Giáo trình Kinh tế Fulbright: " Kinh tế học về chi phí giao dịch" - Pdf 77

Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright
Niên khóa 2005-2006
Tài chính Phát triển
Bài đọc
Chương 1
Kinh tế học về Chi phí Giao dòch

Oliver E. Williamson
1
Biên dòch: Nguyễn Thò Xinh Xinh
Hiệu đính: Vũ Thành Tự Anh KINH TẾ HỌC VỀ CHI PHÍ GIAO DỊCH

Các hãng, các thị trường, và việc thiết lập hợp đồng quan hệ (relational contracting) là
những thể chế kinh tế quan trọng. Chúng cũng là sản phẩm tiến hóa của một chuỗi những
đổi mới về tổ chức. Tuy nhiên, việc nghiên cứu các thể chế kinh tế của nền kinh tế thị
trường chưa chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình nghị sự về nghiên cứu khoa
học xã hội.

Việc xao lãng này được giải thích một phần bởi sự phức tạp vốn có của các thể
chế đó. Nhưng sự phức tạp có thể và quả thật thường phục vụ như là một yếu tố thúc đẩy
chứ khơng phải là yếu tố cản trở. Tình trạng ban sơ của kiến thức của chúng ta ít nhất
cũng được giải thích với mức độ tương đương bởi sự miễn cưỡng trong việc thừa nhận
rằng các chi tiết về tổ chức có tầm quan trọng. Khái niệm phổ biến về cơng ty hiện đại
như là một “hộp đen” là một mẫu mực về truyền thống nghiên cứu phi thể chế (hay tiền-
phân tích vi mơ).

Tuy nhiên, chỉ đơn thuần thừa nhận rằng các chi tiết về phân tích vi mơ của tổ
chức có tầm quan trọng thì chưa đủ. Cần phải xác định những đặc điểm về cấu trúc quan

trường, đặc biệt đề cập đến hãng, thị trường, và hợp đồng quan hệ (relational contracting).
Trọng tâm đó trải qua trọn vẹn một khoảng biến thiên từ một đầu là sự trao đổi rời rạc
trên thị trường đến đầu kia là tổ chức theo tầng nấc tập trung, với vơ số phương thức hỗn
hợp hay trung gian ở khoảng giữa. Đặc trưng thay đổi của tổ chức kinh tế theo thời gian
– trong phạm vi và giữa các thị trường và các hệ thống tầng nấc – là điều được quan tâm
đặc biệt.
Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

Tài chính Phát triển
Bài đọc
Chương 1
Kinh tế học về Chi phí Giao dòch

Oliver E. Williamson Biên dòch: Nguyễn Thò Xinh Xinh
Hiệu đính: Vũ Thành Tự Anh 2

Mặc dù những tính chất đáng lưu ý của các thị trường tân cổ điển, mà ở đó giá cả
được dùng làm số liệu thống kê thỏa đáng, được thừa nhận rộng rãi – như Friedrich
Hayek phát biểu, thị trường là “điều kỳ diệu” (1945, trang 525) – nhưng người ta có các ý
kiến khác nhau trong việc đánh giá các giao dịch được thu xếp trong phạm vi các phương
thức tổ chức phi thị trường và tựa thị trường. Bộ máy quản lý hành chính và những hỗ trợ
theo cách thức “luật rừng” (hay trật tự tư, private ordering) đi kèm với những giao dịch
này có tốt lắm thì cũng dẫn đến tình trạng rối ren. Một số học giả thậm chí từ chối bàn
luận đến những giao dịch đó. Những học giả khác xem những sự lệch hướng này là bằng
chứng cho thấy tình trạng tràn lan của “thất bại thị trường”. Cho đến rất gần đây, cách
giải thích về kinh tế chủ yếu đối với những thơng lệ kinh doanh xa lạ hay khơng thơng
thường vẫn dựa vào độc quyền.

của các thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường trên thế giới trong 150 năm qua cần
được đánh giá lại xét theo chi phí giao dịch. Phương pháp được đề xuất ở đây là định
hướng hợp đồng (contracting orientation) và khẳng định rằng bất cứ vấn đề nào có thể
được giải thích một cách có hệ thống như một vấn đề về thiết lập hợp đồng (contracting
problem) đều có thể được nghiên cứu, để đem lại kết quả tốt, xét về phương diện tiết kiệm
chi phí giao dịch. Mọi quan hệ trao đổi hay giao dịch đều đủ tiêu chuẩn để có thể được
nghiên cứu xét theo việc tiết kiệm chi phí giao dịch. Nhiều vấn đề khác, mà lúc ban đầu
có vẻ khơng liên quan tới việc thiết lập hợp đồng, nhưng sau khi xem xét kỹ lưỡng, thì
hóa ra là có tính chất thiết lập hợp đồng ngầm ẩn. (Vấn đề các-ten là một thí dụ). Kết
Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

Tài chính Phát triển
Bài đọc
Chương 1
Kinh tế học về Chi phí Giao dòch

Oliver E. Williamson Biên dòch: Nguyễn Thò Xinh Xinh
Hiệu đính: Vũ Thành Tự Anh 3
quả cuối cùng là phạm vi thực sự và tiềm năng của kinh tế học về chi phí giao dịch rất
rộng.

