Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu.............................................................................................................3
Phần I: Lý luận chung về Tái Bảo Hiểm................................................4
I-/ Bản chất của tái bảo hiểm..............................................................................4
Khái niệm chung về Tái Bảo Hiểm......................................................................4
Bản chất của Tái Bảo Hiểm. ...............................................................................4
II-/Lịch sử ra đời và phát triển của TBH.........................................................4
1. Giai đoạn đầu phát triển của tái bảo hiểm......................................................4
2. Sự phát triển của TBH sau chiến tranh thế giới lần thứ II...............................5
III-/ Chức năng của Tái BH......................................................................................7
IV-/ Các hình thức và phơng pháp TBH chủ yếu..........................................8
2. Các phơng pháp tái bảo hiểm.......................................................................11
Phần 2: Bảo hiểm kỹ thuật với hoạt động .....................................18
Tái bảo hiểm.......................................................................................................18
I. Lịch sử phát triển bảo hiểm kỹ thuật.......................................................18
II. Các loại hình Đơn Bảo Hiểm kỹ thuật.....................................................19
1.Đơn BH không tái tục......................................................................................19
2. Đơn BH có thể tái tục.....................................................................................21
IV-/tái bảo hiểm kỹ thuật....................................................................................23
Sự cần thiết phải Tái Bảo Hiểm Kỹ thuật...........................................................23
2. Nội dung của Tái Bảo Hiểm Kỹ thuật............................................................23
Phần III...................................................................................................................29
Thực trạng tái bảo hiểm kỹ thuật ở VINARE................................29
I-/ Một vài nét về VINARE......................................................................................29
1-/ Giới thiệu chung về VINARE........................................................................29
II-/ Quá trình triển khai nghiệp vụ bảo hiểm kỹ thuật ở Việt Nam.
35
1-/ Trớc năm 1994..............................................................................................35
2-/ Sau năm 1994...............................................................................................37
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khái niệm chung về Tái Bảo Hiểm.
Bản chất của Tái Bảo Hiểm.
II-/Lịch sử ra đời và phát triển của TBH.
1. Giai đoạn đầu phát triển của tái bảo hiểm
Vào giai đoạn cuối cùng của thời đại trung cổ khi ngành bảo hiểm bắt đầu phát
triển và mở rộng ở Châu Âu thì nhu cầu tái bảo hiểm đã xuất hiện và ngày càng tăng
nhanh cùng với sự phát triển của nền kinh tế t bản chủ nghĩa. Trớc tiên nghiệp vụ tái
bảo hiểm đợc tiến hành cho loại hình bảo hiểm hàng hải, sau này dần dần đợc mở
rộng sang bảo hiểm cháy, bảo hiểm nhân thọ,...
Dịch vụ TBH đầu tiên đợc ghi nhận ở Italia vào năm 1370 giữa một bên là hai
thơng nhân hoạt động với t cách nh nhà tái bảo hiểm, và một bên là đại diện cho một
nhà bảo hiểm. Lúc đầu, dịch vụ TBH đợc các Công ty BH gốc tiến hành và hình thức
TBH duy nhất đợc sử dụng là TBH tuỳ ý lựa chọn cho từng rủi ro riêng lẻ.
Sau cuộc Cách mạng Công nghiệp vào giữa thế kỷ 19, nhờ áp dụng KHKT vào
sản xuất mà nhiều nớc TBCN đã có những bớc tiến nhảy vọt. Quan hệ thơng mại
giữa các nớc đợc mở rộng và không ngừng phát triển. Điều này đã dẫn đến nhu cầu
về BH và TBH ngày càng nhiều cho mọi lĩnh vực trong nền kinh tế. Những nhu cầu
này không chỉ nhiều về số lợng mà giá trị BH cũng tăng lên không ngừng và lúc này
dịch vụ TBH cần tới sự chuyên môn hoá _ các công ty TBH chuyên nghiệp ra đời.
Năm 1846, tại Kohn (Đức) Công ty TBH chuyên nghiệp đầu tiên đã đợc thành lập
lấy tên là "Công ty TBH Kohn" (Kolnische Rusk AG). Tiếp theo là sự xuất hiện của
một loạt các Công ty nh:
Công ty TBH Thụy sỹ (SwissRe) năm 1863.
Công ty TBH London (London Guarantee Reinsuarance Co.Ltd) năm 1869.
Công ty TBH Munich (Munchenes Ruck. AG) năm 1880.
Việc thành lập các công ty TBH chuyên nghiệp là một sự kiện có tính chất
quan trọng trong việc phát triển của ngành BH. Qua đó các công ty BH gốc đã có
sẵn trong tay nguồn đảm bảo đắc lực cho hoạt động kinh doanh của họ và nhờ đó
các công ty BH gốc không còn phải e ngại hoặc lo sợ khi phải cung cấp thông tin và
số liệu cho việc chào các hợp đồng TBH. Từ đó khả năng cạnh tranh của các công ty
thu phí của thị trờng CHLB Đức đã chiếm vị trí thứ 3 trên thế giới sau Mỹ và Nhật.
_ Sự thành lập các công ty BH Nhà nớc ở các nớc XHCN: Sự kiện này ảnh h-
ởng lớn đến chiều hớng phát triển của TBH quốc tế. Các nớc XHCN đã tiến hành
biện pháp độc quyền về TBH và hạn chế quan hệ với thị trờng TBH TBCN. Đồng
thời ở các nớc XHCN không tiến hành TBH cho các loại hình BH đối nội.
