Phương phướng nhằm thúc đẩy tiêu thụ sp tại công ty Nhựa HN - Pdf 78

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế nớc ta thực sự bớc
vào quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trờng.
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI đã khẳng định: Tiếp tục xây dựng nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Cơ chế vận
hành của nền kinh tế đó là cơ chế thị trờng có sự quản lí của nhà nớc bằng
pháp luật, kế hoạch, chính sách và các cộng cụ khác.
Trong cơ chế mới này, mục tiêu hàng đầu của mọi doanh nghiệp sản xuất
cũng nh dịch vụ là lợi nhuận. Có lợi nhuận thì doanh nghiệp mới có điều kiện tái
sản xuất giản đơn hay mở rộng, mới có điều kiện tạo nguồn tích luỹ cho bản thân
doanh nghiệp và xã hội. Mà muốn có lợi nhuận ngoài vấn đề sản xuất ra sản
phẩm thì tiêu thụ sản phẩm cũng là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các doanh
nghiệp. Vì thế đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm đã và đang đợc các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh rất quan tâm trong điều kiện hiện nay.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của công tác tiêu thụ sản phẩm, trong thời
gian thực tập tại công ty Nhựa Hà nội, vận dụng những lí thuyết đã học vào
nghiên cứu tình hình ở công ty, đợc sự giúp đỡ tận tình của các cán bộ trong
công ty và thầy giáo hớng dẫn, em đã đi sâu vào nghiên cứu đề tài: Tiêu thụ
sản phẩm và các phơng hớng, biện pháp thúc đẩy khả năng tiêu thụ sản
phẩm của công ty Nhựa Hà nội.
Đây là một đề tài mang tính thực tiễn và là một vấn đề đang đợc nhiều
doanh nghiệp quan tâm.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung bài viết đợc trình bày thành ba
chơng nh sau:
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ch ơng I : Tiêu thụ sản phẩm và vai trò của công tác Tài
chính trong việc thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm.
Ch ơng II : Tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty Nhựa
Hà Nội năm 2002.

chọn, đó là quyền đòi hỏi các sản phẩm phải thoả mãn yêu cầu của họ. Điều
này buộc các nhà quản lí doanh nghiệp phải chú ý, phải tìm mọi cách đáp ứng
đợc các nhu cầu của Thợng đế một cách tốt nhất. Tuy nhiên để có đợc sản
phẩm đa vào thị trờng thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải tiến hành sản xuất và tổ
chức quá trình đa sản phẩm ra thị trờng. Quá trình này đợc trải qua các giai
đoạn khác nhau tạo thành một chu kì sản xuất kinh doanh nhất định, sự lặp đi
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
lặp lại của chu kỳ sản xuất kinh doanh tạo ra một vòng tuần hoàn và chu chuyển
t bản. Đứng trên góc độ Tài chính mà xét thì quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp thực chất là sự vận động vốn kinh doanh qua các giai đoạn và quá
trình này đợc lặp đi lặp lại nhiều lần tạo ra sự tuần hoàn của vốn. Trải qua các
giai đoạn khác nhau của tuần hoàn chu chuyển vốn, vốn kinh doanh đợc biểu
hiện dới nhiều hình thái khác nhau và sau một chu kì kinh doanh nó lại trở lại
hình thái ban đầu của mình. Sơ đồ của quá trình này đợc biểu diễn nh sau:
TLSX
T - H ..... SX ..... H - T
SLĐ
Vậy tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của một chu kì sản xuất.
Tiêu thụ sản phẩm là quá trình đơn vị bán xuất giao sản phẩm cho đơn vị
mua và thu đợc một khoản tiền về tiêu thụ số sản phẩm đó hoặc nhận đợc giấy
báo chấp nhận trả tiền hàng.
Đứng trên góc độ luân chuyển vốn thì tiêu thụ sản phẩm là một quá trình
chuyển hoá hình thái giá trị của vốn từ hình thái hàng hoá sang hình thái tiền tệ
( H - T).
