Gián án D:phan bội châu tầm vóc và những đóng góp - Pdf 79


Tiểu Sử Phan Bội Châu
Phan Bội Châu sinh vào tháng Chạp năm Ðinh Mão, tức là năm Tự Ðức thư 20 (1867),
cha mẹ đặt tên là Phan Văn San. Về sau, vì sợ phạm húy với Hoàng tử Vĩnh San, tức vua
Duy Tân, con thứ của vua Thành Thái, nên đổi lại là Phan Bội Châụ Bội-Châu có nghĩa là
đeo ngọc.
Sinh trưởng trong một gia đình lễ giáo, thân phụ ông là Phan Văn Phổ, một nhà nho chân
chính rất trọng chữ thanh cần. Thân mẫu ông là bà Nguyễn Thị Nhàn, một nữ sĩ được tiếng
là người đức hạnh.
Phan Bội Châu quê ở xã Ðông Liệt, tỉnh Nghệ An. Năm lên 3 tuổi, ông phải theo cha mẹ
về ở nơi quê của nội tổ ở làng Ðan Nhiệm, tổng Xuân Liễm, huyện Nam Ðàn, tỉnh Nghệ
An.
Từ thuở bé, Phan Bội Châu đã được hấp thụ một nền giáo dục rất chặt chẽ nhờ vào sự đảm
đang nuôi nấng, dạy dổ của mẫu thân, nhưng phần lớn cũng nhờ vào sự nghiêm khắc của
thân phụ, lúc bấy giờ làm nghề dạy học.
Phan Bội Châu rất mực thông minh. Năm lên 6 tuổi được cho đi học, chỉ trong ba ngày,
ông học he^'t cuốn Tam Tự Kinh. Lên bảy tuổi học đến sách Luận ngữ, ông đã mô phỏng
để làm cuốn Phan tiên sinh luận ngữ, có ý mỉa mai chúng bạn nên bị phụ thân quở phạt.
Năm 1874, ở Nghệ An có phong trào Văn Thân, dù chỉ mới là một đứa bé lên tám, Phan
Bội Châu cũng muốn noi gương của Trần Quốc Toản xưa đã giúp Hưng Ðạo Vương để đại
phá quân Nguyên ở Bến Chương Dương nêu cao lá cờ phá cường tặc báo hoàng ân nên
ông đã tụ tập bọn trẻ con lại để tập trận giả bằng những súng đạn do chính ông
làm ra.
Năm 1885, hưởng ứng phong trào Cần Vương, Phan Bội Châu tổ chức Sĩ-tử Cần Vương
đội. Nhưng nhận thấy rằng công cuộc Cần Vương chỉ có thể đem lại kết quả tốt đẹp khi
nào người lãnh đạo là một nhân vật có chân khoa bảng xuất thân, nhất là phải có danh
vọng, ông phải đành quay về với lối học cử nghiệp.
Dù rất thông minh và hay chữ, Phan Bội châu thi Hương bao nhiêu lần vẫn trượt. Sở dĩ có
chuyện lạ
như thế vì :
* Lối văn khoa cử không thích hợp với người đã có sẵn một tinh thần cách mạng. Do đó,

vong sang Nhật. Tại đây, Lương Khải Siêu giới thiệu Phan Bội Châu với những vị chính
khách Nhật như Bá tước Ðại Ôi và Khuyển Dương Nghị. Hai vị này khuyên ông nên về
nước mời Kỳ Ngoại Hầu sang Nhật. Sau đó ít lâu, ông lại sang Nhật.
Năm 1906, Kỳ Ngọai Hầu Cường Ðể và nhiều du học sinh sang Nhật. Phan Bội Châu lại
xin cho các du học sinh vào học ở Chấn Võ Học Hiệu và Ðồng Vạn Thư Viện. Cũng trong
năm ấy, ông Phan Chu Trinh sang Hương Cảng và qua Nhật. Hai nhà cách mạng cùng họ
Phan đã gặp nhau và luận bàn quốc sự. Dù Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu có bất đồng
ý kiến, nhưng cả hai đều rất quý mến nhaụ
Cuối năm 1906, Phan Bội Châu lại về nước một lần nữa để dọ đường hầu để chở khí giới
về cho Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế.
Năm 1907, Phan Bội Châu lại trở sang Nhật. Sau khi ký thương ước với Pháp xong (năm
1908) chính phủ Nhật đã ra lệnh trục xuất những nhà cách mạng Việt Nam ra khỏi lãnh
thổ. Phan Bội Châu và các đồng chí phải trở lại Trung Hoa hoạt động.
Năm 1912, do theo lời yêu cầu của các bạn, Phan Bội Châu qua Xiêm (Thái Lan) một thời
gian. Cũng trong năm này, cuộc cách mệnh Tân Hợi của Trung Hoa thành công. Từ Xiêm,
ông trở lại Trung Hoa, lập ra Việt Nam Quang Phục Hội chủ trương theo chính thể dân
chủ.
Năm 1912, Trung Hoa Dân Quốc được thành lập, Phan Bội Châu được đốc quản tại
Thượng Hải là Trần Kỳ Mỹ và đô đốc Auq?ng Tây là Hồ Hán Dân giúp đỡ về tài chánh và
tinh thần. Trong thời gian này, Phan Bội Châu giữ chức quyền Tổng lý Việt-Nam-Quang-
Phục Hội.
Năm 1913, nhân việc ném bom ở Thái Bình HàNoi Hotel, Hội đồng Ðề Hình của thực dân
Pháp xử tất cả 14 án chém, Phan Bội Châu và Kỳ Ngoại Hầu Cường Ðể đứng đầu sổ.
Quân lính ở tỉnh thành Quảng Ðông gây biến, Long Tế Quang đem binh đến dẹp và nhậm
chức đô đốc Quảng Ðông. Vì ăn của lót của thực dân Pháp, Long Tế Quang bắt Phan Bội
Châu giam vào ngục. Chính trong thời gian bi giam giữ, ông đã viết ra tập Ngục Trung
Thư Cuộc thương thuyết của Pháp và Long Tế Quang chưa xong thì chiến cuộc Âu châu
bùng nổ (1914-1918), Long tế Quang bị hạ, đảng cách mạng Trung Hoa cứu Phan Bội
Châu ra khỏi ngục Quảng Châụ
Năm 1914, Phan Bội Châu lập tại Quảng Châu một cơ quan lấy tên là Tâm Tâm Xã dùng

