ĐỀ CƯƠNG TỔNG QUÁT
Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
2. Lịch sử vấn đề
3. Mục đích yêu cầu
4. Phạm vi nghiên cứu
5. Phương pháp nghiên cứu
Chương 1
THẾ GIỚI THƠ TAGORE
1.1 R.Tagore là một con người đa tài.
1.2 R.Tagore là tác giả của 52 tập thơ đặc sắc.
1.3 Thơ Tagore là cả một thế giới.
Chương 2
THẾ GIỚI BIỂU TƯỢNG TRONG THƠ TAGORE
2.1 Giới thuyết về biểu tượng.
2.2 Thơ R.Tagore có cả một hệ thống biểu tượng rất phong phú và nhiều sắc vẻ.
2.3 Phân loại các biểu tượng trong thơ R.Tagore.
2.3.1 Hệ thống biểu tượng là những hình ảnh ngoại giới.
2.3.2 Hệ thống biểu tượng là những hình ảnh thần linh.
2.3.3 Hệ thống biểu tượng là những hình ảnh con người.
Chương 3
NHỮNG SẮC THÁI Ý NGHĨA CỦA CÁC
HỆ THỐNG TRONG THƠ TAGOR
3.1 Sự chuyển đổi sắc thái của các biểu tượng trong thơ R.Tagore :
3.2 Hệ thống biểu tượng đã tạo nên tính hàm súc trong thơ R.Tagore :
3.3 Hệ thống biểu tượng đã khiến thơ R.Tagore trở nên đặc sắc, độc đáo.
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Mục lục
Nhận xét của giáo viên hướng dẫn
Nhận xét của giáo viên phản biện
nghiệp.
2.Lịch sử vấn đề :
Về tác giả R.Tagore và thơ ông cho đến nay đã có nhiều công trình, bài viết nghiên cứu :
2
Trong quyển : “Tuyển tập tác phẩm R.Tagore” tập 2, Giáo sư Lưu Đức Trung đã tuyển chọn và giới
thiệu nhiều bài thơ tiêu biểu của thi hào R.Tagore, đặc biệt ở phần Phụ lục tác giả cũng đã cung cấp
một số bài nghiên cứu hoàn chỉnh hoặc trích lược về R.Tagore của các tác giả trong và ngoài nước
như các bài:
“Ảnh hưởng của Tagore đối với thơ ca hiên đại của Ấn Độ” do Mạnh Chương dịch của tác giả
V.K.Gokak ( Ấn Độ), bài viết đã khẳng định tầm ảnh hưởng sâu rộng của Tagore đối với văn học Ấn
Độ và thế giới.
Các bài “Rabindranath Tagore” của tác giả W.B.Yeats ( Ireland ), bài “Về Tagore” của I.Êrenbua
(Nga), hay bài “Tagore với chúng tôi” của Nira Chanhdhuri ( Ấn Độ ) điều tập trung chủ yếu ca ngợi
cuộc đời sự nghiệp cũng như ca ngợi tài năng xuất chúng của R.Tagore trong nhiều lĩnh vực, và tất
nhiên không thể thiếu thơ ca.
Nói về tinh thần nhân đạo trong những sáng tác thơ ca của Tagore, trong tuyển tập giáo sư Lưu
Đức Trung cũng đã giới thiệu bài “ Tinh thần nhân đạo chủ nghĩa trong thơ Tagore” của Cao Huy
Đỉnh, nét nổi bậc ở bài viết chính là nêu cao được tư tưởng ca ngợi cuộc đời, ca ngợi con người trần
thế, phê phán thế giới thần linh phù phiếm của Tagore, mong mỏi cho con người được sung sướng,
hạnh phúc.
Bài viết “Tagore nhà thơ tình nổi tiếng” của Lưu Đức Trung thì chú trọng đến những nét đặc sắc
trong thơ tình yêu Tagore, tác giả cũng đã đi sâu phân tích những hình ảnh tình yêu trong nhiều bài
thơ tiêu biểu.