Thời điểm tiêu thụ sản phẩm đợc tính từ khi đơn vị bán đợc đơn vị mua
chấp nhận thanh toán hoặc nhận đợc tiền hàng. Nếu hàng hoá đợc bán đi mà ch-
a đợc đơn vị mua chấp nhận thanh toán đối với số hnàg hoá đó thì đợc coi nh
cha tiêu thụ, bởi vì số hàng hóa đó có thể bị bên mua trả lại do không đáp ứng
đợc yêu cầu mà họ đặt ra, có thể về chất lợng, qui cách, mẫu mã... vì vậy tiêu

i
: Giá bán đơn vị sản phẩm i trong kì.
i: Loại sản phẩm tiêu thụ trong kì (i=1,n).
Thực tế hiện nay khi thuế doanh thu đợc thay bằng thuế VAT (Thuế giá
trị gia tăng) thì giá bán đơn vị sản phẩm trong kỳ chính là giá cha có thuế (còn
thuế đợc bóc tách riêng). Cho nên, doanh thu tiêu thụ sản phẩm là toàn bộ số
tiền thu đợc khi bán sản phẩm đó mà không kể phần thuế VAT phải nộp cho nhà
nớc.
Tuy nhiên phần mà doanh nghiệp thực thu về để bù đắp các khoản chi phí
hay còn gọi là doanh thu thuần thì đợc tính:
Doanh thu thuần = Doanh thu (không có thuế) - các khoản giảm trừ.
Các khoản giảm trừ bao gồm: triết khấu hàng bán, giảm giá hàng bán, trị
giá hàng bán bị trả lại (nếu chứng từ hợp lệ).
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chiết khấu hàng bán: Là số tiền ngời bán giảm trừ cho ngời mua do ngời
mua thanh toán tiền mua sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ trớc thời hạn thanh toán.
Đây là hình thức , khuyến mãi đối với khách hàng.
Giảm giá hàng bán: Là số tiền ngời bán giảm trừ cho ngời mua trên giá
đã thoả thuận do các nguyên nhân: hàng kém phẩm chất, không đúng qui định
hoặc giảm giá u đãi cho khách hàng mua với khối lợng lớn.
Trị giá hàng bán bị trả lại: Là giá trị theo giá thanh toán số sản phẩm,
hàng hoá đã tiêu thụ xong bị khách hàng trả lại do vi phạm các điều kiện đã
cam kết trong hợp đồng.
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm là biểu hiện cụ thể của kết quả tiêu thụ, nó
phản ánh toàn bộ quá trình tiêu thụ. Doanh thu tiêu thụ là một chỉ tiêu quan
trọng không những đối với bản thân doanh nghiệp, mà nó còn có ý nghĩa đối
với nền kinh tế quốc dân. Nó phản ánh qui mô của quá trình tái sản xuất, phản
ánh trình độ tổ chức, chỉ đạo sản xuất kinh doanh, tổ chức công tác tiêu thụ sản
phẩm. Doanh thu tiêu thụ sản phẩm là nguồn quan trọng để doanh nghiệp trang

tố chủ yếu sau:
- Đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng ngành nghề, từng doanh
nghiệp.
- Kết cấu sản phẩm, hàng hoá đa ra tiêu thụ.
- Giá cả sản phẩm tiêu thụ.
- Khối lợng sản phẩm hàng hoá đa ra tiêu thụ.
- Chất lợng sản phẩm.
- Công tác tổ chức bán hàng của doanh nghiệp.
- Quảng cáo giới thiệu sản phẩm.
- Thị trờng tiêu thụ.