về Pháp, quyết định xin ân xá cho nhà chí sĩ yêu nước. Sau khi được ân xá, Toàn quyền
Varenne đưa Phan Bội Châu về an trí ở miền sông Hương núi Ngự (Huế) gọi là để di
dưởng tuổi già nhưng kỳ thật chúng định giam lỏng ông.
Tuy nhiên, tấm lòng thiết tha yêu nước của ông không vì thế mà chịu lu mờ. Ông đã âm
thầm nhận lãnh chức Cố vấn của Việt-Nam-QuốcDDân Ðảng. Ðã có lần V.N.Q.D.DD định
âm mưu đem ông trốn thoát ra ngoại quốc nhưng không thành vì không sao thoát được sự
dòm ngó của thực dân Pháp.
Năm 1940, khi phái bộ Nhật tiến vào Ðông Dương thì cũng chính là lúc thời cuộc đã
chuyển sang giai đoạn mới cho cuộc Cách mạng dân tộc. Tiếc thay, trong giờ phút nghiêm
trọng của lịch sử này, nhà cách mạng lão thành Phan Bội Châu đã lìa bỏ cõi đời theo tiền
nhân về bên kia thế giới, lưu lại cho hậu thế một tấm gương sáng và nổi niềm thương nhớ
không nguôi.
Trước giờ sắp lâm chung, ông đã cố gắng lấy hết hơi tàn và góp nhặt thần trí, đọc lên một
bài khẩu chiếm có những lời lẽ thống thiết như sau :
Nay đang lúc tử thần chờ trước của
Có vài lời ghi nhớ về sau
Chúc phường hậu tử tiến mau.
Phan Bội Châu mất vào ngày 29/10/1940.
VỀ PHAN BỘI CHÂU TIÊN SINH:
MẤY VẤN ĐỀ XIN ĐƯỢC BÀN LẠI….
Nguyễn Đình Chú
Hẳn là chúng ta đều thấm nhuần quan điểm Mác xít cho rằng: nhận thức
chân lý phải là một quá trình, phải từ chân lý tương đối mà đi gần tới chân lý
tuyệt đối và cũng chẳng có chân lý tuyệt đối. Hay nói theo thuật ngữ của Pháp:
nghiên cứu khoa học là recherche, tức là tìm đi tìm lại, cứ thế mà tìm mãi.
Không ai có thể tự cho đây là tiếng nói cuối cùng.
Với những ý nghĩ như trên, tôi xin được bàn lại một số vấn đề đã và
đang thành vấn đề đối với Phan tiên sinh, con người mà cả dân tộc Việt Nam
ta, không một ai không tôn vinh, riêng Chủ tịch Hồ Chí Minh thì đã suy tôn là
"một bậc anh hùng, một vị thiên sứ, đấng xả thân cứu nước được hai mươi

người tiêu biểu nhất, sáng giá nhất trong phong trào đấu tranh giải phóng dân
tộc đầu thế kỷ XX trước khi có Nguyễn Ái Quốc, có Đảng Cộng sản Đông
dương, với nhiều căn cứ, nhưng trước hết là căn cứ ở đường lối bạo động của
Cụ. Trừ trường hợp chủ tịch Hồ Chí Minh thì đã đặt hai cụ Phan ngang hàng
nhau
(2)
. Rồi người ta cũng lên án ở mức này, mức khác, thậm chí có người cho
là vết đen trong đời cách mạng của Phan Bội Châu vì đã đưa ra chủ trương
Pháp Việt đề huề, tức là từ bỏ con đường cách mạng chỉ vì không bạo động.
Chuyện đã diễn ra trong nửa sau thế kỷ trước là thế. Nhưng gần đây lại
có chiều hướng khác. Khác ở chỗ muốn đề cao đường lối cải lương mà phần
nào hạ thấp đường lối bạo động. Không kể trong dư luận của một số người, chỉ
riêng trên giấy trắng mực đen thì khuynh hướng khác trước này thể hiện là ở
hai bài viết của giáo sư Vĩnh Sính (Việt Kiều) và một bài viết của nhà văn
Nguyên Ngọc
(3)
. Hai ông, đều đề cao Phan Chu Trinh. Riêng Nguyên Ngọc thì
coi Phan Chu Trinh là người có tư tưởng "cập nhật kỳ lạ" của thời đại, mới
đáng gọi là nhà cách mạng của đầu thế kỷ XX. Điều đó đáng để mọi người suy
nghĩ và trao đổi thêm. Nhưng đáng tiếc là hai vị trong khi đề cao cụ Phan xứ
Quảng thì lại đơn giản hóa quá đáng cụ Phan xứ Nghệ. Trong việc đơn giản
hóa này, trực tiếp hoặc gián tiếp chắc là có dựa vào chính lời Phan Châu Trinh
nói về Phan Bội Châu
(4)
. Quả thật, trong bài "Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân
Việt Nam" của Phan Châu Trinh viết trong thời gian mới đến nước Pháp (1911)
để gửi cho Mét xi mi và Xarô là "hai tên đầu sỏ thực dân cầm vận mệnh năm
xứ Đông dương" (Chương Thân), từng viết về Phan Bội Châu lược trích như
sau:
"Phan Bội Châu là người rất có chí khí, có nghị lực, nhẫn nhục, dám