So sánh với các phương pháp khác về nghiên cứu tổ chức kinh tế, kinh tế học về
chi phí giao dịch (1) có tính phân tích vi mơ hơn, (2) tự ý thức hơn về các giả định về
hành vi của mình, (3) giới thiệu và phát triển tầm quan trọng về kinh tế của tính chun
dụng hay đặc thù của tài sản (asset specificity), (4) dựa nhiều hơn vào phân tích so sánh
về thể chế, (5) xem hãng (cơng ty) kinh doanh như là một cấu trúc quản trị chứ khơng
phải là một hàm sản xuất đơn thuần, và (6) gắn tầm quan trọng lớn hơn cho các thể chế


Kenneth Arrow đã định nghĩa các chi phí giao dịch là “các chi phí vận hành hệ thống kinh
tế” (1969, trang 48). Cần phải phân biệt các chi phí đó với chi phí sản xuất, vốn là loại
chi phí mà phân tích tân cổ điển ln ln q bận tâm đến. Chi phí giao dịch là yếu tố
kinh tế tương đương với sức ma sát trong các hệ thống vật lý. Nhiều thành cơng của
ngành vật lý trong việc xác định các thuộc tính của những hệ thống phức tạp bằng cách
giả định khơng có sức ma sát trong các hệ thống đó chắc chắn khơng cần phải thuật lại tỉ
mỉ ở đây. Một chiến lược như thế có sự hấp dẫn rõ ràng đối với các ngành khoa học xã
hội. Điều khơng có gì đáng ngạc nhiên là, việc khơng có sức ma sát trong các hệ thống
Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

Tài chính Phát triển
Bài đọc
Chương 1
Kinh tế học về Chi phí Giao dòch

Oliver E. Williamson Biên dòch: Nguyễn Thò Xinh Xinh
Hiệu đính: Vũ Thành Tự Anh 4
vật lý được dẫn chứng để minh họa cho sức mạnh về phân tích gắn liền với các giả định
“khơng thực tế” (Friedman, 1953, các trang 16 đến 19).

Nhưng trong khi các nhà vật lý học đã được nhắc nhở một cách nhanh chóng bởi
các dụng cụ trong phòng thí nghiệm và thế giới quanh họ rằng sức ma sát có mặt khắp nơi
và thường cần phải được tính đến một cách rõ ràng, thì các nhà kinh tế học đã khơng có
được sự hiểu biết và đánh giá tương ứng về các chi phí của việc vận hành hệ thống kinh
tế. Thí dụ, hầu như khơng hề đề cập đến chi phí giao dịch, lại càng khơng đề cập đến các
chi phí giao dịch như là yếu tố tương đương của sức ma sát, trong bài tiểu luận về phương

1.2 Phân tính và giải thích tỉ mỉ

Kinh tế học về chi phí giao dịch đặt vấn đề về tổ chức kinh tế thành vấn đề về thiết lập
hợp đồng (problem of contracting). Một nhiệm vụ cụ thể phải được hồn thành. Nó có
thể được tổ chức theo bất cứ cách nào trong nhiều cách khác nhau. Hợp đồng rõ ràng hay
ngầm ẩn và bộ máy hỗ trợ gắn với mỗi hợp đồng. Các chi phí là gì?

Các chi phí giao dịch
thuộc loại tiền suy hay xảy ra trước khi ký kết hợp đồng (ex ante) và
loại hậu suy hay xảy ra sau khi ký kết hợp đồng (ex post) được phân biệt một cách hữu
ích. Các chi phí giao dịch tiền suy (ex ante) là các chi phí soạn thảo, thương lượng, và
bảo vệ một hợp đồng. Điều này có thể được thực hiện hết sức cẩn thận, trong trường hợp
này một văn kiện phức tạp được soạn thảo trong đó nhiều tình huống bất ngờ (tình huống
bất trắc) được cơng nhận, và những sự điều chỉnh thích hợp bởi các bên được qui định rõ
và được thỏa thuận trước. Hoặc văn kiện có thể rất khơng hồn chỉnh, những khoảng
Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