_ Trong những nớc chậm phát triển hoặc mới giành đợc độc lập những tổ chức
độc quyền TBH, cục bộ hay toàn phần đã đợc thành lập nhằm bảo vệ lợi ích riêng
của họ (ví dụ nh ở Achentina, Braxin, Chilê, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập và một số nớc ở
Châu Phi, Đông Nam á,...). Sự kiện này có tác động làm thu hẹp khả năng hoạt động
của các công ty TBH quốc tế ở những nớc đó.
_ Nhiều công ty TBH mới đợc thành lập và càng ngày càng có nhiều công ty
BH tiến hành đồng thời dịch vụ TBH. Do đó cuộc cạnh tranh giữa họ ngày càng gay
gắt và dới nhiều hình thức khác nhau.
_ Trong thời gian này hình thức TBH không theo tỉ lệ là hình thức tối u nhất
đáp ứng đợc nhu cầu đảm bảo của các công ty BH gốc và ngày càng đợc phổ biến
rộng rãi. Điều này làm cho các nhà TBH có khó khăn hơn trong việc tính phí phù
hợp với phần rủi ro mà họ phải gánh chịu. Thêm vào đó là khả năng xảy ra tổn thất
ngày càng tăng. Vì vậy đặc điểm của giai đoạn này là chiều hớng ngày càng giảm
5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
của kết quả kinh doanh dịch vụ TBH thuần tuý, nhng đồng thời chiều hớng ngày
càng tăng của kết quả kinh doanh đầu t quỹ tiền tệ BH thông qua lãi suất cao.
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
III-/ Chức năng của Tái BH.
_ Tăng cờng khả năng nhận Tái BH. Có thể nói, nếu không có TBH các
công ty BH gốc sẽ phải duy trì một số vốn rất lớn, nếu không Công ty sẽ không có
khả năng nhận một số lợng lớn các rủi ro có giá trị cao. Nh vậy nhờ có TBH các
Công ty có khả năng tăng cờng nhận BH mà không phải lo lắng về tiềm năng vốn dự
trữ của mình.
doanh của các Công ty BH gốc cụ thể là ổn định tỷ lệ giữa tổng số tiền phải chi bồi
thờng và tổng doanh thu phí cùng trong một năm.
_ Đem lại sự bảo vệ trớc những thảm hoạ lớn. Tái BH cho những thảm hoạ
lớn là một nhu cầu tất yếu của Công ty BH nhằm tự bảo vệ mình. Những tổn thất do
những thảm hoạ rủi ro thiên nhiên nh gió, bão, ma đá, động đất, núi lửa hay các vụ
hoả hoạn lớn và các vụ nổ công nghiệp thờng là rất lớn và ảnh hởng đến nhiều
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nghiệp vụ cùng một lúc. Nh vậy sự bảo vệ của các Công ty TBH là điều không thể
thiếu trong những trờng hợp nh thế này.
_ Giảm bớt sự căng thẳng về tài chính do sự phát triển nhanh của Công ty.
Các cơ quan quản lý về BH thờng yêu cầu các Công ty BH phải thành lập quỹ dự
phòng phí để đề phòng các khiếu nại phát sinh từ những rủi ro cha hết hạn vào thời
điểm kết thúc năm tài chính của Công ty. Do đó, khi Công ty phát triển nhanh thì
doanh thu từ phí cũng tăng theo, Công ty sẽ phải để dành ra một phần dự trữ lớn
hoặc có thể phải tăng vốn để đáp ứng những nhu cầu trên. Bằng cách chuyển một
phần phí sang các Công ty khác thông qua TBH, Công ty có thể điều hoà sự gia tăng
của doanh thu phí BH và do đó giảm bớt những sức ép về mặt tài chính.
IV-/ Các hình thức và phơng pháp TBH chủ yếu.
1. Các hình thức tái bảo hiểm.
Hiện nay, hoạt động tái bảo hiểm đang đợc thực hiện dới 3 hình thức tái bảo
hiểm chính là tái bảo hiểm tạm thời, theo hợp đồng cố định và tái bảo hiểm lựa chọn
bắt buộc.
Tái Bảo Hiểm tạm thời.
Tái bảo hiểm tạm thời là cách công ty bảo hiểm gốc chuyển nhợng cho công ty
tái bảo hiểm từng dịch vụ hay từng đơn bảo hiểm một cách riêng lẻ. Công ty tái bảo
hiểm, về phần mình, không có nghĩa vụ bắt buộc phải nhận tái bảo hiểm cho đơn
bảo hiểm hay dịch vụ đó. Công ty bảo hiểm gốc cũng có toàn quyền quyết định tiến
hành tái bảo hiểm cho dịch vụ nào, với tỷ lệ bao nhiêu và cho công ty tái bảo hiểm
nào tuỳ lựa chọn cho họ. Mặt khác, công ty tái bảo hiểm cũng có quyền từ chối nhận
hoặc nhận bảo hiểm mà không đợc bảo vệ đầy đủ bằng tái bảo hiểm, và đôi khi làm
mất thiện chí với khách hàng do chậm trễ.
- Những công việc liên quan đến đàm phán, soạn thảo hợp đồng và thanh toán
có thể rất nhiều và tốn kém, và do đó làm giảm lợi nhuận thu đợc.