Tác giả Nguyễn Văn Hạnh thì lại quan tâm đến những hình ảnh thiên nhiên trong “Thiên nhiên
trong Thơ dâng của Tagore”, bài viết đi sâu phân tích ý nghĩa của hình ảnh thiên nhiên và phân loại
những hình ảnh đó trong tập Thơ dâng ra thành 3 nhóm :
Những hình ảnh thiên nhiên thuộc về vũ trụ.
Những hình ảnh chỉ những hiện tượng động thực vật trên trái đất.
Những hình ảnh chỉ sự vận động dịch chuyển của thời gian.
“Những câu thơ đầu tiên trong cuộc đời thi sĩ của R.Tagore, đơn giản chỉ là ghi lại những hiện tượng
Nhưng thiết nghĩ, đó chỉ là sư phân thân của nhà thơ. Chính Tago đã tạo ra những nhân vật ấy để nói
về ý tưởng của mình”.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên chỉ dừng lại ở việc phân tích cái hay cái đẹp về nội
dung, nghệ thuật cũng như tầm ảnh hưởng của thơ Tagore đối với nền văn học Ấn Độ và thế giới,
còn vấn đề những hình ảnh tượng trưng thì chỉ mới đề cập đến trong một vài bài thơ chứ không phân
tích kĩ.
4
Về biểu tượng trong thơ Tagore, trước đây có sinh viên Cao Thi Hồng Châu ở lớp Cử nhân ngữ văn
khóa 24 - Khoa Sư phạm - trường Đại học Cần Thơ làm luận văn tốt nghiệp với đề tài : “Hệ thống
biểu tượng trong thơ Tagore”. Đề tài chỉ dừng lại ở mức độ xác lập và nhận dạng hệ thống biểu
tượng trong thơ Tagore chứ chưa đi sâu phân tích những biểu tượng ấy đa nghĩa như thế nào, tính
chất tượng trưng của nó ra sao. Trong luận văn này bản thân em sẽ đi sâu luận giải những biểu tượng
mang tính đa nghĩa trong trơ Tagore.
3.Mục đích yêu cầu :
Triển khai đề tài luận văn này nhằm thực hiện các mục đích yêu cầu sau đây :
- Để thấy được hầu hết hình tượng trong thơ của Tagore đều là những biểu tượng (hình ảnh
tượng trưng).
- Trên cơ sở ấy để khám phá tính đa nghĩa của hệ thống biểu tượng trong thơ Tagore.
- Nhận rõ được tài năng của đại thi hào Tagore trong việc tạo dựng một thế giới biểu tượng
trong thơ ông
- Từ đó, xác lập được một nét rất độc đáo trong thi pháp thơ Tagor.
4. Phạm vi của đề tài :
- Tagore có 52 tập thơ trữ tình vô cùng phong phú, vô cùng đa dạng. Có thể gọi thơ Tagore là một vũ
trụ thơ, một đại dương thơ. Đi vào thế giới thơ của Tagore ta có cảm giác như lạc vào “rừng xanh”
nên có rất nhiều vấn đề cần bàn, cần xét nhưng đề tài này chỉ giới hạn trong việc luận giảng hệ thống
biểu tượng mang tính đa nghĩa trong thơ Tagore.
5. Phương pháp nghiên cứu :
- Phương pháp diễn dịch .
- Phương pháp quy nạp.
- Phương pháp loại suy.