tôi có một số ý kiến như sau:
1. Đã đến lúc phải xoá đi khoảng cách cực đoan giả tạo, phi lịch sử giữa
hai đường lối bạo động và cải lương, để rồi lúc thì đề cao bên này, lúc thì đề
cao bên kia, và ngược lại. Mặc dù, chuyện thích bên này hơn bên kia là chuyện
của cá nhân, chẳng ai có quyền bắt ép ai. Cần nhận rõ, trong thực tế đấu tranh
giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX, quan hệ giữa "ám xã" và "minh xã" là quan
hệ vừa khác biệt, vừa thống nhất. Đọc kỹ lại lịch sử, sẽ thấy rõ điều đó.
2. Cần thấy, ở Phan Bội Châu tuy thiên về bạo động nhưng không hề xa
lạ, ngược lại còn rất gắn bó với phong trào Duy Tân - Cái tên hội Duy Tân mà
Phan Bội Châu cùng Nguyễn Hàm khởi xướng; quan hệ giữa Phan Bội Châu
với Đông Kinh nghĩa tục qua việc dịch thuật tác phẩm của Phan như Hải ngoại
huyết thư, Việt Nam vong quốc sử để làm tài liệu giáo khoa của nhà trường;
quan hệ giữa Phan Bội Châu với nhóm Triêu dương thương quán ở Nghệ An
của Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế, Lê Văn Huân, Đặng Văn Bá từng được
mệnh danh là "minh xã"… đủ nói lên mối quan hệ không mảy may chút đối lập,
ngược lại là sự "hợp đồng tác chiến", là "hai mũi giáp công" giữa Phan Bội
Châu với các chí sĩ Duy Tân đương thời. Trường hợp quan hệ giữa Phan Bội
Châu và Phan Châu Trinh thì quả là có sự khác biệt rõ rệt, một khi Phân Châu
Trinh là người trước sau chống lại con đường bạo động, chống lại chủ trương
cầu ngoại ("bất bạo động, bạo động tắc tử" - "bất vọng ngoại, vọng ngoại giả
ngu"). Và từ sự bất đồng chính kiến này, thái độ, cách nhìn của Phan Châu
Trinh như thế nào về Phan Bội Châu thì những gì được trích dẫn trên đây hẳn
là chúng ta đã rõ phần nào. Phải chăng ở đây có sự phiến diện, sự quá lời từ
một cá tính sống mãnh liệt, sắc sảo, sòng phòng nhưng ít nhiều thiếu sự điềm
tĩnh trong nhất thời. Rất mong lớp cháu con hậu sinh hôm nay với ý thức tư duy
cá thể theo tinh thần của Descartes "Tôi tư duy ấy là tôi tồn tại" (Je pense donc
je suis) sẽ có thái độ khách quan trước những lời của cụ Phan xứ Quảng nói về
cụ Phan xứ Nghệ. Xin hãy xét đến hoàn cảnh phát ngôn của cụ Phan xứ Quảng
là gì? Phương pháp tư duy của cụ là gì? Rồi hãy đọc lại những gì cụ Phan xứ
Nghệ dành cho cụ Phan xứ Quảng, để thấy cách xử sự của cụ Phan xứ Nghệ

nào? Quả thật là chuyện vô cùng khó khăn. Có cái nhất thời cho là đúng, nhưng
với lâu dài là gì? Rõ ràng không đơn giản với những ai có tầm nhìn vĩ mô.
Chuyện giữa hai cụ Phan, ai đúng ai sai? Ai hơn ai kém? đâu phải là dễ có kết
luận cuối cùng. Xin dành để mọi cá nhân tự kết luận. Nhưng điều này thì nói
chắc được, về thái độ, tình cảm cụ Phan xứ Nghệ trước sau vẫn rất quý trọng cụ
Phan xứ Quảng. Chỉ cần đọc lại "Bài văn tế Phan Châu Trinh" (1926) của Phan
Bội Châu với những câu như: "Anh em ta đất rẽ đôi đường/ Tình chung một
khối/ Gánh tồn vong ai cũng nặng nề/ Nghĩa chung thuỷ lòng càng bối rối" thì
thấy rõ cá tính, nhân cách của Cụ. Nhìn nhân Phan Bội Châu mà chỉ thấy trước
sau Cụ chỉ biết có bạo động một cách độc đạo, không thấy Cụ nhất thời thiên
về bạo động nhưng không hề xa lánh ý tưởng cải cách duy tân, không thấy cụ
trong buổi đầu thử thách mình với đường lối bạo động, sau thấy không thành
thì chuyển hướng sang con đường khác, mặc dù bị một loại dư luận, quan điểm
nhất thời lên án nhưng xem ra thời gian lại ủng hộ Cụ.
II. PHAN BỘI CHÂU VÀ CÔNG CUỘC ĐÔNG DU
Nếu tôi không lầm thì ở đây đã có một nghịch lý đáng nói. Bởi với
phong trào Đông du thì cho đến nay, sử sách hầu như chỉ có tán dương, đề cao,
cùng với việc đề cao các phong trào Duy Tân, phong trào Đông Kinh nghĩa
thục, phong trào chống thuế, Việt Nam quang phục hội… nhưng với Phan Bội
Châu, là lãnh tụ của phong trào Đông du thì lại bị chê trách phê phán, vì đã dựa
vào Nhật Bản. Lại không ai khác, chính Phan Châu Trinh là người lên tiếng phê
phán đầu tiên cũng trong tác phẩm "Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam"
như sau:
"Ngày nay, có kẻ danh sĩ trong nước, tự phụ yêu nước, chẳng biết đem
hết sức ở trong mà đề xướng quốc dân, không có phương châm gì, chạy bậy ra
nước ngoài, như sư tử ngủ mê không có sức, tô vẽ non sông để theo kẻ quyền
mạnh, nói năng bậy bạ, không để ý tới lợi hại, kịp muốn mời một nước thứ ba
miệng Phật lòng rắn, chẳng có đạo người, đem cả tính mệnh mà giao kết cho
thì sau mới thấy làm thích".
Sau này, cũng tiếp tục sự phê phán đó bằng một luận điểm quen thuộc