- Trớc mỗi kỳ tái tục, Công ty bảo hiểm gốc phải lặp lại toàn bộ quy trình đàm
phán trớc khi trao đổi về vấn đề tái tục với khách hàng của mình. Việc huỷ bỏ hay
thay đổi có thể gây ra thêm nhiều công việc khác không cần thiết.
- Sự cần thiết phải tiết lộ những thông tin về dịch vụ nhận bảo hiểm có thể
khiến cho công ty tái bảo hiểm nắm đợc những thông tin nội bộ của công ty gốc.
Hiện nay có thể dẫn đến việc rò rỉ tin tức cho các đối thủ cạnh tranh.
Tái Bảo Hiểm cố định.
* Hợp đồng cố định: Hợp đồng cố định là một thoả thuận bằng văn bản giữa
một Công ty bảo hiểm gốc và một hoặc nhiều công ty nhận tái bảo hiểm; theo thoả
thuận này, Công ty bảo hiểm gốc thoả thuận sẽ nhợng tái bảo hiểm một loại hình
dịch vụ nhất định và công ty tái bảo hiểm thoả thuận sẽ nhận phần tái bảo hiểm đó.
Hợp đồng cố định có quy định các điều khoản và điều kiện để điều chỉnh việc
nhợng tái của công ty bảo hiểm gốc và việc nhận tái của công ty tái bảo hiểm.
Những điều khoản và điều kiện này bao gồm một số mục nh giới hạn tiền tệ của hợp
đồng cố định, phạm vi địa lý và loại hình dịch vụ đợc bảo hiểm theo hợp đồng cố
định.
* Tái bảo hiểm theo hợp đồng cố định: là việc các công ty bảo hiểm gốc đợc
bảo hiểm một cách tự động, và các bên phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định đối
với bên kia. Mặc dù đã có những điều khoản và điều kiện trong hợp đồng cố định,
điều quan trọng là hai bên phải có mối quan hệ tin tởng lẫn nhau. Công ty tái bảo
hiểm trông cậy vào công ty gốc chuyển cho mình những dịch vụ tốt. Công ty bảo
hiểm gốc trông cậy vào công ty nhận tái thanh toán tiền bồi thờng cho những khiếu
nại nếu có phát sinh.
* Ưu điểm:
- Một trong những u điểm của hình thức này theo quan điểm của công ty bảo
hiểm gốc là sự chắc chắn do hợp đồng cố định mang lại. Vì công ty tái bảo hiểm bị
thiết phải có tái bảo hiểm của bên nhận tái.
- Theo hợp đồng cố định, công ty nhợng tái sẽ phải nhợng nhiều dịch vụ hơn
so với khi thu xếp tái bảo hiểm theo hợp đồng tạm thời. Trong thực tế, theo một số
dạng hợp đồng cố định, công ty nhợng tái phải chuyển một phần của tất cả các dịch
vụ gốc cho công ty tái bảo hiểm. Điều này có nghĩa là họ phải chuyển đi một phần
phí gốc lớn hơn so với sự mong muốn của mình.
1.3 Tái Bảo Hiểm tuỳ ý lựa chọn.
Để khắc phục nhợc điểm của hai hình thức trên các công ty tái bảo hiểm thờng
sử dụng hình thức tái bảo hiểm lựa chọn bắt buộc. Ngày nay, hình thức này đang đ-
ợc áp dụng khá phổ biến ở Việt Nam. Theo hình thức này thì công ty nhợng có
quyền lựa chọn chuyển nhợng một số rủi ro nhất định và công ty nhận có nghĩa vụ
phải chấp nhận những rủi ro đợc chuyển nhợng đó.
Hình thức này là sự kết hợp linh hoạt giữa tái bảo hiểm tạm thời và tái bảo
hiểm theo hợp đồng cố định. Nhờ đó khi công ty nhợng đã lựa chọn rủi ro tái đi thì
chắc chắn nó sẽ đợc chấp nhận bởi công ty tái bảo hiểm.
* Ưu điểm:
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Công ty nhợng không bắt buộc phải nhợng tất cả những dịch vụ mà mình
nhận bảo hiểm. Họ có thể lựa chọn dịch vụ để chào tái bảo hiểm từng phần trách
nhiệm vợt quá khả năng giữ lại của mình cho một hoặc một số các nhà tái bảo hiểm
mà họ lựa chọn, thay vì phải đem phân chia toàn bộ các phần vợt quá ấy cho các nhà
tái bảo hiểm nh hình thức tái bảo hiểm theo hợp đồng cố định. Tuy nhiên công ty
nhợng không đợc lợi dụng hình thức tái bảo hiểm này để lựa chọn những rủi ro dễ
tổn thất đa vào hợp đồng và giữ lại cho mình những rủi ro có độ an toàn cao hơn.
- Ngời nhận tái bảo hiểm có điều kiện thu đợc một nguồn phí bảo hiểm lớn hơn
và có phần thăng bằng hơn so với hình thức tái bảo hiểm tạm thời.
* Nhợc điểm:
- Nhà tái bảo hiểm không có quyền từ chối những rủi ro mà ngời nhợng tái
chuyển cho họ. Tuy nhiên, những rủi ro đó phải phù hợp với nội dung và điều khoản
vậy giảm bớt sự lệ thuộc vào các phơng pháp tái bảo hiểm tạm thời.