( Năm 1902 vợ chết, 1904 con gái thứ hai chết, 1905 cha và anh chết, 1907 con trai đầu chết ). Từ đó
Tagore càng buồn phiền, thường ngày ngồi hàng giờ trên bao lơn nhà mình ngắm nhìn người qua lại
trên đường hoặc ngồi trầm tư cả buổi trên ghế divan trong phòng ở. Ông thích vào rừng ngồi ngắm
nhìn cảnh đẹp của cây cối hoa lá hoặc trên bờ sông ngắm nhìn dòng nước lững lờ trôi trong buổi
hoàng hôn. Năm 1877, cha cho qua học luật ở Anh, không thích, ông lại trở về. Từ đó ông lại bắt tay
vào hoạt động xã hội và tích cực sáng tác văn học - nghệ thuật. Ông có chân trong Hội các nhà văn
tiến bộ Ấn Độ thành lập năm 1936. Những năm gần cuối đời, Tagore là "chiến sĩ thập tự quân chống
phát xít" - ông tích cực đấu tranh cho sự nghiệp bảo vệ hoà bình và chống chiến tranh thế giới lần thứ
hai. Ngày 7 tháng 8 năm 1941, Tagore kết thúc cuộc đời mình như kết thúc một bản hợp tấu hùng hồn
vĩ đại - bản hợp tấu mang ý chí và nghị lực của một thiên tài lớn lao.
6
Sự nghiệp văn học nghệ thuật của Tagor rất lớn, ông để lại cho Ấn Độ và thế giới 52 tập thơ, 42 vở
kịch; 12 tập tiểu thuyết, gần 100 truyện ngắn, 63 tập tiểu luận, 2230 ca khúc, trên 3000 bức họa đặc
sắc… Ở lĩnh vực nào Tagore đều lao động miệt mài và để lại dấu ấn khó phai mờ trong lòng người
thưởng thức.
Ở lĩnh vực thơ ca, Tagore sáng tác từ lúc 8 tuổi cho đến khi qua đời. Bài thơ cuối cùng ông viết
trên giường bệnh ngày 30 tháng 7 năm 1941 trước khi mất 8 ngày. Nguồn thơ của Tagore luôn tuôn
chảy một cách dạt dào trong dòng máu cơ thể ông. Thơ ông sử dụng nhiều bút pháp nghệ thuật khác
nhau khi so sánh tượng trưng, ẩn dụ, khi miêu tả trực tiếp … nhưng dù thế nào đều đem lại sự lôi
cuốn mãnh liệt cho người đọc. Tagore để lại 52 tập thơ, trong đó có nhiều sáng tác rất nổi tiếng. Đặc
biệt tập Thơ Dâng là đỉnh điểm của nghệ thuật thơ ca khi được trao giải noben năm 1913.
Tagore viết truyện ngắn muộn hơn làm thơ. Năm 16 tuổi (1887) ông cho ra mắt tập truyện ngắn đầu
tay của mình với tựa đề Người ăn mày kì dị. Từ đó trở đi, Tagore vươn cao khám phá một lĩnh vực
mới, với sự đa tài của mình, ông đã tiếp tục đạt được nhiều thành tựu to lớn. Truyện ngắn của ông
ngày càng phong phú, mang nhiều màu sắc nên chiếm lĩnh được lòng người đọc. Truyện ngắn của
Tagore chan chứa tinh thần nhân đạo, ông rất nhẹ nhàng, tinh tế trong việc phơi bày bộ mặt tàn ác của
xã hội. Mỗi câu chuyện đều để lại trong lòng người đọc những cảm xúc khác nhau từ buồn đau, giận
dữ đến xót xa, thương cảm rồi u uất, căm hận. Người nhân dân lao động chính là hình tượng được
Tagore tập trung miêu tả trong tác phẩm của mình, ông tôn trọng, quý mến, đồng cảm với họ, đặc biệt
là người phụ nữ. Truyện ngắn Tagore rất đa dạng. Có truyện chỉ ngắn mấy chục dòng, có truyện rất
nghe một bản nhạc, cây đàn sitar tôi cầm bắt được ngay làn điệu, hòa nhập vào ban hợp xướng dễ