bác nhanh chân trong trường đi săn. Bắt đầu khi liệt cường đua nhau dúng tay
cầu lợi ở Trung Hoa thì Nhật Bản đã vớ trước ngay được mấy miếng thịt béo là
Đài Loan và Nam mãn, đến bây giờ thì cả vùng Phúc Kiến và Sơn Đông đã
hình như ở trong túi người Nhật. Nhưng cái lòng tham lam hăng hái của người
Nhật, được thế phỏng đã lấy làm no chán chăng!... Nay tôi lại thử đặt mấy vấn
đề này để ngỏ cùng người Nam:
Người Nhật lấy được Việt Nam, người Nam phỏng dám vin cái lẽ là Tổ
quốc mà đòi lại ở trong tay ông khách cường ngạnh kia không? Tôi biết rằng
không khi nào dám. Nay thử xem Cao Ly, Đài Loan, cái hùng hiểm người Nhật
có phần lại gấp trăm nghìn ông bảo hộ hiện tại ngày nay đó. Đó là điều thứ
nhất.
Người Nhật lấy được Việt Nam, người Nam phỏng còn dám mong có
ngày tự chủ độc lập hay không? Tôi biết rằng không khi nào dám. Nước Pháp
xa cách nước Nam, kể có muôn nghìn dặm bể, thế mà năm mươi năm nay,
không hề bao giờ thoát khỏi được vòng ràng buộc, huống chi vào tay người
Nhật ở kề cửa liền nhà kia, chiến hạm, sư đoàn, sớm đi tối đến, thì do đó bọn
người Nam liệu có thể giơ tay cất chân được nữa chăng. Đó là điều thứ hai.
Việt Nam thuộc quyền người Nhật phỏng người Nhật có chịu để chút
cơm thừa canh cạnh nhường cho người Nam lót dạ hay không? Tôi biết rằng
không khi nào có được cái hy vọng ấy. Đất nước Nhật Bản hẹp xấu mà nhân
khẩu nhiều, cố liều chết tìm đất thực dân, túi tham vơ vét vẫn chưa đủ, còn đâu
thừa thãi bố thí cho ai. Đó là điều thứ ba"…
Những lời lẽ trên đây về Nhật Bản dù là có phần viết ra để doạ, để ép
thực dân Pháp phải thực bụng đề huề, đảm bảo quyền lợi cho đất nước Việt
Nam của mình, nhưng không phải là không đúng với sự thật cường bạo của
Nhật Bản đang trên đường phát xít hoá, mưa toan "hùng bá Á Châu". Chuyện
là như thế, thì khó nói là "đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau". Một nhà cách
mạng có văn hoá lớn, có trí tuệ lớn như Phan Bội Châu chả lẽ lại không biết
"tương kế tựu kế" sao! Phan Bội Châu chẳng đã tuyên bố: "đối với tôi có một
mục đích duy nhất là giành được độc lập dân tộc, còn chủ nghĩa gì cũng chỉ là

giản hoá nội dung, cũng có thể nói là ít nhiều cố tình không hiểu đúng thực chất
của nội dung đề huề đó là gì? cụ thể là:
a. Cho rằng Phan Bội Châu sau 1918 chỉ còn lại là chủ trương đề huề
với thực dân Pháp, có nghĩa là từ bỏ con đường cách mạng. Trong khi, như trên
đã nói ở Phan là có sự chao đảo giữa hai con đường đề huề và bạo động. Về
khuynh hướng bạo động, cứ đọc lại luận văn "Thiên hồ, đế hồ" của Cụ viết năm
1923, đáng được ghép đôi với "Bản án chế độ thực dân Pháp" của Nguyễn Ái
Quốc viết năm 1925, để coi đó là hai bản án buộc tội kẻ thù thực dân Pháp sắc
sảo nhất, tập trung nhất trong văn chương chính luận của văn học chống Pháp
trước 1945; cứ tìm hiểu kỹ vào nội dung văn chương khác của Phan Bội Châu
với nhiều thể loại trong đó có thể loại liệt truyện về các chí sĩ chống Pháp, về
Lê-nin (vị tổ sư của cách mạng vũ trang của thế giới)… thì không thể nói là sau
khi có "Pháp Việt đề huề chính kiến thư", Phan Bội Châu đã đoạn tuyệt hẳn với
tư tưởng bạo động. Với Phan Bội Châu, làm cách mạng, tiến hành công cuộc
cứu nước như đã nói là phải tương kế tựu kế, phải dùng nhiều phép thử - thử cái
này không được, thử sang cái khác, cái khác được không lại thử lại cái này. Tôi
nghĩ đó là điều cần thiết của nhà cách mạng trước sự nghiệp cứu nước vốn là
vô cùng khó khăn. Cái gọi là kiên định lập trường cần có là lòng quyết tâm cứu
nước đến cùng, chứ không phải ở thủ đoạn cách mạng. Phải chăng chân lý là
vậy.
b. Qua các văn bản trực tiếp nêu lên chủ trương đề huề của Phan Bội
Châu, người đọc không bị định kiến phiến diện sẽ thấy rõ: Trong khi chủ
trương đề huề, Phan Bội Châu đã tự coi đó là một bước tiến trên con đường cứu
nước của mình là "bỏ cái chủ nghĩa cũ kỹ, dã man cách mạng mà mưu toan
chủ nghĩa mới mẻ văn minh cách mạng"
(7)
, coi đường lối bạo động trước đó
mình đã đi "chính là bậc thang, chặng đường cho người làm cách mạng tất
phải đi qua vậy"
(8)