Trên đây là những nhân tố ảnh hởng trực tiếp đến quá trình tiêu thụ sản
phẩm. Ngoài ra đờng lối chính sách của nhà nớc, các công cụ điều tiết vĩ mô
của nhà nớc, sự phát triển của cơ sở hạ tầng... cũng đều ảnh hởng đến việc mở
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
rộng hay thu hẹp khả năng tiêu thụ sản phẩm của mỗi doanh nghiệp. Trong sự
tác động qua lại hỗ trợ hay kìm hãm nhau làm tăng giảm tốc độ tiêu thụ sản
phẩm và doanh thu tiêu thụ sản phẩm, việc tính toán mức độ ảnh hởng của từng
nhân tố và tìm ra cách giải quyết tối u là nhiệm vụ cuả mỗi doanh nghiệp. Có
nh vậy doanh nghiệp mới có thể đẩy mạnh đợc tiêu thụ sản phẩm, nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh cho đơn vị mình.
II/ Sự cần thiết phải đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm.
1. ý nghĩa của tiêu thụ sản phẩm:
Có thể nói tiêu thụ sản phẩm hàng hoá không chỉ có ý nghĩa quan trọng
đối với tất cả các doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh
tế quốc dân. Tiêu thụ hàng hoá tốt sẽ thúc đẩy quá trình lu thông, trao đổi hàng
hoá, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. Trái lại hàng hoá của doanh
nghiệp mà không tiêu thụ đợc chẳng những đẩy doanh nghiệp đến bên bờ vực
phá sản mà còn gây nguy hại cho nền kinh tế. Chính vì vậy mà tiêu thụ sản
phẩm có ý nghĩa thật đặc biệt. Tiêu thụ sản phẩm ảnh hởng đến tốc độ chu

sắc bị phát triển chậm lại và tình hình tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp
hiện nay cũng không nằm ngoài bối cảnh chung đó.
Nhìn chung sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất ra có tới 80% đợc
tiêu thụ trong nớc và chỉ có 20% xuất khẩu nhng chủ yếu dới dạng thô chứ cha
đợc tinh chế.
ở Việt Nam hiện nay, đa phần các doanh nghiệp đều nằm trong tình trạng
thiếu vốn trầm trọng, và chủ yếu theo mô hình doanh nghệp vừa và nhỏ, công
nghệ lạc hậu, trang thiết bị cũ kỹ, năng suất lao động thấp, năng lực quản lý
kinh doanh yếu kém, giá thành sản phẩm của Việt nam nói chung là cao hơn,
chất lợng thấp hơn và không ổn định so với sản phẩm cùng loại của các nớc
trong khu vực.Trong khi đó sản phẩm của các nớc trong khu vực sẽ tràn vào
Việt nam ngày càng nhiều. Đây là một thách thức lớn đối với tất cả các nghành
sản xuất của Việt nam.Không còn con đờng lựa chọn nào khác là tất cả các
ngành phải nhanh chóng không ngừng cải tiến coong nghệ, đổi mới máy móc
thiết bị, tăng năng suất lao động... để không ngừng nâng cao chất lợng, hạ giá
thành sản phẩm, nhờ đó mà tăng khả năng cạnh tranh cả ở thị trờng trong nớc
và trong khu vực.
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bên cạnh đó chúng ta lại có những thuận lợi nh:
+ Là nớc chậm phát triển, chúng ta có lợi thế của ngời đi sau. Lợi thế đó
chính là ở chỗ đợc phép lựa chọn những giải pháp tối u, khả thi, kết hợp một
cách thông minh khôn ngoan giữa những nhân tố tiên tiến nhất thời đại với tinh
hoa dân tộc.
+ Thực hiện tự do hoá buôn bán với các nớc ASEAN có nghĩa là thị trờng
Việt nam sẽ mở rộng đáng kể từ một thị trờng có trên 75 triệu ngời tiêu thụ trở
thành thị trờng với khoảng 500 triệu ngời tiêu dùng với sức mua tăng lên.
+ Ngoài ra các doanh nghiệp hiện nay còn có những thế lợi nội tại của
mình nh: nhân công rẻ, nguồn tài nguyên phong phú ...