- Giảm bớt đợc tối đa khối lợng công việc kế toán và báo cáo.
- Hợp đồng số thành là một dạng cộng tác tuyệt đối, công ty tái bảo hiểm chia
sẻ hoàn toàn cùng công ty nhợng những may rủi trong kinh doanh bảo hiểm. Đối với
các công ty tái bảo hiểm, đây là một phơng pháp tơng đối thuận lợi vì công ty nhợng
tái bảo hiểm không đợc lựa chọn rủi ro để tái bảo hiểm.
- Thủ tục phí tái bảo hiểm mà công ty nhợng nhận đợc theo phơng pháp này
bao giờ cũng cao nhất.
* Nhợc điểm:
- Các công ty nhợng phải chuyển tái bảo hiểm cả những rủi ro nhỏ mà bản thân
công ty có khả năng giữ lại. Hình thức tái bảo hiểm này có thể làm giảm phí giữ lại
của công ty nhợng.
- Công ty nhợng phải đem tái đi toàn bộ các đơn vị rủi ro trong bảo hiểm gốc
vì vậy không phát huy hết khả năng tài chính của công ty. Ví dụ nh các rủi ro có giá
trị nhỏ, công ty gốc có khả năng giữ lại mà vẫn phải tái đi. Nh vậy, công ty nhợng bị
giảm đi một lợng đáng kể phí gốc.
- Mọi đơn vị rủi ro phải đem tái đi cho nên việc giữ bí mật thông tin của công
ty nhợng là rất khó.
- Công ty nhợng không chủ động đợc trong việc khống chế tỷ lệ bồi thờng đối
với mức giữ lại của mình bởi vì mức giữ lại và tái đi là số tơng đối. Với số tiền bảo
hiểm giữ lại không đồng nhất, phơng pháp này không làm giảm bớt rủi ro cho phần
trách nhiệm giữ lại.
Tái Bảo Hiểm mức dôi.
Nếu một công ty bảo hiểm chỉ tái bảo hiểm theo hợp đồng tái bảo hiểm số
thành, công ty đó sẽ phải thờng xuyên vận dụng đến hình thức tái bảo hiểm tạm thời
vì có nhiều rủi ro lớn không định trớc.
Nhằm tăng u thế trong tái bảo hiểm tự động của mình, công ty nhợng cần phải
thu xếp một hợp đồng mức dôi bên trên phần hợp đồng tái bảo hiểm số thành cơ bản
của mình.
- Phơng pháp tái bảo hiểm theo hình thức mức dôi này cho phép công ty nhợng
1 250.000 250.000 - -
2 800.000 300.000 500.000 -
3 4.500.000 300.000 3.000.000 1.200.000
+ Phí bảo hiểm
Rủi ro Sb (1) (2) (3)
1 1% x 250.000 = 2.500 2.500 - -
2 0,8% x 800.000 = 6.400 6.400 x 3/8 = 2.400 6.400 x 5/8 = 4.000 -
3
1,2% x 4.500.000 =
54.000
54.000 x 3/45 =
3.600
54.000 x 30/45 =
36.000
54.000 x 12/45 =
14.400
+ Số tiền phải bảo hiểm.
Rủi ro Sbt (1) (2) (3)
1 100.000 100.000 - -
2 50.000 50.000 x 3/8 = 18.750 50.000 x 5/8 = 31.250 -
3 1.200.000
1.200.000 x 3/45 = 80.000 1.200.000 x 30/45 =
800.000
1.200.000 x 12/45 =
320.000
Từ ví dụ trên, ta có thể rút ra một số u điểm và hạn chế của phơng pháp này
nh sau:
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Ngời nhợng có đợc sự ổn định trong phần giữ lại đối với mọi đơn vị rủi ro,
Nhà TBH lớp 2: 1.000.000$
Nhà TBH lớp 3: 5.000.000$
Giả sử trong năm nghiệp vụ bảo hiểm có 3 đơn vị rủi ro sau:
Đơn vị rủi ro 1: Sb: 10.000.000$; Tổn thất: 200.000 $.
Đơn vị rủi ro 2: Sb: 6.000.000$; Tổn thất: toàn bộ.
Đơn vị rủi ro 3: Sb: 20.000.000$; Tổn thất: 2.000.000$.
14
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Với tổn thất nh trên, các bên phân chia trách nhiệm nh sau:
Sbt Cty nhợng Nhà TBH lớp 1 Nhà TBH lớp 2 Nhà TBH lớp 3
200.000 200.000 - - -
6.000.000 400.000 500.000 1.000.000 4.100.000
2.000.000 400.000 500.000 1.000.000 100.000
Theo phơng pháp này cứ đầu năm nghiệp vụ công ty nhợng phải đặt cọc cho
các nhà tái bảo hiểm một số tiền nhất định gọi là phí đặt cọc. Nếu năm đó tổn thất
không xảy ra, công ty nhợng cũng không đòi đợc phần phí đặt cọc này, đó chính là
lãi của các nhà tái bảo hiểm.
Nếu năm đó tổn thất lớn xảy ra mà mức giữ lại của các nhà tái bảo hiểm lớn,
các bên có thể đàm phán lại dựa vào tỷ lệ phí điều chỉnh nhằm đảm bảo quyền lợi
cho các bên, từ đó mới tạo lập đợc mối quan hệ lâu dài.