xứ Nghệ, trong đó có chiều hướng càng ngày càng xích gần với mình, để từ đó
ít nhiều hạ thấp cụ Phan xứ Nghệ mà trên đây đã nói tới. Kể ra ở đời, hiểu nhau
cho thấu đáo cũng là khó, ngay cả với các vĩ nhân.
3. Quả thật chung quanh vấn đề bạo động hay cải lương, đề huề, việc
nhận thức của người đời thời nay là không dễ gì thống nhất trong hoàn cảnh đất
nước đã đổi mới, ý thức dân chủ trong đó có sự phát triển của tư duy cá thể
(hiểu theo nghĩa chân chính). Người nghĩ thế này. Người nghĩ thế khác. Giữa
chính thống và phi chính thống ít nhiều cũng có sự khác nhau. Vấn đề là phải
tìm thêm một cách hiểu sao cho có sức thuyết phục hơn, có lý lẽ hơn. Tôi xin
thử đưa ra một cách hiểu thế này để xin ý kiến của các bậc cao minh cao kiến
xem sao nhé. Theo tôi, cuộc sống của một dân tộc, để tồn tại và phát triển,
không chỉ có một quy luật là độc lập (l'indépen dance) mà còn có một quy luật
nữa là sự phụ thuộc lẫn nhau (l' interdépendance), không kể còn nhiều quy luật
khác. Những gì đang diễn ra trên đất nước ta hôm nay ở mọi lĩnh vực: kinh tế,
chính trị, văn hoá, ngoại giao, quân sự đã thể hiện hai quy luật đó một cách rõ
ràng mà ai cũng đã thấy, mặc dù trong quá khứ, hai quy luật đó ít nhiều cũng đã
diễn ra. Tuy nhiên, trong nhận thức thì có thể nói là trước đây, đặc biệt là trong
thời kỳ chiến tranh hầu như chúng ta chỉ nhận thức về quy luật thứ nhất mà bỏ
qua quy luật thứ hai. Trở lại với lịch sử nước nhà từ ngày bị thực dân Pháp xâm
lược thì thấy rõ rằng: các thế hệ người Việt Nam ưu tú nhất ở nửa sau thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX, từ 1930 đến 1945, chưa kể từ 1945 đến 1975 đã với lòng
yêu nước cao cả, chí căm thù giặc mãnh liệt, anh dũng lãnh đạo nhân dân quyết
chiến với kẻ thù để giành độc lập, mà lịch sử đã, đang và sẽ muôn đời ngợi ca,
dù đã phải trải qua nhiều thất bại mới đi đến thắng lợi. Bên cạnh đó, lại có một
số người Việt Nam, không nhiều, đã đáng coi là ưu tú hay chưa, xin tuỳ, nhưng
thực tế họ đã không đi theo quy luật giành độc lập dân tộc bằng vũ trang chiến
đấu, mà đã đi theo quy luật interdépendant (phụ thuộc lẫn nhau), tạm chấp nhận
sự đô hộ của ngoại bang, nhưng vừa hết lòng vừa bằng tài năng trí tuệ ưu việt
của mình, tìm mọi cách khai thác, tận dụng những điều khả thủ từ chính phía kẻ
thù vốn có nền văn minh hiện đại, cao hơn hẳn trình độ nước nhà, để từ đó tạo

mà lên án cụ một cách nặng nề như từng có. Để rõ thêm vấn đề, tôi xin phép
được nói thêm rằng: ngay ở Hồ Chí Minh, vốn là vị lãnh tụ của phong trào giải
phóng dân tộc bằng đường lối vũ trang bạo động và thắng lợi vẻ vang thì cũng
không hề cứng nhắc, cực đoan, chủ trương bạo động. Không phải không có lúc
Người đã có chủ trương thuộc về quy luật phụ thuộc lẫn nhau để rồi bị kẻ thù
của mình bù lu bù loa, cho là người bán nước, nhưng nhân dân, lịch sử thì lại
biểu dương, ngợi ca là thiên tài chính trị. Đó là việc Người ký Hiệp ước 6/3 và
Hiệp ước Phông-ten-bờ-lô (1946) tạm chấp nhận Việt Nam đứng trong Liên
hiệp Pháp. Vậy sao không lấy chuyện cụ Hồ để nghĩ về cụ Phan.
YêChuyện ít biết về hậu duệ của Phan Bội Châu
GiadinhNet - Nhắc đến Phan Bội Châu, hầu hết các tài liệu lịch sử đều viết về những
đóng góp của cụ với đất nước mà ít đề cập đến khía cạnh gia đình, con cháu trực hệ.
Nhân dịp 70 năm ngày mất của Phan Bội Châu (10/1940 - 10/2010), chúng tôi đã được gặp
gỡ nhiều thành viên của gia đình để hiểu rõ hơn về cuộc đời, con cái, đặc biệt là thông tin
về bà chánh Huyên - người vợ đầu của cụ…