Tóm lại, xuất phát từ ý nghĩa của việc tiêu thụ sản phẩm và tình hình tiêu

đổi mới và nâng cao chất lợng sản phẩm... Trong điều kiện kinh doanh chuyển
sang cơ chế thị trờng và thực hiện tự cấp tự phát tài chính, các doanh nghiệp
không thể trông chờ vào nguồn vốn đợc cấp phát từ phía ngân sách nhà nớc mà
phải chủ động tạo lập vốn đáp ứng yêu cầu của sản xuất kinh doanh và mở rộng
thị trờng. Vì thế tài chính doanh nghiệp phải chủ động khai thác các nguồn tài
chính tự có từ kết quả sản xuất kinh doanh của mình, đồng thời chú trọng khả
năng khai thác các nguồn tài chính khác từ hoạt động liên doanh liên kết, từ thị
trờng tài chính. Chỉ có trên cơ sở đó doanh nghiệp mới có điều kiện đầu t và mở
rộng sản xuất theo hớng đa dạng hoá sản phẩm, đổi mới kĩ thuật và công nghệ
sản xuất để nâng cao chất lợng sản phẩm và hạ giá thành sản phẩm, nghiên cứu
nắm bắt thị trờng tạo điều kiện mở rộng thị trờng tiêu thụ.
- Tài chính doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức sử
dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả, tạo điều kiện nâng cao chất lợng sản phẩm
và hạ giá thành sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên
thị trờng.
Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm, dự toán chi phí bán hàng nh: chi phí bao bì
đóng gói, vận chuyển bốc dỡ, bảo hành... đợc tài chính doanh nghiệp lập nên.
Cho nên nếu những kế hoạch dự toán đó đợc lập một cách khoa học, hợp lí, sát
với thực tế sẽ là cơ sở cho tài chính xác định trọng điểm quản lí và sử dụng vốn
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
sao cho tiết kiệm và hiệu quả. Từ đó thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm diễn ra mạnh
mẽ hơn.
- Ngoài ra tài chính doanh nghiệp cần áp dụng một số chính sách về đòn
bẩy kinh tế nh qui định các tỉ lệ trích thởng, tỉ lệ phạt trong khi thực hiện hợp
đồng, khuyến khích vật chất đối với việc tăng năng suất lao động, nâng cao chất
lợng sản phẩm, tiết kiệm chi phí. Để đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm tài chính
doanh nghiệp không chỉ áp dụng công cụ giá bán mà còn áp dụng công cụ khác
nữa đó là chiết khấu bán hàng. Đây là một công cụ tài chính đợc sử dụng khá
phổ biến để khuyến khích khách hàng mua sản phẩm với khối lợng lớn hoặc

đến tăng khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Qua đó tình hình tài chính của
doanh nghiệp ngày càng ổn định và vững chắc.
Còn nếu tiêu thụ sản phẩm chậm chạp sẽ làm giảm vòng quay của vốn,
giảm hiệu suất sử dụng tài sản cố định... giảm lợi nhuận, khả năng sinh lời của
một đồng vốn kém đi, lợi nhuận sẽ giảm sút, vốn tự có sẽ không đáp ứng với
nhu cầu sản xuất kinh doanh, buộc doanh nghiệp phải tăng tỉ trọng vốn vay dẫn
tới kết cấu tài chính của doanh nghiệp thay đổi theo hớng thiếu an toàn và bất
lợi. Hệ số nợ tăng lên sẽ làm cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp giảm
đi, công nợ chồng chất có thể sẽ dẫn tới phá sản.
Ch ơng II:
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tình hình tiêu thụ sản phẩm ở công ty Nhựa Hà nội.
I. Tình tình và đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty Nhựa Hà
Nội.
1. Sự ra đời và phát triển của công ty Nhựa Hà Nội.
Công ty Nhựa Hà Nội trực thuộc Sở Công nghiệp Hà Nội đặt tại 27 Hai
Bà Trng - Hoàn Kiếm - Hà Nội. Tiền thân là xí nghiệp Nhựa Lợi Thành, đến 24
tháng 1 năm 1972 đổi tên là xí nghiệp Nhựa Hà Nội. Năm 1993 xí nghiệp Nhựa
Hà Nội đổi tên thành công ty Nhựa Hà Nội theo Quyết định số 2977/QĐ-UB
ngày 10 tháng 8 năm 1993 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội và đợc duy
trì đến ngày nay. Đó là tên gọi và cũng là tên giao dịch của công ty.