dàng vì tôi là một ca sĩ. Giữa đám đông ồn ào cuồng nhiệt, tôi mất dọng và thấy chóng mặt.” Trong
tập Hợp Nhất Sáng Tạo (Creative Unity 1922), ông viết : một khúc ca không có nhịp điệu (melody)
thì cũng chẳng khác gì một con bướm bị bứt cánh, đấy cũng là lý do Tagore thường không in ra lời
của bản nhạc. Chính ông mong mỏi người sau có thể quên hết các sáng tác văn chương nghệ thuật
nhưng sẽ nhớ mãi những bài ca của ông, vì trong âm nhạc Tagore đã nối kết muôn điệu làm một, tình
yêu và đạo lý nhất quán trào dâng lòng người.Nhạc Tagore chẳng ai ở quê hương Bengal, Đông Bắc
Ấn, mà không nghe không hát, nó trở thành dân ca trên đầu môi cửa miệng bình dân lan sang cả Miến
Điện vùng nói tiếng Bengali. Ngày 14-7-1930 Tagore đã đàm luận với nhà bác học A.Einstein ở
Berlin về vật lý, triết lý và nhất là về âm nhạc. Qua cuộc đàm luận có ghi lại này, Tagore tỏ ra rất am
tường âm nhạc Tây phương và là một bậc thầy của nhạc truyền thống Ấn/Bengal.
Trong nghệ thuật hội họa, dù năm 68 tuổi Tagore mới bắt đầu vẽ tranh nhưng đã để lại cho đời
hàng ngàn bức vẽ vô giá. Tranh của Tagore đã được triển lãm ở nhiều nơi trên thế giới như Münich,
New York, Paris, Moxcva…
8
Ngoài ra Tagore còn để lại cho đời hàng trăm bút ký, tiểu luận, diễn văn, hồi ức, thư tín có giá trị
vô cùng to lớn đối văn nền văn học nhân loại.
Những công trình nghệ thuật kể trên đây nói lên đầy đủ sự đa tài và sức lao động nghệ thuật vô tận
của Tagor. Dù ở lĩnh vực nào Tagore đều lại ấn tượng sâu sắc. Dường như “mình ông cũng đủ cho
một nền văn hóa”(Indra Gandhi). Với số lượng tác phẩm khổng lồ cùng với sự phong phú, độc đáo,
hấp dẫn và tầm ảnh hưởng to lớn của nó, Tagore khiến cả thế giới phải nghiêng mũ khâm phục trước
sự đa tài của mình.
1.2) R. Tagore là tác giả của 52 tập thơ đặc sắc .
Thơ là thành tự xuất sắc nhất trong sự nghiệp sáng tác của Tagore. Ông đã say sưa sáng tác từ lúc 8
tuổi cho đến lúc qua đời. Bài thơ cuối cùng Tagore sáng tác trên giường bệnh ngày 30 tháng 7 năm
1941 trước khi mất 8 ngày . Ông đọc cho người khác chép và không kịp xem lại. Thơ Tagore như ánh
sáng huyền diệu lung linh chiếu rọi vào tâm hồn người đọc, chiếm lĩnh người đọc bằng nghệ thuật
điêu luyện. Điều đó khiến nhiều tác giả tên tuổi trên thế giới phải kính phục : “Không có nhà thơ ở
Châu Âu nào kể từ khi Geothe qua đời vào năm 1832 có thể sánh được với Tago về nhân cách cao
quý, về sự vĩ đại tự nhiên, về sự thanh tịnh hài hòa.” ( Per Hallstrom –Viện sĩ viện hàn lâm Thụy
W.B.Yeats ( Nhà văn Ireland ).
Chính vì lẻ đó Thơ Dâng lần lược được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới với số lượng ngày
càng lớn. Ở Anh, Mỹ, Pháp và Liên Xô (trước đây) đã tái bản trên 100 lần. Tên tuổi và tài năng ngày
của Tagore càng nổi tiếng hơn trên thế giới theo sự tăng lên của người đọc Thơ Dâng.