Hai người phụ nữ phía sau con đường cách mạng
Bà Phan Thị Thanh, cháu nội của cụ Phan Bội Châu kể với chúng tôi về những điều bà
được nghe, được chứng kiến về cuộc sống của ông - bà nội mình. Theo bà Thanh, cụ Phan
Bội Châu kết hôn với bà Thái Thị Huyên, quê ở huyện Yên Thành, Nghệ An. Bà Huyên
làm dâu nhà họ Phan nhiều năm nhưng vẫn không có con, nên gia đình họ Phan khá sốt
ruột (5 đời nhà họ Phan đều độc đinh). Sau đó, bà Huyên tình nguyện cưới vợ thứ cho
chồng là bà Nguyễn Thị Em, người ở huyện Nam Đàn (Nghệ An).

Cụ Phan Bội Châu lúc sinh thời
Bà Thái Thị Huyên vốn là người phụ nữ tảo tần, sinh thời làm nghề buôn vải từ Nam Đàn
lên các huyện miền núi. Khi cưới vợ thứ cho chồng, bà và bà Em khá hoà thuận, thương
yêu nhau. Sau khi về làm vợ cụ Phan, bà Đặng Thị Em sinh được một người con trai. Dù
là con trưởng nhưng cụ Phan lại đặt tên là Phan Nghi Đệ. Bà Em sinh thêm một người con
gái nữa tên là Phan Thị Cương. Còn bà Huyên, 3 năm sau ngày cưới vợ lẽ cho chồng, đã

liên lụy. Thật may mắn, ông Huynh được ông Đặng Thai Mai giới thiệu lấy một người họ
hàng tên là Đặng Thị Liễu.
Bà Đặng Thị Liễu sinh ra được 2 người con trai và 2 người con gái là bà Phan Thị Huy (đã
mất), bà Phan Thị Thanh, ông Phan Viết Hồ và ông Phan Viết Liễn (đã mất). Ông Huynh
sau này xe duyên thêm với một người phụ nữ khác là bà Hoàng Thị Thiện. Bà Thiện sinh
được 2 người con là bà Phan Thị Liên và bà Phan Thị Lục.
Cũng theo thứ bậc thì ông Hồ chính là cháu đích tôn của cụ Phan Bội Châu, mặc dù ông ít
tuổi hơn so với một số người con của ông Phan Nghi Đệ. Cái tên "Phan Viết Hồ" chính do
cụ Phan Bội Châu đặt trước khi ông được thành hình hài.
Ông Phan Viết Hồ sinh năm 1941, đến năm 1953 ông cùng người em là Phan Viết Liễn
được sang Trung Quốc học tại trường Thiếu sinh quân. Sau này ông Hồ kinh qua các chức
Phó Giám đốc Công ty xây dựng bảo tàng Hồ Chí Minh, Phó Hiệu trưởng trường Công
nhân kỹ thuật Việt Xô... Hiện gia đình ông trú tại đường Tôn Thất Tùng, Hà Nội.

Cụ Phan Bội Châu lúc sinh thời.
Phan Bội Châu sinh ngày 26/12/1867, quê ở làng Đan Nhiễm (nay là xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn, Nghệ An). Lúc nhỏ, cụ
nổi tiếng thông minh. Năm 1900, cụ đỗ thủ khoa trường Nghệ và chính thức bước vào cuộc đời hoạt động trong các phong
trào yêu nước.

Đầu năm 1905, cụ sang Nhật Bản rồi quay về dấy lên một phong trào Đông Du vào năm 1905-1908. Khoảng tháng 3/1909, tổ
chức Đông Du bị giải tán và cụ Phan bị Chính phủ Nhật trục xuất. Sau một thời gian hoạt động cụ Phan bị thực dân Pháp nhờ
bọn quân phiệt Trung Quốc bắt giam ngày 24/12/1913.

Ngày 30/6/1925, trên đường từ Hàng Châu về Quảng Châu, Phan Bội Châu vừa đến ga bắc Thượng Hải thì bị thực dân Pháp
bắt cóc đem về nước, bị giam lỏng ở Bến Ngự (TP Huế).

Mặc dù phải sống cuộc đời "cá chậu chim lồng", nhưng cụ vẫn làm thơ văn để nói nỗi khổ nhục của người dân mất nước,
trách nhiệm của người dân đối với nước...
Phiên tòa lịch sử xét xử Phan Bội Châu
Bùi Quang Minh tổng hợp

Républicaine bài lên tiếng công khai bênh vực Phan Bội Châu, yêu cầu khoan hồng cho nhà chí sĩ chỉ có “một tội” là “tội yêu
nước như bất kỳ người Pháp nào yêu nước Pháp” (Chính Đạo: Hồ Chí Minh con người có huyền thoại, tập 2, 1925-1945, Văn
hóa, Houston, Mỹ, trang 49, chú thích 8).
- Tháng 9/1925, trong dịp Varenne (Va-ren) sang Đông Dương nhận chức Toàn quyền… Nguyễn Ái Quốc đã viết bài “Những
trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu” nhằm mục đích cổ động phong trào đòi trả lại tự do cho cụ Phan Bội Châu, vạch trần
chủ trương bịp bợm, xảo trá của chủ nghĩa thực dân Pháp, làm cho người Pháp tiến bộ thấy rõ tinh thần yêu nước của dân Việt
Nam.
- Một phong trào bãi khóa, bãi công, bãi thị rầm rộ khắp cả nước, mức độ chưa từng thấy ở Việt Nam đòi thả Phan Bội Châu.
Thông tin liên quan:
Bảo vệ quyền con người trong
tố tụng hình sự
10/12/2010
Cụ Phan Bội Châu đóng phim
ở Huế năm 1926
03/12/2010
100 năm nhìn lại Duy Tân hội
và phong trào Đông Du của
Phan Bội Châu
25/06/2010
Thử nhìn lại vị trí của Phan
Bội Châu và Phan Châu Trinh
trong hành trình dân tộc vào
thế kỷ XX
07/04/2009
Quan niệm của Phan Bội Châu
về dân quyền (*)
01/12/2008
Quan niệm của Phan Bội Châu
về bản tính của con người
13/06/2007