*Ưu, nhợc điểm của phơng pháp.
- Với hợp đồng tái bảo hiểm vợt mức bồi thờng, ngời nhợng về cơ bản giữ lại
đợc phần trách nhiệm tơng ứng với khả năng tài chính của mình, tuy nhiên với điều
kiện cơ bản và mức tự bồi thờng phải đợc xác định hợp lý.
- Hợp đồng vợt mức bồi thờng cũng có tác dụng ít nhiều trong việc sửa chữa
những sai sót trong việc tính toán giá trị thiệt hại tối đa có thể. Nói riêng về hợp
đồng vợt mức bồi thờng theo sự cố có tác dụng đặc biệt trong việc chống lại sự tích
tụ, tập trung rủi ro.
* Nhợc điểm:
- Phơng pháp này cha thể bảo vệ đợc trờng hợp trách nhiệm của ngời nhợng gia
* Nhợc điểm:
Phơng pháp này khá nguy hiểm cho ngời nhận tái. Thực tế ngời nhận tái có thể
phải gánh chịu toàn bộ những sai sót của ngời nhợng về chấp nhận rủi ro, định phí
bảo hiểm... Vì vậy để ngời nhợng quan tâm đến kết quả nghiệp vụ, hợp đồng tái bảo
hiểm vợt tỷ lệ bồi thờng có thể thêm điều khoản: giành lại cho ngời nhợng một phần
trách nhiệm mà đáng lẽ ngời nhận phải trả (thờng từ 5% đến 10%).
Vì những điểm trên mà trong thực tế, phơng pháp này không đợc sử dụng
nhiều và chỉ thích hợp với loại rủi ro thờng xuất hiện theo mùa và có sự dao động
lớn giữa các năm.
2.5 Tái Bảo Hiểm kết hợp.
Trong thực tế, mỗi khi sử dụng một phơng pháp tái bảo hiểm nào những ngời
bảo hiểm cũng rất khó khăn vì những điểm còn hạn chế của chúng. Vì vậy ngời ta
đã nghĩ ra cách cần phải tiến hành đồng thời các phơng pháp sẽ có thể giảm đợc
những vấn đề khó giải quyết.
a, Kết hợp tái bảo hiểm số thành và mức dôi.
Theo phơng pháp này, trớc hết tiến hành phân bổ cho hợp đồng số thành trớc
sau đó mới phân bổ tiếp cho hợp đồng mức dôi. Phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
nếu có cũng đợc phân bổ theo tỷ lệ mỗi bên đảm nhận.
Và nh vậy khi thực hiện theo phơng pháp này thì phân tán rủi ro nhanh hơn,
việc ký hợp đồng cũng dễ dàng hơn, vì nó thoả mãn đợc nhu cầu đa dạng của các
nhà tái bảo hiểm. Đồng thời phơng pháp này rất phù hợp với những đơn vị rủi ro và
những đối tợng có giá trị bảo hiểm hay số tiền bảo hiểm khá lớn.
Tuy nhiên khi tiến hành phân bổ trách nhiệm giữa các bên trong loại hợp đồng
kết hợp này phải chú ý đến hạn mức trách nhiệm của mỗi loại hopự đồng vì là phơng
pháp kết hợp nên hạn mức này đợc quy định hết sức chặt chẽ.
b, Kết hợp giữa tái bảo hiểm số thành và v ợt mức bồi th ờng.
Theo phơng pháp này nhà tái bảo hiểm vợt mức bồi thờng sẽ bảo vệ cho công
ty nhợng hoặc công ty nhận tái bảo hiểm số thành. Bảo vệ cho công ty nào thì đầu
năm nghiệp vụ công ty đó phải trả phí đặt cọc. Nếu năm đó tổn thất không xảy ra thì
công ty đợc bảo vệ cũng không có quyền đòi lại phí đặt cọc này.
thế kỷ 19, trong thời gian Cách mạng Công nghiệp Anh, việc thờng xuyên xảy ra
các vụ nổ gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng và tài sản của con ngời đã phát
sinh các nhu cầu cần bảo vệ trớc các rủi ro đó. Năm 1854, một số nhân vật quan
trọng quan tâm đến việc sử dụng hơi nớc đã quyết định thành lập Hiệp hội những
ngời sử dụng hơi nớc Man.( Manchester Steam Users' Asociation). Hội viên đợc
quyền sử dụng các dịch vụ giám định nồi hơi mà Hiệp hội thuê. Tổ chức này không
chỉ t vấn phơng pháp phòng ngừa những vụ nổ mà còn có trách nhiệm hớng dẫn hội
viên những phơng pháp sử dụng máy móc thiết bị một cách hiệu quả và tiết kiệm
nhất. Ngày nay, những quy định này vẫn còn đợc duy trì. Chủ các nhà máy có thể
yêu cầu các kỹ s giám sát t vấn và gợi ý về việc vận hành và bảo dỡng máy móc.
