I. Phần mở đầu Khái niệm bảo hiểm
: Bảo hiểm là một sự thoả thuận hợp pháp thông
qua đó một cá nhân hay tổ chức (ngời tham gia bảo hiểm) chấp nhận đóng
góp một khoản tiền nhất định (phí bảo hiểm) cho một tổ chức khác (ngời
bảo hiểm) để đổi lấy những cam kết về những khoản bồi thờng hoặc chi trả
khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra.
Bảo hiểm ngày nay đợc thực hiện dới hình thức hợp đồng. Hợp đồng
bảo hiểm là sự thoả thuận có tính chất ràng buộc pháp lý đợc lập bằng văn
bản, thông qua đó ngời tham gia bảo hiểm cam kết nộp phí bảo hiểm để
ngời đợc bảo hiểm hoặc một ngời thứ ba (ngời đợc hởng quyền lợi
bảo hiểm) đợc nhận số tiền chi trả hay bồi thờng từ công ty bảo hiểm khi
phát sinh các sự kiện đợc bảo hiểm theo quy định ngời hợp đồng.
Tính cần thiết của các dịch vụ bảo hiểm:
+
cơ sở lý luận
: Các dịch vụ bảo hiểm ra đời là một hệ quả tất yếu
của nhu cầu đợc bảo hiểm của dân chúng. Nhu cầu bảo hiểm là nguyện
vọng của con ngời muốn cuộc sống của chính bản thân mình, của những cá
nhân trong tổ chức mình, gia đình mình trong tơng lai đợc đảm bảo. Theo
thang bậc nhu cầu của Maslow, nhu cầu bảo hiểm không phải là nhu cầu căn
bản nhất của con ngời nhng là nhu cầu kề cận với nhu cầu cơ bản của con
ngời. Nhu cầu bảo hiểm là một nhu cầu đặc biệt mà đôi khi ngời ta lầm
tởng quyết định mua bảo hiểm là một quyết định tiêu dùng, nhng quyết
định mua bảo hiểm chính là một quyết định tiết kiệm. Cả J.M Keynes và I.
Fisher cũng đều khẳng định rằng thu nhập là nhân tố quyết định của tiêu
dùng và tiết kiệm. Ngời ta sẽ tiết kiệm nhiều hơn khi có thu nhập cao hơn.
Chính vì vậy con ngời ngày càng có nhiều nhu cầu đợc bảo hiểm. Sự ra
ngời điều khiển mô tô, xe máy gây ra chiếm 62,3% tổng số các vụ tai nạn,
do lái xe ô tô gây ra chiếm 26,2%, còn các phơng tiện còn lại gây ra
khoảng 11,4%. Các hiện tợng thiên tai lũ lụt cũng xảy ra thờng xuyên hơn,
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
mức độ thiệt hại to lớn hơn, làm cho mọi ngời luôn luôn lo lắng cho cuộc
sống của bản thân họ, của gia đình họ và của cả những ngời xung quanh.
Chính nhu cầu đợc bảo hiểm của con ngời là cơ sở cho sự ra đời của bảo
hiểm.
Phơng pháp nghiên cứu
:
Trong bài viết này em đã sử dụng một số phơng pháp nghiên cứu cơ bản
sau:
Phơng pháp phân tích: Dựa vào các bài báo su tầm đợc, em phân tích
để thấy đợc các tính chất đặc điểm riêng có của bảo hiểm.
Phơng pháp tổng hợp: toàn bộ nội dung bài viết này đợc tổng hợp từ
nhiều bài báo chuyên ngành nhỏ lẻ, nội dung rời rạc.
Phơng pháp thống kê: nhờ có phơng pháp thống kê, em có thể tổng kết
đợc các số liệu về các ngành bảo hiểm trong hệ thống bảo hiểm Việt Nam.
Ngoài ra, em còn sử dụng thêm các phơng pháp khác: phơng pháp duy
vật biện chứng, phơng pháp mô hình hóa
Nội dung
: Đề án bao gồm các nội dung sau:
Chơng 1: Lý luận chung.
Chơng 2: Thực trạng bảo hiểm Việt Nam.
Chơng 3: Giải pháp.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
II.Nội Dung:
Chơng 1: lý luận chung
1.1. quá trình hình thành và ra đời của bảo hiểm:
lý các quỹ dự phòng của công ty bảo hiểm.
Nguyên tắc quyền lợi có thể đợc bảo hiểm: Quyền lợi có thể đợc bảo
hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản,
quyền và nghĩa vụ nuôi dỡng, cấp dỡng đối với đối tợng đợc bảo hiểm.