Tài chính Phát triển
Bài đọc
Chương 1
Kinh tế học về Chi phí Giao dòch

Oliver E. Williamson Biên dòch: Nguyễn Thò Xinh Xinh
Hiệu đính: Vũ Thành Tự Anh 5
trống sẽ được các bên lấp đầy khi tình huống bất ngờ phát sinh. Vì thế cho nên, thay vì
dự liệu trước tất cả những cách giải quyết tình huống khó khăn có thể tưởng tượng ra, mà
đây là một việc làm đầy tham vọng, thì chỉ những phương án giải quyết tình huống khó

bằng biện pháp né tránh pháp luật, biện pháp tự lực, và những cách tương tự (Galanter,
1981, trang 2).

Tính khơng thực tế của các giả định của chủ nghĩa trọng pháp có thể được biện hộ
bằng cách đề cập đến kết quả tốt của mơ hình trao đổi thuần túy. Ở đây khơng tranh luận
về điều đó. Mối quan tâm của tơi là luật pháp và kinh tế học về trật tự tư (economics of
private ordering) đã bị đẩy vào hậu trường do những giả định khơng thực tế nói trên.
Điều đó thật đáng tiếc, bởi vì trong “nhiều trường hợp, các thành phần tham gia có thể
sáng tạo ra được những giải pháp thỏa đáng hơn đối với các vụ tranh chấp của họ so với
các nhà chun mơn có thể, các nhà chun mơn này bị gò bó vào việc áp dụng các qui
tắc tổng qt trên cơ sở sự hiểu biết hạn chế về vụ tranh chấp đang được xem xét:
(Galanter, 1981, trang 4).
10Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

Tài chính Phát triển
Bài đọc
Chương 1
Kinh tế học về Chi phí Giao dòch

Oliver E. Williamson Biên dòch: Nguyễn Thò Xinh Xinh
Hiệu đính: Vũ Thành Tự Anh 6
Các vấn đề ở đây tương tự với các vấn đề mà Karl Llewellyn đã quan tâm khi ơng
thảo luận về hợp đồng vào năm 1931, nhưng kể từ đó đã bị tránh né một cách có hệ
thống.

của hợp đồng phụ thuộc lẫn nhau. Nói cách khác, chúng phải được giải quyết đồng thời
chứ khơng phải theo trình tự. Ngồi ra, các chi phí thuộc cả hai loại đều thường khó định
lượng. Tuy nhiên, khó khăn được giảm nhẹ do sự thật là các chi phí giao dịch ln ln
được đánh giá theo cách thức so sánh về thể chế, trong đó một phương thức thiết lập hợp
đồng được so sánh với một phương thức thiết lập hợp đồng khác. Do đó, chênh lệch giữa
độ lớn của các chi phí giao dịch, chứ khơng phải độ lớn tuyệt đối của chúng, có tầm quan
trọng. Như Herbert Simon nhận xét, việc so sánh các giải pháp thay thế về cấu trúc riêng
rẽ có thể sử dụng cơng cụ khá thơ sơ – “những phân tích như thế thường có thể được thực
hiện mà khơng cần cơng cụ tốn học tỉ mỉ hay sự tính tốn cận biên. Nói chung, những
lập luận đơn giản và thơ thiển hơn nhiều sẽ đủ để chứng minh sự khơng bằng nhau giữa
hai số lượng so với những lập luận cần thiết để chứng tỏ những điều kiện mà trong đó các
số lượng này được làm cho bằng nhau ở cận biên.” (1978, trang 6). Nghiên cứu thực
nghiệm về các vấn đề chi phí giao dịch hầu như khơng bao giờ cố gắng đo lường các chi
phí như thế một cách trực tiếp. Thay vào đó, câu hỏi là liệu các quan hệ về tổ chức
(thơng lệ thiết lập hợp đồng; các cấu trúc quản trị) có phù hợp với các thuộc tính của các
giao dịch như được tiên đốn bởi việc lý giải về chi phí giao dịch hay khơng.

1.3 Bối cảnh Rộng Lớn hơn
Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

Tài chính Phát triển
Bài đọc
Chương 1
Kinh tế học về Chi phí Giao dòch

Oliver E. Williamson Biên dòch: Nguyễn Thò Xinh Xinh
Hiệu đính: Vũ Thành Tự Anh 7

dịch được để ngỏ cho một số ý kiến phản bác giống như những ý kiến phản bác quan
điểm chính thống mà các nhà kinh tế học về tiến hóa đã đưa ra (Nelson và Winter,
1982, các trang 356-70), mặc dù trong các khía cạnh khác có sự bổ trợ mạnh mẽ (các
trang 34-38)

5. Bất cứ khi nào các lợi ích và các chi phí xã hội và tư nhân khác nhau, thì phép tính chi
phí xã hội sẽ chiếm ưu thế khi cố gắng tiến hành việc xử lý dựa trên qui định của pháp
luật.