đối với dân xa cách nhau, ức chế
nhau, lại tệ dân tình không có cách gì
thượng đạt. Nhờ có chính phủ bảo hộ
là một nước văn minh, nói rằng sang
khai hóa cho, tôi đã chắc rằng dân
Giao Chỉ mấy ngàn năm đã đến kỳ
mở mày mở mặt.
Chẳng ngờ, chính phủ sang cai trị 20
năm mà chính sách không có điều gì
thay đổi. Đến năm 1904 mà Trung,
Bắc Kỳ chỉ có hai trường, trường Hà
Nội và trường Huế, mà là trường chỉ
dạy làm thông ngôn. Người du học
không cho, lối thi cũ vẫn để, hình luật không chịu thi hành hình luật Pháp, quan tham, lại nhũng hối lộ công hành. Tôi là người
Nam, tôi muốn đánh thức cho dân tộc Việt Nam. Tôi thấy thế sinh ra cái tư tưởng phản đối chính trị. Nếu mà tôi, trong tay có
mấy trăm vạn hải quân, mấy mươi vạn lục quân, binh tinh, lương túc, súng đủ, đạn nhiều, tàu chiến có, tàu bay có, thì có lẽ tôi
hạ chiến thư, đường đường chính chính đánh lại với chính phủ thực.
Thế nhưng tôi là một kẻ thư sinh, túi không có một đồng tiền, tay không có một tấc sắt, không thể lấy vũ lực mà phản đối được.
Vậy tôi chỉ dụng văn hóa, nghĩa là trước thư lập ngôn để cổ đng nhân dân, yêu cầu chính phủ cải lương chính trị. Chẳng ngờ
chính phủ ngờ vực bắt bớ, tôi phải trốn ra ngoại quốc để hành động cho đoạt cái mục đích của tôi.
Tôi có chiêu tập các bạn đồng chí, gom tiền góp sức để phái người đi du học, và làm sách gửi về cho nhân dân. Việc làm của
tôi chỉ là dụng cái lưỡi và ngòi viết, mục đích của tôi chỉ là cải lương chính trị, cử động của tôi rất là chính đại quang minh.
Nếu tôi là người có tội thì tôi chỉ có 4 tội như sau:
1. Chính phủ sang bảo hộ nước Nam, không có ai phản đối, mà mình tôi phản đối, muốn cho nước Nam độc lập.
2. Nước Nam xưa nay là chính thể chuyên chế mà tôi muốn cho nước Nam thành một dân quốc.
3. Nhà nước cấm không cho người đi du học ngoại quốc mà tôi trốn đi và rủ người đi ngoại quốc.
4. Tôi trước thư lập ngôn để cổ động dân Nam thức dậy, yêu cầu chính phủ cải lương chính trị, làm hết cái thiên chức khai hóa
của mình. (Phan Bội Châu -Thân thế và thơ văn - của Thế Nguyên)
Tới đây tòa lại hỏi:
- Ông phản đối chính trị của chính phủ bảo hộ hay là chính trị của nước Nam?