Mặc dù Hiệp hội những ngời sử dụng hơi nớc Manchester đã đa ra nhiều dịch
vụ có giá trị nhng đó không phải là một công ty bảo hiểm.Tuy nhiên, để đáp ứng
những nhu cầu ngày càng cao, năm 1858, một số hội viên đã thành lập công ty bảo
hiểm kỹ thuật đầu tiên có tên Công ty bảo hiểm Nồi hơi. Công ty này bắt đầu hoạt
động trong việc bảo hiểm cho nồi hơi và đã nhanh chóng kéo theo sự ra đời của các
Công ty bảo hiểm tơng tự khác. Ban đầu ngời ta chỉ bảo hiểm nồi hơi, nhng sau đó
phạm vi bảo hiểm đã đợc mở rộng cho các loại ống dẫn áp suất khác nhau. Bảo hiểm
động cơ (ngày nay đợc biết đến nh là bảo hiểm Đổ vỡ máy) xuất hiện năm 1872, và
cả hai loại bảo hiểm nổ nồi hơi và bảo hiểm máy móc đều nhanh chóng phát triển ở
các nớc công nghiệp hoá khác.
Vào đầu thế kỷ 20, đơn bảo hiểm đầu tiên cho việc mất thu nhập do đổ vỡ
máy đã đợc cấp. Cùng thời điểm này, đơn bảo hiểm lắp đặt (bảo hiểm cho việc lắp
đặt máy móc trên công trờng) đã xuất hiện. Đơn này thuộc loại đơn có xác định rủi
ro và không bảo hiểm cháy nhng nó đã đa ra sự bảo vệ hợp lý cho các dự án lắp đặt
nhỏ và vừa.
Từ năm 1920 đến năm 1930, một số Công ty bảo hiểm của Đức và Anh đã
giới thiệu một loại đơn đảm bảo cho các toà nhà và các công trình dân dụng trong
suốt thời gian xây dựng. Đơn bảo hiểm mọi rủi ro Xây dựng và lắp đặt đã đợc triển
khai dựa trên loại đơn này. Tuy nhiên, cả hai loại đơn này đều cha đạt đợc vị trí
quan trọng của nó cho đến sau Thế chiến thứ II, khi mà công cuộc tái thiết và phát
nào xảy ra trớc. Vì vậy, thời hạn thực tế của hợp đồng BH đợc xác định theo biểu đồ
tiến độ của dự án.
Tất cả các đơn BH không thể tái tục đều có các điều khoản và các điểm loại
trừ chung nhất định. Dới đây là một vài điểm chính:
Các điều khoản chung:
Ngời đợc BH sẽ phải tiến hành các biện pháp hợp lý nhằm phòng ngừa thiệt
hại, tổn thất hoặc trách nhiệm, và tuân theo sự chỉ dẫn, yêu cầu và lời khuyến cáo
của nhà chế tạo để bảo đảm an toàn cho máy móc và thiết bị đang làm việc. Hơn
thế nữa, ngời đợc BH cũng phải đảm bảo bảo duy trì tốt những máy móc, thiết bị đ-
ợc BH theo đơn.
Ngời đợc BH có trách nhiệm thông báo ngay lập tức cho ngời BH bất cứ thay
đổi vật chất nào( thay đổi về số tiền BH , về biểu đồ tiến độ thời gian xây dựng, lắp
đặt, về thiết kế vv...) Đây là vấn đề cực kỳ quan trọng vì những thay đổi vật chất này
tự nó có thể làm ảnh hởng đến rủi ro của ngời BH và vì thế có thể ảnh hởng đến
những điều khoản đã đợc thoả thuận từ trớc.
Trong trờng hợp xảy ra bất kỳ sự cố nào có thể phát sinh khiếu nại theo đơn
BH, ngời đợc BH phải thông báo cho ngời BH và phải cung cấp tất cả thông tin
những bằng chứng của khiếu nại nếu đợc yêu cầu.
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Những điểm loại trừ chung:
Những thiệt hại do bị thanh lý,các khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng hoặc
chậm trễ, hoặc có liên quan đến việc đảm bảo thực hiện và hiệu quả công việc, tổn
thất của thị trờng.
Những hành động cố ý, manh tâm hoặc chủ ý của giám đốc, quản đốc và
những ngời có trách nhiệm trên công trờng.
Rủi ro hạt nhân: tổn thất do phóng xạ hoặc ô nhiễm phóng xạ từ bất kỳ nhiên
liệu hạt nhân nào hoặc từ chất thải hạt nhân từ các lò cũng nh các tổn thất do nguyên
liệu vũ khí hạt nhân gây ra
Rủi ro chính trị nh chiến tranh, nội chiến, đảo chính...
dựng một nhà máy thuỷ điện phải bao gồm việc xây đập ngăn sông và trạm máy, lắp
đặt tua bin máy phát điện với bộ phận làm lạnh, bộ phận khởi động và tất cả các
20
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thiết bị phụ trợ khác. Nh bình thờng thì dự án này sẽ phải cần tới 2 đơn bảo hiểm
riêng biệt - một cho phần xây dựng và một cho phần lắp máy. Nhng trong nhiều tr-
ờng hợp, các Công ty BH có thể đa ra đơn BH kết hợp
_ Bảo hiểm mất thu nhập(ALOP). Loại đơn BH này cũng có thể đợc gọi là: BH
mất lợi nhuận của đơn XD/LĐ, BH trì hoãn thu nhập , BH chậm bắt đầu kinh doanh,
BH chậm bắt đầu mất lợi nhuận cho thuê và mất lợi tức. Đây là hình thức bảo vệ
doanh thu kinh doanh với mục đích BH cho những tổn thất về lãi gộp của chủ đầu t
do việc chậm trễ trong quá trình hoàn thiện công việc xây dựng, lắp đặt. Điều kiện
tiên quyết cho việc chấp nhận đơn ALOP là sự tồn tại có hiệu lực của các đơn
CAR,EAR và CWAR. Những chậm trễ công việc bình thờng không đợc BH theo
đơn ALOP.