Công ty Nhựa Hà Nội là một công ty của Nhà nớc, có t cách pháp nhân,
có con dấu riêng có tài khoản tại Ngân hàng, đợc tổ chức hoạt động theo điều lệ
quản lí công ty và trong khuôn khổ pháp luật.
Nhiệm vụ chính của công ty là sản xuất kinh doanh các mặt hàng nhựa
phục vụ tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu. Từ chỗ ban đầu với một số ít công
nhân, việc sản xuất hoàn toàn bằng thủ công, máy móc không có gì, kĩ thuật
thấp kém, không có kĩ s chuyên ngành. Trải quan nhiều năm phấn đấu liên tục
cho đến nay công ty đã có hơn 200 cán bộ và kĩ s, công ty đã trang bị cho mình

+ Giám đốc công ty: Là ngời đứng đầu bộ máy lãnh đạo của công ty, đại
diện cho nhà nớc, có quyền quyết định điều hành toàn bộ hoạt động của công ty
theo đúng kế hoạch, chính sách pháp luật.
+ Phó giám đốc: là ngời giúp việc cho giám đốc và thay quyền giám đốc
lúc giám đốc vắng mặt.
- Các bộ phận phòng ban chức năng:
+ Khối kĩ thuật bao gồm: Phòng kĩ thuật cơ điện, phòng kĩ thuật công
nghệ và phòng KCS.
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
. Phòng kĩ thuật cơ điện: Thiết kế khuôn mẫu theo đơn đặt hàng, chỉnh
sửa máy móc, phụ trách an toàn kĩ thuật khi vận hành máy.
. Phòng kĩ thuật công nghệ: phòng này có nhiệm vụ xây dựng các tiêu
chuẩn kĩ thuật, sau đó căn cứ vào các tiêu chuẩn đã xây dựng mà xem xét kiểm
tra chất lợng sản phẩm.
. Phòng KCS: Kiểm tra chất lợng sản phẩm theo tiêu chuẩn đã đợc duyệt.
+ Khối nghiệp vụ bao gồm: Phòng Kế hoạch và phòng Tài vụ.
+ Khối nội chính bao gồm: Phòng bảo vệ và phòng Tổ chức Hành chính.
+ Phân xởng cơ khí: có nhiệm vụ chế tạo khuôn mẫu theo đơn đặt hàng
đúng với thiết kế khuôn mẫu và các tiêu chuẩn kĩ thuật.
+ Phân xởng nhựa: Là phân xởng sản xuất ra sản phẩm theo khuôn mẫu.
+ Phân xởng hoàn thiện: là phân xởng gia công sửa chữa hoàn thiện các
sản phẩm trớc khi đem giao cho khách hàng hoặc nhập kho.
Các phòng ban chức năng đợc tổ chức theo yêu cầu quản lí sản xuất kinh
doanh chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Ban giám đốc và trợ giúp cho Ban giám
đốc lãnh đạo hoạt động sản xuất kinh doanh thông suốt.
b. Về qui trình công nghệ chế tạo sản phẩm và tình tình trang bị cơ sở
vật chất kĩ thuật.
+ Về qui trình công nghệ chế tạo sản phẩm:
Là qui trình sản xuất liên tục, sản phẩm qua nhiều giai đoạn chế biến,

102,5 ngìn Km
2
, dân số 4 triệu ngời, mật độ dân c đông, tốc độ phát triển
nhanh, nhiều ngời có mức thu nhập cao hơn nhiều so với những nơi khác. Vì
vậy Hà nội là một thị trờng sôi động, hấp dẫn nhng cũng thật phức tạp. Hơn nữa
nó là một thị trờng hấp dẫn các nhà sản xuất kinh doanh, nên hiện nay thị trờng
Hà nội có rất nhiều sản phẩm cùng loại của các công ty khác nh sản phẩm từ
Trung Quốc, Thái lan... nhập về, sản phẩm của các công ty nh công ty Nhựa
Hiệp Thành, công ty Nhựa Sài Gòn từ thành phố Hồ Chí Minh mang ra. Tất cả
các sản phẩm của các đối thủ đều có chất lợng cao, mẫu mã đẹp, đặc biệt là
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
hàng nhập lậu từ Trung quốc bán với giá rất rẻ... chính điều này buộc công ty
phải có chiến lợc cạnh tranh độc đáo, giữ vững và mở rộng thị trờng.