Per Hallstrom, Viện sĩ viện hàn lâm Thụy Điển nói về tập Thơ Dâng khi quyết định tặng thưởng
giải Noben như sau : “Tập thơ nhỏ bé được chính tác giả dịch ra tiếng Anh đã tạo ra một ấn tượng về
sự phong phú và tài năng thơ đáng kinh ngạc đến mức không có gì là lạ hay hay vô lí trong đề nghị
tặng thưởng cho nó”.
Tập Thơ Dâng ra đời đã hướng tâm trí người dân Ấn Độ trở về với thực tại, tìm thấy niềm vui,
niềm hạnh phúc trong sự gắng bó với cuộc đời trần thế. Trước đây, ở Ấn Độ, dưới sự ảnh hưởng của
các tôn giáo như Hinđu, Phật giáo người ta quan niệm rằng : Hạnh phúc chỉ có ở Cõi vĩnh hằng, do
đó, con người phải thoát khỏi vô minh, nhận thức chân lí phải vô ngã, vô thường, phải dập tắt đi ngọn
lửa tham lam, căm hận, si mê, chỉ còn lại sự an lạc, an tịnh trong tâm hồn. Tư tưởng đó ăn sâu bén rễ
hàng ngàn đời nay trong đời sống tinh thần người dân Ấn Độ. Một mặt, tư tưởng đó có ý nghĩa tích
cực. Nó giúp con người vươn tới sự vị tha cao cả trong tâm hồn bằng cách xóa bỏ ý thức vị kỉ về cái
tôi. Tuy nhiên, nó cũng khiến người dân Ấn Độ không thiết tha xây dựng hạnh phúc trong chính đời
sống hiện tại, kiếm tìm an lạc trong hư vô.
Bác bỏ điều đó Thơ Dâng đã khẳng định giá trị cuộc sống, khẳng định bản chất của cuộc sống là tràn
trề niềm vui bất tận và hạnh phúc vô biên ngay từ bài thơ số 1 :
10
“Vì vui riêng, Người đã làm tôi bất tận. Thân này thuyền nhỏ mỏng manh đã bao lần người tát cạn
rồi lại đổ đầy cuộc sống tươi mát mãi.
Xác này cây gậy khẳn khiu, Người đã mang qua núi, qua đồi, qua bao thung lũng rồi phả vào trong
giai điệu mát mẽ đời đời…
Khi tay Người bất tử âu yếm vuốt ve, trái tim tôi ngập tràn vui sướng thốt lên lời không sao tả xiết.
Tặng vật Người ban vô biên vô tận nhưng để đón xin tôi chỉ có hai bàn tay bé nhỏ vô cùng. Thời gian
lớp lớp qua đi, Người vẫn chưa ngừng đổ rót song lòng tôi thì hãy còn vơi”
Ở bài 57 của Thơ Dâng ta gặp lại hình ảnh cuộc sống tươi đẹp đang tràn ngập trong tiếng cười :
“Này em yêu, ánh sáng nhảy múa giữa lòng cuộc đời anh đang sống ! Này em yêu, ánh sáng đang
gẩy khúc nhạc tình trong tim anh. Trời mở rộng, gió ùa man rợ, trái đất ngập đầy tiếng cười.
thiên nhiên, thích vui đùa giữa thế giới vô biên đó :
“ Bọn trẻ gặp nhau trên bến bờ những thế giới vô biên,
Giông tố gầm lên trên bầu trời không có một lối đi.
Thuyền bè đắm trên nước không dấu vết.
