đó làm thay đổi cơ cấu sở hữu,huy động thêm vốn,xác lập cụ thể những
người tham gia làm chủ,được chia lợi nhuận và chuyển DNNN thành công ty cổ
phần,thuộc sở hữu của tập thể cổ đông và chuyển sang hoạt động theo Luật doanh
nghiệp.
Song để hiểu rõ thực chất của CPH,cần thấy rằng trong công ty cổ phần,trên
cơ sở vốn điều lệ được chia ra thành nhiều phần,thì quyền lợi và trách nhiệm đối với

2
TiÓu luËn Kinh tÕ chÝnh trÞ
kết quả sản xuất kinh doanh cũng được phân ra thành những đơn vị và có cơ cấu
xác định tương ứng với cơ cấu sở hữu.Do đó,sỡ dĩ CPH có thể nâng cao hiệu quả
của các DNNN là do qua CPH,cơ cấu sở hữu của doanh nghiệp được thay đổi,dẫn
tới cơ cấu và cơ chế thực hiện quyền lợi và trách nhiệm đối với kết quả sản xuất
kinh doanh cũng thay đổi theo ; từ đó tạo ra một cơ cấu động lực có chủ thể rõ ràng
và hợp lực mới mạnh mẽ hơn;đồng thời,chuyển doanh nghiệp sang vận hành theo
cơ chế quản lý mới,tự chủ,năng động hơn,nhưng có sự giám sát rộng rãi và chặt chẽ
hơn.Cho nên,thực chất CPH nói chung chính là giải pháp tài chính và tổ chức,dựa
trên chế độ cổ phần,nhằm đổi mới cơ cấu và cơ chế phân chia quyền lợi và trách
nhiệm gắn chặt với kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Còn CPH theo
phương thức hiện hành là giải pháp nhằm làm thay đổi cơ cấu sở hữu,dẫn tới thay
đổi cơ cấu và cơ chế thực hiện quyền lợi và trách nhiệm từ chỗ chỉ có nhà nước nắm
quyền và chịu trách nhiệm chuyển sang chia sẻ kết quả kinh doanh,cả quyền lợi và
trách nhiệm,lợi nhuận và rủi ro cho những người tham gia góp vốn,qua đó tạo ra
động lực,trách nhiệm và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp.
II.THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT
NAM TRONG THỜI GIAN QUA

1.Một số kết quả đạt được
Đổi mới,sắp xếp và phát triển DNNN là một chủ trương lớn của Đảng và
Nhà nước ta.Chủ trương này đã được triển khai thực hiện trong gần 20 năm

vài trăm) và cho đến 3 năm gần đây tiến trình CPH được đẩy mạnh hơn,do đó số
lượng doanh nghiệp được CPH tương đối nhiều.
Theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp,hình thức
CPH phổ biến nhất là bán một phần vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp kết hợp
phát hành thêm cổ phiếu ( chiếm 43,4%),tiếp đó là bán một phần vốn Nhà nước
hiện có tại doanh nghiệp (26%),còn lại là bán toàn bộ vốn Nhà nước tại doanh
nghiệp (15,5%) và giữ nguyên vốn nhà nước và phát hành thêm cổ
phiếu(15,1%).Trong số các doanh nghiệp đã CPH,ngành công nghiệp – giao thông
vận tải và xây dựng chiếm tỷ trọng 65,5% , thương mại - dịch vụ chiếm 28,7% và
ngành nông-lâm-ngư nghiệp chiếm 5,8%.Nếu phân chia theo địa phương thì
tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương chiếm 65,7%,bộ-ngành trung ương chiếm
25,8%,tổng công ty 91 chiếm 8,5%.
Việc sắp xếp lại và CPH các DNNN đã hoàn thành trên 61 trong tổng số 64
tỉnh thành .