2. Sơ đồ Nhận thức về Hợp đồng

Lĩnh vực chun mơn hóa mà kinh tế học về chi phí giao dịch gắn chặt vào là tổ chức
cơng nghiệp (tổ chức ngành). Một số cách tiếp cận dẫn đạo đối với nghiên cứu tổ chức
cơng nghiệp và quan hệ giữa kinh tế học về chi phí giao dịch và các cách tiếp cận đó được
xem xét ở đây.

Lĩnh vực tổ chức cơng nghiệp (industrial organization) nghiên cứu hợp đồng xét
theo các mục đích mà hợp đồng đáp ứng. Các bên đang cố gắng hồn thành những điều
gì? Ở đây cũng như ở những nơi khác trong lĩnh vực tổ chức cơng nghiệp, các mục đích
về độc quyền và hiệu quả được phân biệt một cách hữu ích. Sơ đồ nhận thức được trình
bày trong Hình 1-1 bắt đầu với sự phân biệt này.
Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

Tài chính Phát triển
Bài đọc
Chương 1
Kinh tế học về Chi phí Giao dòch

Oliver E. Williamson Biên dòch: Nguyễn Thò Xinh Xinh
Hiệu đính: Vũ Thành Tự Anh

như khơng được tin tưởng trong giới các nhà kinh tế học,
15
nhưng lý thuyết này vẫn giữ
được sức hấp dẫn đối với nhiều luật sư và tiếp tục đi vào được các bản tóm tắt về pháp

16
và các ý kiến của tòa án.
17 Cách tiếp cận theo sự phân biệt giá cả đối với việc thiết lập hợp đồng khơng thơng
thường khẳng định rằng quyền lực độc quyền ban đầu khơng thay đổi. Sự phân biệt giá
cả chỉ đơn thuần là một phương tiện qua đó quyền lực độc quyền tiềm ẩn được biến thành
hiện thực. Cách giải thích này về việc thiết lập hợp đồng khơng thơng thường đã được
đưa ra bởi Aaron Director và Edward Levi (1956) cùng với phương thức bán kèm (tie-in
sales) và bởi George Stigler (1963) liên quan đến phương thức đặt mua trước cả khối
lượng lớn. Bán kèm và đặt mua trước cả khối lượng lớn được coi như là những cơng cụ,
mà bằng những cơng cụ này những người bán có thể biết được những chênh lệch về định
giá trị sản phẩm nền tảng giữa những người tiêu dùng và có thể chuyển đổi thặng dư của
người tiêu dùng (thặng dư tiêu dùng) thành tiền.

Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

Tài chính Phát triển
Bài đọc
Chương 1
Kinh tế học về Chi phí Giao dòch

Oliver E. Williamson Biên dòch: Nguyễn Thò Xinh Xinh
Hiệu đính: Vũ Thành Tự Anh


Hình 1 –1 Sơ đồ Nhận thức về Hợp đồng Hai cách tiếp cận theo độc quyền khác xem xét những thơng lệ lập hợp đồng
khơng thơng thường liên quan đến đối thủ cạnh tranh. Các cách tiếp cận này đề cập một
cách rõ ràng đến việc mở rộng quyền lực độc quyền của những hãng lớn đã tồn tại lâu dài
và có tiếng tăm so với những đối thủ cạnh tranh thực sự hay tiềm năng. Tài liệu về rào
Khách hàng
Thế l
ực
Phân biệt giá cả
Đối thủ cạnh tranh
Các Rào cản Nhập ngành
Khách hàng
Độc quyền Hành vi Mang tính Chiến lược
Hiệu quả
Quy

tăng các chi phí của đối thủ cạnh tranh” (Salop và Scheffman, 1983) là một khả năng đặc
biệt hấp dẫn.