2. Đơn BH có thể tái tục
Đơn BH có thể tái tục BH cho việc lắp đặt, các máy móc và thiết bị đã sẵn
sàng cho hoạt động kinh doanh, tức là sau khi quá trình xây dựng, lắp đặt đã hoàn
thành và việc chạy thử đã thành công. Những đơn này thờng đợc tái tục hàng năm.
Nh vậy ngợc với đơn BH không tái tục, cứ sau 12 tháng các điều khoản và điều kiện
lại đợc xem xét lại.
Những đơn BH này có đặc trng riêng của nó đối với phạm vi BH thực tế mà
nó đảm bảo. Trong những chơng sau, chúng tôi sẽ miêu tả đầy đủ hơn từng loại
hình BH cụ thể. Tuy nhiên, tơng tự nh đơn BH không tái tục, tất cả đơn BH tái tục
đều phải tuân theo những điều kiện và điểm loại trừ chung. Dới đây là một vài ví dụ:
Những điều khoản chung
Ngời đợc BH phải có trách nhiệm tiến hành các bớc hợp lý nhằm duy trì tài
sản đợc BH trong điều kiện làm việc tốt và bảo đảm rằng không có thiết bị nào phải
thờng xuyên hoặc cố ý bắt hoạt động quá tải. Ngời đợc BH phải tuân thủ đầy đủ
những hớng dẫn trong việc vận hành, kiểm tra, đại tu của nhà chế tạo, cũng nh của
phát triển nhanh của kỹ thuật, ngày nay nhiều ngời khai thác BH phải đối mặt với
những vấn đề lớn trong việc xác định phí của những loại máy mới xuất hiện mà đối
với chúng rất ít hoặc hầu nh không có số liệu thống kê. Chính vì vậy trong những tr-
ờng hợp này sự có mặt của những kỹ s giỏi kiến thức sâu về công nghệ mới là vô
cùng cần thiết.
Những trờng hợp thờng sử dụng loại đơn này bao gồm:
_ Bảo hiểm máy móc và thiết bị của chủ thầu(CPE).Công việc XD/LĐ thờng đòi
hỏi việc sử dụng các máy móc nặng và chuyên dụng nh máy đào đờng hầm, thiết bị
xúc đất, cần cẩu, bơm nớc, máy nén khí....Việc BH cho những máy móc và thiết bị
này có thể dùng các điều khoản bổ sung thích hợp kèm theo các đơn CAR,EAR và
CWAR. Tuy nhiên những máy móc chuyên dụng thờng chỉ đợc sử dụng ở một công
trờng cho đến khi các công việc đặc biệt cần dùng đến thiết bị đó đợc hoàn thành.
Đơng nhiên những công việc đó không kéo dài trong suốt quá trình XD/LĐ và máy
móc sẽ đợc chuyển đi ngay khi công việc cần đến nó kết thúc. Chính vì vậy, trong
hầu hết các trờng hợp, các điều khoản SĐBS kèm theo đơn CAR, EAR và CWAR
thờng không phù hợp bởi vì các đơn này chỉ giới hạn cho những tổn thất hoặc thiệt
hại xảy ra trên một công trờng nhất định. Vì vậy việc cấp đơn BH CPM tái tục hàng
năm tỏ ra thích hợp hơn cả bởi lẽ nó BH cho máy móc và thiết bị đợc sử dụng ở các
địa điểm khác nhau.
_ Nổ nồi hơi và thiết bị áp suất(BPVE). Loại đơn này BH cho những thiệt hại do
nổ và đổ vỡ nồi hơi và thiết bị áp suất. Đơn này thờng đợc sử dụng rộng rãi ở những
thị trờng chịu ảnh hởng của Vơng quốc Anh. Đơn này ít đợc biết đến ở những thị tr-
ờng thờng sử dụng đơn BH hoả hoạn và đổ vỡ máy móc.
_ Bảo hiểm đổ vỡ máy móc (MB). Bảo hiểm đổ vỡ máy BH cho những tổn thất
hoặc thiệt hại bất ngờ và không lờng trớc đợc cho máy móc đã đợc lắp ráp, đang
hoạt động hoặc đang dừng hoạt động. Đây cơ bản là một đơn BH tai nạn và không
thể đợc coi là "BH tuổi thọ" cho máy móc. Bởi lẽ máy móc chỉ có một tuổi thọ nhất
định do sự hao mòn, hỏng hócbình thờng khi sử dụng, vì vậy, hàng năm các chủ sở
hữu đều phải khấu hao máy của họ và lập dự trữ để thay thế.
22
thành đợc dùng khá rộng rãi nhng phổ biến nhất vẫn là tái bảo hiểm mức dôi. Thờng
thì hai hình thức này đợc kết hợp trong cùng một chơng trình tái bảo hiểm. Tái bảo
hiểm tuỳ ý lựa chọn theo tỷ lệ đóng vai trò rất quan trọng trong việc thu xếp số tiền
vợt quá khả năng hợp đồng của công ty BH gốc.