4
TiÓu luËn Kinh tÕ chÝnh trÞ
Trong các doanh nghiệp đã CPH,30% số các doanh nghiệp được hoàn toàn
độc lập tự chủ trong kinh doanh mà không còn sự chi phối trực tiếp nào của Nhà
Nước (Nhà Nước không nắm giữ một cổ phần nào,toàn bộ thuộc về tập thể người
lao động).
Hầu hết các doanh nghiệp thuộc lại nhỏ,yếu,hiệu quả kinh doanh thấp,sức
cạnh tranh kém đã được đưa bớt ra khỏi hệ thống các DNNN,như vậy có thêm điều
kiện để củng cố các DNNN khác.
Qua CPH,nhiều yếu kém cố hữu đã được giải quyết:nợ xấu,tồn kho vật tư
hàng hóa kém phẩm chất,các trang thiết bị và tài sản cũ nát…Với các doanh nghiệp
đã CPH,bộ máy và phương pháp quản lý đã thích nghi,năng động và sát với thị
trường hơn,phần nào làm tăng trách nhiệm của người lao động đối với doanh
nghiệp,động lực lao động mới đang dần được tạo ra.Các biện pháp tiến hành cổ
phần hóa ngày càng được hoàn thiện hơn.Cơ chế định giá doanh nghiệp mới qua

Thứ hai,chuyển biến từ việc chỉ CPH các DNNN quy mô nhỏ về vốn và lao
động,làm ăn thua lỗ,nay sang cả những doanh nghiệp làm ăn có lãi với quy mô lớn
trong các ngành trọng yếu của nền kinh tế (như điện lực,xi măng,viễn thông,hàng
không),với kết quả hoạt động sau CPH ngày một tiến bộ .Tiến trình CPH không chỉ
được thực hiện đối với từng doanh nghiệp thành viên mà còn triển khai đối với toàn
tổng công ty.Đến nay đã có quyết định phê duyệt CPH 5 tổng công ty,trong đó có cả
các Tổng công ty Thương Mại-xây dựng,Điện tử-tin học,Vinaconex và Bảo Việt.
Thứ ba,việc CPH không chỉ nhằm thu hút vốn của các nhà đầu tư,của những
người lao động trong doanh nghiệp,mà còn thu hút cả vốn của những nông dân cung
cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp,chuyển họ thành những cổ đông,gắn bó
họ với sự phát triển của doanh nghiệp.Công ty Mía đường Lam Sơn và công ty Mía
đường La Ngà đã thực hiện CPH theo hướng đó.Ở công ty cổ phần Mía đường Lam
Sơn,Nhà nước giữ 46%,nông dân trồng mía và cổ đông ngoài doanh nghiệp mua
26%(trong đó có 400.000 cổ phần ưu đãi cho người trồng mía),người lao động trong
doanh nghiệp mua 24% cổ phần.Ở công ty cổ phần mía đường La Ngà,Nhà nước
giữ 35%,nông dân trồng mía và cổ đông ngoài doanh nghiệp mua 25% (trong đó có
150.000 cổ phần ưu đãi cho người trồng mía),người lao động trong doanh nghiệp
mua 40%cổ phần.Công ty cổ phần Mía đường Lam Sơn là một doanh nghiệp hoạt
động rất có hiệu quả.Sau 5 năm CPH(từ năm 2000 đến 2005) nộp ngân sách tăng từ
10 tỷ lên 38 tỷ đồng và lợi nhuận đạt tới 77,5 tỷ đồng và cổ tức là 20%/năm.
Thứ tư,là việc chuyển từ CPH theo hướng cơ bản khép kín,nội bộ sang hình
thức đấu giá công khai,bán cổ phần ra bên ngoài để thu hút nhà đầu tư trong và

6
TiÓu luËn Kinh tÕ chÝnh trÞ
ngoài nước.Đây được coi là sự chuyển biến "có chất " nhất thể hiện sự thay đổi căn
bản quan điểm và chủ trương về CPH,góp phần tạo ra sức bật mạnh mẽ để đẩy
nhanh,mạnh tiến trình cải cách hệ thống DNNN một cách công khai,minh bạch và
tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trong và ngoài nước cùng tham gia.Trong
đợt đấu giá cổ phiếu đầu tiên của công ty Sữa Việt nam đã thu hút được các nhà đầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status