Ngoài ra, khách hàng của công ty đều là những đối tợng khó tính, trình
độ nhận thức cao, họ có nhiều cơ hội để so sánh, lựa chọn sản phẩm, lựa chọn
nhà cung cấp đáp ứng yêu cầu cầu mình. Vì thế muốn tiêu thụ đợc sản phẩm
công ty phải không ngừng nâng cao chữ tín đối với khách hàng.
e. Về sản phẩm của công ty:
Hiện nay công ty đang thực hiện chiến lợc đa dạng hoá sản phẩm (gần
200 sản phẩm). Tuy nhiên số lợng sản xuất và tiêu thụ của từng loại sản phẩm
không lớn lắm. Các loại sản phẩm của công ty có thể phân thành một số nhóm
nh sau: Bao bì, vật liệu xây dựng, phụ tùng công nghiệp, hàng tiêu dùng, chế tạo
khuôn mẫu thiết bị, nguyên liệu. Đối với cá loại sản phẩm nh bao bì, vật liệu
xây dựng (tấm ốp trần...) đòi hỏi phải lịch sự trang nhã, mẫu mã đẹp, chất lợng
tốt, giá cả phải chăng. Còn đối với những sản phẩm công nghiệp cao cấp nh: vỏ
ác quy, linh kiện xe máy... là những mặt hàng sản xuất cho hãng Honda thì lại
đòi hỏi rất khắt khe về mặt chất lợng. Vì thế, sản phẩm của công ty sản xuất ra
không những đáp ứng đủ về số lợng mà còn đảm bảo đạt yêu cầu về chất lợng,
mẫu mã. Do đó, sản phẩm của công ty đa ra thị trờng tiêu thụ chỉ có duy nhất

việc tiêu thụ.
Mặc dù công ty năng động tìm kiếm hợp đồng, đáp ứng mọi nhu cầu cầu
khách hàng đến đặt hàng ở công ty, nhng khối lợng sản phẩm cần sản xuất vẫn
cha khai thác hết đợc công suất của máy móc thiết bị (mới chỉ khai thác đợc 80-
85% công suất của máy).
Ngoài ra, các điều kiện phục vụ cho sản xuất của công ty còn phụ thuộc,
cha chủ động đợc hoàn toàn, nên dẫn tới công ty vẫn còn nhiều giờ nghỉ do lí do
mất điện.
Tóm lại, bên cạnh những thuận lợi là chủ yếu thì công ty vẫn còn tồn tại
một số điểm khó khăn. Nếu công ty biết khai thác triệt để đợc những lợi thế của
mình và khắc phục đợc khó khăn một cách kịp thời thì nhất định quá trình sản
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
xuất kinh doanh của công nói chung và khâu tiêu thụ nói riêng sẽ đợc diễn ra
tốt hơn.
II. Công tác kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của công ty Nhựa Hà Nội
trong năm 2002.