2.1. Hợp đồng tái bảo hiểm số thành.
Trong hợp đồng tái bảo hiểm số thành, ngời nhận tái chấp nhận một tỷ lệ
phần trăm cố định của tất cả các đơn BH gốc theo nh những điều kiện và điều khoản
đã ký trong hợp đồng tái bảo hiểm. Phần trăm cố định này có tính chất quyết định
cho việc phân bổ trách nhiệm, phí BH và trách nhiệm bồi thờng giữa công ty gốc và
ngời nhận tái.
Hình thức HĐ tái bảo hiểm này dễ thực hiện và có chi phí quản lý thấp. Nhợc
điểm của hình thức này là không đáp ứng đợc những nhu cầu tái bảo hiểm khác
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nhau của công ty gốc vì mọi đơn đều phải tuân theo phần trăm cố định. Cụ thể là tái
bảo hiểm số thành không giúp cho việc cân bằng danh mục rủi ro BH vì nó không
giới hạn rủi ro của những đơn vị BH lớn (ví dụ những đơn BH với số tiền BH lớn).
Một nhợc điểm nữa là hình thức Tái BH số thành sẽ phải thực hiện ở cả những rủi ro
không thật sự cần tới TBH. Trong một vài trờng hợp nhất định, tái bảo hiểm số thành
có thể làm giảm lợi nhuận của công ty BH gốc. Mặc dù có những nhợc điểm trên
nhng tái bảo hiểm số thành vẫn thờng đợc sử dụng cho các rủi ro của ngiệp vụ kỹ
thuật _ đặc biệt là khi một nghiệp vụ BH mới đợc đa ra thị trờng hay khi danh mục
các rủi ro của nghiệp vụ kỹ thuật đang trong giai đoạn phát triển. Trong những trờng
hợp đó mà kinh nghiệm giải quyết không có, việc tính đúng phí không đợc đảm bảo.
Do vậykhi thu xếp HĐ theo hình thức số thành, công ty nhận TBH đã chấp nhận
phần không chắc chắn đó. Thêm vào đó, đơn tái bảo hiểm số thành chỉ phù hợp cho
những rủi ro hiếm khi có dao động lớn và những rủi ro có thay đổi trong phạm vi
giới hạn có thể chấp nhận đợc.
2.2. Hợp đồng tái bảo hiểm mức dôi.
Trái ngợc với các hợp đồng tái bảo hiểm số thành, với hợp đồng tái bảo hiểm
hoả hoạn hay trách nhiệm, nhiều thị trờng đã có các hiệp hội và tổ chức soạn thảo
các mẫu đơn và biểu phí để các công ty BH nớc mình tuân thủ và thực hiện. Chỉ ở
một vài nớc, điều này không đợc áp dụng cho BH kỹ thuật. Hơn thế nữa, ở rất nhiều
các công ty BH, nghiệp vụ BH kỹ thuật chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng doanh
thu phí. Kết quả là, vì những lý do về chi phí nên việc khai thác BH kỹ thuật thờng
đợc đặt ở phòng BH các rủi ro đặc biệt. Hiển nhiên, điều này đã hạn chế việc tích
luỹ kinh nghiệm của các nhân viên khai thác.
Trong hợp đồng TBH, điều khoản này đợc viết nh sau: " Nhà nhận TBH sẽ
cung cấp cho công ty BH gốc những điều kiện hợp đồng và những nguyên tắc tính
phí BH cho dịch vụ đợc nhợng tái theo HĐ TBH này; và công ty BH gốc buộc phải
tuân theo những nguyên tắc và tỷ lệ phí của họ.
T vấn giải quyết khiếu nại:
Để công ty BH gốc có thể biết cách khiếu nại đòi bồi thờng của những nhà
TBH trên thế giới, điều khoản hớng dẫn khiếu nại thờng đợc viết nh sau:
Năng lực nhận bảo hiểm của HĐ TBH:
So với tái bảo hiểm cháy, đơn tái bảo hiểm kỹ thuật thờng mất cân đối. Một
hợp đồng TBH cháy thờng có tỷ lệ giữa tổng phí BH và năng lực nhận BH là 1-1
hoặc 1-2; trong khi đó tỷ lệ này ở hợp đồng tái bảo hiểm kỹ thuật là khoảng 1-10 và
có thể lên đến 1-30 hoặc cao hơn. Lý do chính là việc nhợng tái bảo hiểm những rủi
ro CAR và EAR thờng không ổn định bởi tính chất không tái tục số tiền BH của
chúng có thể dao động từ thấp đến rất cao.
Những rủi ro tái tục hàng năm nh BH đổ vỡ máy & BH mọi rủi ro cho máy
tính có dao động về số tiền BH khá cân đối và năng lực nhận bảo hiểm của HĐ TBH
thờng dựa trên tổng khối lợng dịch vụ của công ty trong những loại nghiệp vụ BH
này.
Rõ ràng, khả năng nhận BH có thể tăng thêm bằng cách bao gồm các HĐ
TBH mức dôi thứ hai vợt quá khả năng nhận BH của HĐ mức dôi thứ nhất, nhng trừ
khi số lợng rủi ro nhợng là đủ lớn và quan hệ giữa khả năng tăng thêm này với tần
số rủi ro trung bình phải tơng đối cân bằng, việc sử dụng hình thức TBH tạm thời
cho số tiền BH vợt quá giới hạn của mức dôi thứ nhất là hợp lý hơn, bởi vì những ch-