Nguyên tắc trung thực tuyệt đối:
Thứ nhất, là đối với ngời tham gia bảo hiểm: đó chính là bổn phận khai
báo đầy đủ chính xác tất cả các yếu tố quan trọng có liên quan để giúp công
ty bảo hiểm giảm chi phí điều tra rủi ro.
Đối với ngời bảo hiểm: Công ty bảo hiểm có nhiệm vụ phải cung cấp
đầy đủ, chính xác những thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải
thích các điều khoản, giải đáp những thắc mắc cho khách hàng.
Nguyên tắc nguyên nhân gần: Nguyên nhân gần là nguyên nhân chủ
động hữu hiệu và chi phối sự việc dẫn đến tổn thất cho đối tợng đợc bảo
hiểm. Công ty bảo hiểm sẽ bồi thờng nếu nguyên nhân gần là nguyên nhân
thuộc trách nhiệm bảo hiểm.
Nguyên tắc bồi thờng và nguyên tắc khoán: Nguyên tắc bồi thờng:
Mục đích của nguyên tắc bồi thờng là khôi phục tình trạng ban đầu hoặc
một phần theo mức độ thiệt hại cho ngời tham gia bảo hiểm. Nguyên tắc
bồi thờng chỉ áp dụng cho bảo hiểm thiệt hại và bảo hiểm trách nhiệm dân
sự.
Nguyên tắc khoán: Ngời ta áp dụng nguyên tắc khoán mà số tiền đợc
ấn định trớc trong các hợp đồng bảo hiểm và tách biệt với khái niệm bồi
thờng. Nguyên tắc này đợc áp dụng trong các nghiệp vụ bảo hiểm con
ngời và bảo hiểm nhân thọ. Nguyên tắc thế quyền đòi bồi hoàn: Khi rủi
ro do một bên thứ ba gây ra và phải gánh chịu một phần tổn thất thì công ty
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
bảo hiểm sẽ bồi thờng đúng giá trị tổn thất. Sau khi đã nhận đủ tiền bồi
thờng, ngời đợc bảo hiểm phải uỷ quyền cho công ty đòi lại phần trách
nhiệm của bên thứ ba gây ra.
Nguyên tắc đóng góp tổn thất: Nguyên tắc này quy định khi các công ty
và chữa bệnh, điều trị nội trú. BHYT có ý nghĩa to lớn: nó giúp những ngời
tham gia bảo hiểm khắc phục khó khăn, góp phần giảm gánh nặng cho ngân
sách nhà nớc, thức hiện công bằng xã hội, nâng cao tính cộng đồng và gắn
bó mọi thành viên trong xã hội. Đồng thời BHYT đã khắc phục đợc hạn chế
của BHXH là: BHYT đợc áp dụng cho mọi đối tợng trong xã hội. Tuy
nhiên, BHYT vẫn còn một số hạn chế: thứ nhất, khách hàng còn ít hiểu biết
về BHYT. Thứ hai, mức độ bảo hiểm còn thấp: bảo hiểm y tế chi trả 80% chi
phí khám bệnh, 20% còn lại ngời bệnh tự chi trả. Thứ ba, thủ tục quản lý
BHYT vẫn còn rờm rà, gây nhiều trở ngại cho khách hàng, chi trả bảo hiểm
không đúng chế độ, có sự mất cân đối giữa chi phí cho khám chữa bệnh
ngoại trú và chữa bệnh nội trú.
c)Bảo hiểm thơng mại
: BHTM hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận.
BHTM là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một hay một số ít ngời dựa vào
một quỹ chung bằng tiền đợc lập bởi sự đóng góp của nhiều ngời thông
qua hoạt động của công ty bảo hiểm. Từ đây, nền kinh tế còn có một nguồn
đầu t đáng kể từ quỹ của các công ty bảo hiểm. BHTM đợc chia thành hai
loại: bảo hiểm nhân thọ (BHNT) và bảo hiểm phi nhân thọ(BHPNT):
*) bảo hiểm nhân thọ
: là loại bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam kết
sẽ trả một số tiền thoả thuận khi có sự kiện quy định xảy ra liên quan đến
tính mạng và sức khoẻ của con ngời. BHNT chi trả trong các trờng hợp
sau: chi trả cho ngời thừa hởng trong trờng hợp ngời đợc bảo hiểm
không may qua đời, chi trả cho ngời bảo đợc bảo hiểm khi hết hạn hợp
đồng, chi trả cho ngời bảo hiểm khi họ bị thơng tật. Phí của một hợp đồng
BHNT thờng căn cứ vào: tỷ lệ tử vong, lãi suất kỹ thuật (là những giả định
về số lãi mà công ty bảo hiểm thu đợc nhờ đầu t khoản phí tạm thời nhàn
rỗi vào các lĩnh vực đầu t khác), các chi phí hoạt động khác của công ty
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
*) bảo hiểm phi nhân thọ
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
vậy, từ năm 2002, hàng năm quỹ BHXH thu không đủ chi, phải dùng quỹ
BHXH tồn tích của những năm trớc để chi tiêu. Dự báo đến khoản năm
2035 thì quỹ BHXH sẽ hết khả năng chi trả.