Để chuẩn bị cho sản xuất kinh doanh, hàng năm mỗi doanh nghiệp phải
lập cho mình hàng loạt kế hoạch nh: kế hoạch cung cấp vật t, kế hoạch lao động
tiền lơng, kế hoạch sản xuất, kế hoạch vốn, kế hoạch tiêu thụ sản phẩm... tất cả
các kế hoạch tập hợp thành kế hoạch sản xuất - kĩ thuật - tài chính của doanh
nghiệp. Trong khuôn khổ đề tài này, ta chỉ đi vào xem xét một chỉ tiêu của kế
hoạch tài chính trong doanh nghiệp đó là kế hoạch tiêu thụ sản phẩm sản xuất
ra của công ty nhựa Hà Nội. Thực chất của kế hoạch tiêu thụ sản phẩm sản xuất
ra là việc dự đoán trớc số lợng sản phẩm sẽ đợc tiêu thụ trong kì kế hoạch, đơn
giá bán sản phẩm kì kế hoạch, doanh thu tiêu thụ sản phẩm sẽ đạt đợc trong kì
kế hoạch để có thể chủ động tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Bất cứ
doanh nghiệp nào muốn cho quá trình tiêu thụ sản phẩm đợc dễ dàng thuận lợi
đều nhất thiết phải lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm một cách chính xác cụ thể.
Thông qua kế hoạch đó doanh nghiệp mới có thể tổ chức sản xuất kinh doanh

tiến hành lập kế hoạch sản xuất, tài chính kĩ thuật khác. Do tình hình mua
nguyên vật liệu tơng đối dễ dàng cho nên với thời điểm lập kế hoạch tiêu thụ
này, công ty vẫn có đủ thời gian để chuẩn bị đầy đủ các yếu tố đầu vào cho sản
xuất kinh doanh nh nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng mua ngoài,
tiền lơng... đảm bảo cung ứng sản phẩm cho khách theo đúng nh kế hoạch.
Đối với kế hoạch tiêu thụ sản phẩm hàng quí, công ty tiến hành lập vào
cuối tháng của quí trớc, vì kế hoạch quí khá đơn giản, mọi vấn đề căn bản vẫn
nh kế hoạch tiêu thụ sản phẩm cả năm.
2.Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm năm 2002 của công ty nhựa Hà nội.
Cũng nh các doanh nghiệp khác, hàng năm cứ đến thời điểm lập kế
hoạch thì công ty nhựa Hà nội đều tiến hành lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm dựa
trên những căn cứ mang tính khoa học. Và trong năm 2002 kế hoạch tiêu thụ
sản phẩm của công ty đợc lập nh sau: (Biểu 2)
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong biểu 2 là kế hoạch tiêu thụ sản phẩm đợc lập cho 7 loại sản phẩm
có tỉ trọng doanh thu thực tế lớn nhất đó là: Bộ nội thất 606, nắp bệt PPII, vỏ tắc
te, hộp đĩa CD, tay vịn ghế tựa, vỏ ác qui (50380 GN5 9020), chi tiết xe máy
Honda (80101 GN5 9001).
- Căn cứ vào sổ chi tiết tiêu thụ năm 2001 để tập hợp số lợng tiêu thụ,
đơn giá tiêu thụ và doanh thu tiêu thụ của năm 2001 của công ty.
- Đối với hình thức bán sản phẩm theo hợp đồng thì căn cứ vào giá bán,
số lợng sản phẩm, thành tiền đã kí trong hợp đồng để lập nên kế hoạch về số l-
ợng sản phẩm tiêu thụ trong kì, giá bán kế hoạch và doanh thu dự kiến của từng
hợp đồng. Sau đó tổng hợp các hợp đồng ta sẽ có kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
theo hợp đồng.
- Đối với hình thức bán sản phẩm qua đại lí, bán lẻ thì:
+ Số lợng sản phẩm tiêu thụ trong kì đợc lập căn cứ vào kết quản dự đoán
nhu cầu thị trờng.
+ Đơn giá kế hoạch: là giá do công ty dự kiến dựa trên đơn giá sản phẩm

với đặc điểm tiêu thụ sản phẩm của công ty.
- Kế hoạch tiêu thụ sản phẩm đợc lập khá chi tiết theo thời gian (từng
quí, từng tháng, từng tuần).
Tuy nhiên kế hoạch sẽ chỉ là kế hoạch nếu nh khả năng không đợc
biến thành hiện thực, vì vậy đòi hỏi công ty rất nhiều sự nỗ lực cố gắng hơn
nữa.