Ngoại trừ tài liệu nghiên cứu gần đây về hành vi mang tính chiến lược, tất cả các
cách tiếp cận theo độc quyền đối với hợp đồng hoạt động trong khn khổ tân cổ điển,
trong đó hãng (cơng ty) được xem là một hàm sản xuất. Bởi vì những biên giới tự nhiên
của hãng trong khn khổ đó được xác định bởi cơng nghệ, nên bất cứ nỗ lực nào của
hãng nhằm mở rộng tầm ảnh hưởng hay hoạt động của mình bằng cách dựa vào việc thiết
lập hợp đồng khơng thơng thường đều được cho là có mục đích và ảnh hưởng độc
quyền.
19
Cách tiếp cận theo “lý thuyết giá cả ứng dụng” đối với tổ chức cơng nghiệp là
định hướng thịnh hành thời hậu chiến. Như Coase nhận xét (1972, trang 61), định hướng
này ảnh hưởng đến nội dung cả hai cuốn sách hàng đầu về tổ chức cơng nghiệp – một
cuốn của Joe Brain (1958); cuốn kia của George Stigler (1968). Cách tiếp cận khơng thân
thiện đối với việc cưỡng chế thi hành luật chống độc quyền, mà tơi đã đề cập ở mục 1.1,
có định hướng tương tự. Ngược lại, phần lớn tài liệu về hành vi mang tính chiến lược kết
hợp chặt chẽ hơn với khái niệm cấu trúc quản trị về doanh nghiệp (hãy xem Chương 14).
Nhằm mục đích nêu bật sự phân biệt về độc quyền quan trọng này, đường cong đứt
khoảng (được ký hiệu là PF) trong Hình 1-1 tách biệt các cách tiếp cận theo hàm sản xuất
trước đây với khái niệm mang tính chiến lược về hợp đồng gần đây hơn.

2.2 Nhánh Hiệu quả

Hầu hết những gì tơi đề cập đến như là Kinh tế học mới về thể chế nằm trên nhánh hiệu
quả của hợp đồng. Nhánh hiệu quả về hợp đồng phân biệt giữa những cách tiếp cận mà
trong đó nhấn mạnh đến những liên kết về khuyến khích (incentive alignments) và những
cách tiếp cận dành vai trò nổi bật cho lợi thế kinh tế do chi phí giao dịch (economies of
transaction costs). Tài liệu về liên kết động cơ khuyến khích tập trung vào phía tiền suy
(ex ante) của hợp đồng. Theo đó, những hình thức mới của quyền sở hữu tài sản và việc

Điều này sẽ tồn tại nếu (1) cấu trúc quyền sở hữu tài sản đã được chấp thuận một cách
hợp pháp được mọi người tơn trọng và (2) những người đại diện pháp luật thi hành nhiệm
vụ của mình phù hợp với những chỉ thị, hướng dẫn.
22 Như thế, trong khi nhánh độc quyền của hợp đồng giải thích những hình thức giao
dịch khơng thơng thường là có mục đích và hậu quả về độc quyền, thì tài liệu về quyền sở
hữu tài sản nêu câu hỏi liệu những sự xác định sai lầm quyền sở hữu tài sản có phải là
ngun nhân của những sự phân bổ sai lầm nguồn lực hay khơng. Việc mơ tả lại các
quyền sở hữu tài sản, có lẽ theo những cách thức phức tạp (khơng thơng thường), là điều
giải thích cho những điểm khơng bình thường về hợp đồng. Nói cách khác, việc thiết lập
hợp đồng rời rạc trên thị trường được thay thế bởi những hình thức thiết lập hợp đồng
phức tạp hơn, bởi vì đó là cách thức có thể đặt các quyền kiểm sốt còn lại (residual
rights to control) vào tay của những người có thể sử dụng các quyền đó một cách hiệu quả
nhất về mặt sản xuất.

Tài liệu về ủy quyền-tác nghiệp (agency), đặc biệt là tài liệu về ủy quyền-tác
nghiệp ban đầu, nhấn mạnh rằng những người ủy quyền (principals) ký hợp đồng với sự
nhận biết đầy đủ về những rủi ro (hazards) mà việc thực thi hợp đồng của những người
thừa hành (agents) gây ra. Như thế, mặc dù sự tách rời quyền sở hữu khỏi quyền kiểm
sốt làm suy giảm các động cơ khuyến khích về lợi nhuận, nhưng điều đó được dự kiến
vào thời điểm sự tách rời xảy ra và được thể hiện đầy đủ trong giá của các cổ phần mới
(Jensen và Meckling, 1976). Vì thế cho nên tương lai khơng có điều gì bất ngờ; tồn bộ
hành động về hợp đồng liên quan được tập hợp lại thành những liên kết về động cơ
khuyến khích tiền suy (ex ante incentive alignments).

Thật ra, như cơng trình nghiên cứu điều tra có tính thuyết phục của Michael
Jensen (1983) chỉ ra, tài liệu về ủy quyền-tác nghiệp đã phát triển thành hai phần. Ơng đề
cập đến một nhánh như là lý thuyết thực chứng về ủy quyền-tác nghiệp (positive theory of


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status