Hiện nay, BHXH còn đang nỗ lực đóng góp vai trò trong quá trình cải
cách tiền lơng ở Việt Nam. Bởi vì quỹ BHXH đóng góp đợc sử dụng để
chi trả 5 chế độ(xem 1.2.3.a) trong đó có chế độ hu trí và tử tuất. Nâng cao
mức sống của những ngời lao động đã thôi lao động thì BHXH là một mục
tiêu trọng yếu.
Bên cạnh tất cả những vai trò quan trọng trên đây, BHXH vẫn còn tồn tại
rất nhiều hạn chế: hạn chế trong quy chế quản lý thu BHXH, hạn chế ở quy
chế quản lý chi trả các chế độ BHXH, hạn chế về quy chế bảo toàn và tăng
trởng quỹ, hạn chế trong quy chế cân đối quỹ.
2.2) thực trạng ngành bHYT:
Qua đánh giá kết quả 10 năm thực hiện chính sách BHYT(1992-2002)
chúng ta có thể đa ra một số nhận xét khái quát sau:
Số ngời tham gia bảo hiểm tuy có xu hớng tăng nhanh:
Chính sách Bảo hiểm y tế (BHYT) sau gần 10 năm triển khai thực hiện đã
thu đợc những kết quả rất quan trọng . Số ngời tham gia BHYT tăng
nhanh từng năm, tính đến thời điểm năm 2002 đã có 12,7 triệu ngời tham
gia bảo hiểm y tế ,chiếm 16% dân số trong cả nớc. Ngoài khu vực BHYT
bắt buộc, còn có trên 4,2 triệu ngời đang tham gia các chơng trình BHYT
xã hội tự nguyện
0
3.8
9.7
12.7
0
5
10
nay. Bảo Việt đợc thành lập theo quy định số 179/CP ngày 17/45/1964 của
chính phủ và chính thức đi vào hoạt động ngày 15/01/1965. Bảo Việt có trụ
sở chính tại Hà Nội và một chi nhánh tại Hải Phòng. Bảo Việt hoạt động khá
thành công trên thị trờng bảo hiểm Việt Nam.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN
2.3.2) hệ thống các công ty bảo hiểm ở Việt nam.
a) các công ty bảo hiểm nhà nớc:
Tính đến tháng 5/2003, Việt Nam có 18 doanh nghiệp kinh doanh bảo
hiểm: 3 doanh nghiệp nhà nớc, chiếm 75% thị phần, 5 công ty cổ phần, 5
công ty liên doanh, 5 công ty 100% vốn nớc ngoài. Dới đây là một số
công ty điển hình.
*) Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt: hiện nay Bảo Việt là công ty bảo
hiểm lớn nhất Việt nam có chi nhánh và đại lý rộng khắp trên cả nớc. Số
vốn của bảo hiểm cũng rất lớn, tính riêng số quỹ dự phòng bảo hiểm cũng
chiếm trên 2200 tỷ đồng.
*) công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh)
Bảo Minh đợc thành lập theo quy định số 1164 TC/QĐ/TCCB ngày
28/11/1994 và chính thức đi vào hoạt động ngày 20/12/1994. Bảo Minh đợc
thành lập với số vốn đăng ký kinh doanh là 40 tỷ đồng.
b) các công ty bảo hiểm cổ phần:
*) Công ty bảo hiểm Petrolimex (PJICO)
: công ty bảo hiểm
Petrolimex là công ty cổ phần đầu tiên hoạt động trong ngành bảo hiểm đợc
thành lập ngày 15/06/1995 với số vốn kinh doanh ban đầu là 55 tỷ đồng.
c) các công ty bảo hiểm liên doanh
: Gồm 5 công ty:
*) Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế VIA
: Công ty này chính thức
đi vào hoạt động ngày 5/8/1996. VIA là kết quả của sự liên kết thành lập bởi