Mặc dù việc lập kế hoạch là nh vậy, nhng vấn đề đặt ra là công ty có thực
sự coi trọng kế hoạch đặt ra hay không? Nếu nh công tác lập kế hoạch đợc thực
sự coi trọng thì phơng pháp lập kế hoạch này sẽ giúp rất nhiều cho công ty
trong quá trình tiêu thụ sản phẩm. Ngợc lại, nếu công tác lập kế hoạch không đ-
ợc coi trọng số liệu đa ra không sát thực thì dù kế hoạch tiêu thụ sản phẩm có
chi tiết đến đâu cũng khó khả thi. Điều này đợc đánh giá nh sau:
Xét về kế hoạch tiêu thụ sản phẩm năm 2002 của công ty ta thấy doanh
thu dự kiến của công ty về một số mặt hàng nh: bộ NT606, nắp bệt PPII, vỏ tắc
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
te, hộp đĩa CD, tay vịn ghế tựa, vỏ ắc qui, chi tiết xe máy là 5.563.878.468đồng
tăng 10,12% so với doanh thu tiêu thụ sản phẩm năm 2001.
Sở dĩ có sự tăng lên đó là do doanh thu tiêu thụ dự kiến từng mặt hàng
tăng lên. Cụ thể:
- Bộ nội thất 606, doanh thu dự kiến là 1.235.903.400đồng, tăng
25.555.100đồng so với năm 2001 tơng ứng với tỉ lệ tăng là 2,11%. Nếu so với
tổng doanh thu các mặt hàng kể trên năm 2001 thì mức tăng này chiếm 0,505%.
- Nắp bệt PPII, doanh thu dự kiến là 1.732.821.000đồng, tăng
144.001.000đồng so với năm 2001 tơng ứng với tỉ lệ tăng là 9,06%. Nếu so với
tổng doanh thu các mặt hàng kể trên năm 2001 thì mức tăng này chiếm 2,85%.
- Doanh thu dự kiến vỏ tắc te là 570.912.650đồng, tăng 91.483.028đồng
so với năm 2001 tơng ứng với tỉ lệ tăng là 19,08%. Nếu so với tổng doanh thu
các mặt hàng kể trên năm 2001 thì mức tăng này chiếm 1,81%.
- Doanh thu dự kiến hộp đĩa CD là 430.325.838đồng, tăng

các hợp đồng tăng lên so với năm 2001. Nếu đúng nh vậy thì đây là biểu hiện tốt
của công ty, Nhng số lợng sản phẩm dự kiến tiêu thụ tăng cũng có thể do công ty
dự toán nhu cầu tăng lên. Trong trờng hợp này, công ty cần phải thận trọng, nếu
dự toán sai hoặc không sát sẽ làm kế hoạch mất tính khả thi.
- Giá bán dự kiến tăng lên: chẳng hạn nh giá của một bộ NT 606 năm
2001 là 91.700đồng, năm 2002 dự kiến tăng lên 91.800đồng.
Hộp đĩa CD giá bán năm 2001 là 781đồng/cái dự kiến tăng lên
783đồng/cái năm 2002...
Giá bán dự kiến tăng lên có thể là do giá cả thị trờng biến động nên công
ty phải điều chỉnh giá tăng, nhng cũng có thể là do công ty nâng cao chất lợng
sản phẩm nên dự kiến bán với giá cao hơn...
- Kết cấu của các mặt hàng có sự thay đổi (Biểu 3)
Biểu 3: So sánh kết cấu tiêu thụ sản phẩm thực tế
năm 2001 với kế hoạch năm 2002
STT Tên sản phẩm Thực tế năm 2001 Kế hoạch năm 2002
Số lợng Tỉ lệ(%) Số lợng Tỉ lệ(%)
1 Nắp bệt PPII 79.441 0,754 86.210 0,70
25

Trích đoạn Công tác tổ chức thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩ mở công ty Nhựa Hà Nội năm 2002. Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm của công ty Nhựa Hà Nội. Những vấn đề đặt ra :
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status