Cái chết ở ngời kia
Nhưng lũ trẻ vẫn đùa chơi,
Trên bến bờ những thế giới vô biên
Là hội lớn của bầy con trẻ”
( Trăng non,1914, Đào Xuân Qúy dịch )
Tagore rất hiểu tình cảm của trẻ thơ đối với cha mẹ, nhất là người mẹ, người đã mang nặng đẻ đau,
đã nuôi nấng con từ lúc lọt lòng, cho nên con luôn luôn quất quýt bên mẹ, luôn luôn nũng nịu với mẹ,
đòi hỏi ở mẹ một tình thương bao la và chúng biết quý trọng tình thương ấy hơn cả bạc vàng :
“ Bé có hàng đống vàng, đống ngọc
Thế nhưng bé đã đến mặt đất này
Như một kẻ ăn xin
Không phải tự nhiên mà bé đã đến
Cải trang như vậy.
Cậu bé ăn xin, trần truồng, yêu mến này
Muốn làm ra thảm hại vô cùng
Để có thể đến xin, cả kho báu tình thương của mẹ.”
(Trăng non, 1914, Đào Xuân Quý dịch)
Qua một số tập thơ tiêu biểu trên, phần nào đã nói lên được tài năng thơ ca xuất chúng của Tagore,
những đóng góp của ông đối với nền văn học thế giới là vô cùng to lớn. Đó là một gia tài đồ sộ và
12
phong phú với nhiều bút pháp nghệ thuật độc đáo. Với 52 tập thơ đặc sắc, kết quả của suốt một đời
sáng tác không mệt mõi, thơ Tagore đã và đang là một phần của nền văn học thế giới đương đại.
1.3) Thơ Tagore là cả một thế giới :
Thơ Tagore vô cùng phong phú và đa dạng, phản ánh đến nhiều vấn đề, nhiều đối tượng trong
cuộc sống. Đọc thơ Tagore ta như lạc vào “chốn rừng xanh” vô cùng phức tạp, nói vậy để thấy được
sự bao quát rộng lớn của thơ Tagore. Đó là một thế giới nhiều màu, nhiều vẻ, trăm sắc nghìn hương
Cũng ngồi chung một thảm
Với ánh sáng mặt trời
Và sao sáng trong đêm.
(Người làm vườn, 1914)
Về cuộc sống, Tagore vốn tồn tại trong một cuộc sống ngột ngạt, một bầu không khí chết chóc,
đói khổ, bệnh hoạn của xã hội thuộc địa bất công. Ông biết thế, nhưng không hề đối lập với cuộc
sống và tin rằng con người có thể thay đổi nó và có thể làm chủ nó. Vì vậy ông rất yêu cuộc sống, lạc
quan, tin tưởng và hòa mình với cuộc sống. Ông quan niệm cuộc sống như “li rượu tràn đầy”, luôn
luôn nồng nàn :
Người đã tạo tôi vô tận, đó là ý thích của người
Cái li mảng khảnh này, Người không ngót rót.
Vơi đi và không ngớt lại rót đầy sự sống tươi mới.
Cuộc sống tràn đầy như vậy, nhưng Tagore tiếc rằng đôi bàn tay nhỏ bé của mình không đủ sức
ôm vào lòng những cái mà cuộc sống cho mình :
Nhưng của vô tận Người cho, tôi chỉ có đôi tay hẹp để mà bắt lấy.
Nhưng thời gian với thời gian qua mà Người còn rót và mãi mãi vẫn còn chỗ để rót cho
đầy.
(Thơ dâng, 1913)
Trước khi bước vào cái chết Tagore không hề lo lắng, hay sợ sệt. Ngược lại, tác giả còn tự xem
mình đã làm được gì cho cuộc đời và để lại cho đời cái mình có và đã làm ra :
Đến ngày Tử thần đến gõ cửa anh
Anh sẽ có món chi làm tặng vật ?
Trước vị khách đến thăm tôi sẽ đặt
Cái li tràn đầy cuộc sống tôi dâng
Tôi đâu chịu để khách về với những tay không.
Tôi sẽ đặt, cuộc đời tôi tất cả
Khi tử thần đến thăm và gõ cửa
(Thơ Dâng, 1913)
14