khẩu đồng từ, đều nói tại ông xúi giục chủ trương. Bao nhiêu công việc họ làm đều là tội ở ông cả. Những người ấy vì ông sai
khiến quyến rũ mà đến nỗi thế. Thế mà hỏi thì ông chối. Nhiều việc khác trong khi dự thẩm, khi thì ông đổ lỗi cho ông Nguyễn
Thượng Hiền, khi thì ông đổ lỗi cho Cường Để. Xem đấy đủ biết cái cách chống chế của ông không khéo, không có can đảm,
không phải là người anh hùng…” (Lời của quan tòa người Pháp)
Quan tòa thực dân Pháp cho rằng Phan Bội Châu không phải là một anh hùng khi ông ngụy biện, chối tội –, Phan Bội Châu đã
thú nhận về “chiêu bài phù Nguyễn”, cụ thể là phù Cường Để của mình:
“Tôi phản đối chính trị cố nhiên là phải cần có người, cần có của, và phải lợi dụng ông Cường Để, cho người trong nước, đã
in sâu cái óc quân chủ, vui lòng giúp rập. Điều đó tôi không chối.
Đến như hội “Duy Tân” thì là một học hội. Tôi có chiêu tập hàng thiếu niên anh tuấn trong nước ra ngoài cầu học. Ông
Cường Để làm hiệu trưởng mà tôi thì làm giám đốc. Một hội như thế, có việc gì đáng tội đâu. Chẳng may chính phủ Nhật Bản
cấm cách, chúng tôi phải trở về Tàu. Cái hội “Việt Nam Quang Phục” là người Tàu thương chúng tôi mà dung cho, trong đó
có cả người Tàu, song nói rằng có ông Nguyễn Thượng Hiền thì thật là oan cho ông ấy quá. Điều đó tôi không chịu. Bấy giờ
ông Nguyễn Thượng Hiền ở Sơn Tây chớ có ở Quảng Đông đâu! Vả chăng mục đích hội cũng chỉ là cầu học. Tôi định cổ
động cho trong nước có nhiều người du học; khi có nhiều tay trí thức, bấy giờ mới yêu cầu chính phủ Bảo hộ trả lại quyền tự
trị, lập thành một nước dân quốc. Trước sau tôi vẫn chủ trương dùng văn hóa mà phản đối chính trị, văn hóa không xong thì
tôi mới dùng đến võ lực. Chính trị còn một ngày bất lương, tôi còn một ngày phản đối. Chính trị mà có một ngày cải lương thì
lập tức tôi đình chỉ sự phản đối ấy ngay” (Lời cãi trước tòa của Phan Bội Châu)
Cường Để (1882-1951) là cháu trực hệ của hoàng tử Cảnh, tức là cháu đích tôn 6 đời của vua Gia Long. Vì dòng dõi hoàng
thân nhà Nguyễn, nên nhiều nhà ái quốc như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu đã có kế hoạch liên lạc với gia đình ông để
lập lại ngôi vua, thay vua Khải Định vì vị vua này hợp tác với thực dân Pháp. Năm 1906 Phan Bội Châu cùng ông trốn sang
Nhật cổ động phong trào Đông Du. Ông có tư tưởng quân chủ lập hiến và nhận làm người lãnh đạo Việt Nam Phục quốc
Đồng minh Hội.
Trong những đoạn tranh luận khá đanh thép với quan tòa thực dân Pháp, Phan Bội Châu vẫn tiếp tục khẳng định “chủ nghĩa
Pháp – Việt đề huề” của mình:
“Cái tên Phạm Văn Tráng về đây tôi mới biết. Trong hội “Việt Nam Quang Phục” không có tên người ấy. Một người không
quen biết bao giờ khi nào lại có thể lấy cái quan tước, cái phú quý mười phần chưa chắc chắn phần nào mà dụ người ta làm
những việc như việc ném bom, là sự mười phần chắc chết cả mười được. Họ đổ cho tôi là chủ sự, chẳng qua là họ nghe tiếng
tôi ra nước ngoài viết báo làm sách, ai ai cũng biết, và nếu những người ấy có quả thật là người trong đảng tôi nữa, thì đầu
đảng tôi là ông Cường Để, chủ sự tất tự ông Cường Để chớ sao lại tự tôi? Còn những việc mà tôi nói tự ông Cường Để, tự
ông Nguyễn Thượng Hiền là sự thật.

khuyên đồng bào nên từ bỏ hẳn lối bạo động, lối võ lực, theo gương Arabie và Phi Luật Tân, có tiến lên bằng văn hóa thì
người Pháp phải cho tự trị. Cuốn thứ hai là “Pháp - Việt đề huề luận”, trong đó cụ khuyên người Nam nên đồng lao cộng
tác với người Pháp.
Trong cuốn sách này cụ có đoán rồi sau này thế nào cũng có một cuộc Pháp – Nhật chiến tranh, và khi đó người Việt Nam
phải thế nào? Cụ khuyên đồng bào nên đi đôi với Pháp mà chống lại Nhật, không phải về võ bị Nhật có kém gì người Pháp,
nhưng cụ viện ra bốn lẽ sau đây…”. […]
Bởi vậy cụ Phan khuyên người Việt nam phải đồng tâm với Pháp vì họ đãi mình được công bằng nhân đạo hơn. […]
Như thế chẳng phải là một bằng chứng xác thực là cụ đã biến cải cái ý tưởng trước kia của cụ đấy hay sao? […]
Như vậy thời lúc này chẳng phải là lúc nên đem cái ý kiến Pháp - Việt đề huề của cụ Phan đã khuyên người đồng bang ra mà
thực hành hay sao?"
Bona còn nói thẳng, việc tha bổng cho Phan Bội Châu là một “hành động chính trị khôn khéo”: “Thưa các Ngài, các Ngài nên
dung thứ cho cụ Phan Bội Châu, vì như vậy, chẳng những các Ngài đã làm được một hành động quảng đại đối với lương tâm,
mà các Ngài còn làm được một hành động chính trị khôn khéo nữa, và do đó, người Pháp chúng ta, ai là kẻ thức giả cũng
phải đem lòng mến phục các Ngài” (lời bào chữa của trạng sư Bona)
Luật sư Bona (người Pháp) cũng đã xưng tụng cụ như sau: “Cụ Phan là người quả không hổ là kẻ ái quốc chân chính. Dù tôi là
người Pháp, đối với cụ Phan tôi cũng phải ngưỡng mộ. Tôi ngưỡng mộ là ngưỡng mộ cái thân thế quang minh, cái tinh thần
cao thượng, cái nghị lực bất di, bất khuất đã chứng tỏ ra trong việc làm của cụ”.
Phiên tòa xử đã kéo dài từ 8 giờ 25 sáng đến 8 giờ tối, tòa mới nghe xong lời bị cáo và lời biện hộ của luật sư.
Cuối cùng, sau một ngày xét xử, Hội Đồng Đề Hình vào trong nghị án. Do lo sợ hậu quả của vụ án nếu xét xử tử hình nên Hội
đồng ra tuyên án: Khổ sai chung thân. (Nguyễn Quang Tô: Sào Nam Phan Bội Châu con người và thi văn, tủ sách Văn học, bộ
Văn hóa Giáo dục và Thanh Niên, Sài Gòn 1974).
Trước bản án khổ sai chung thân của cụ Phan, một phong trào đòi ân xá cụ Phan đã bộc phát khắp nơi. Xin ghi tóm tắt một số
cá nhân và đoàn thể:
1. Điện văn của luật sư Bona và Larre cùng ông Clement, chủ nhiệm báo Argus Indochinois gửi toàn quyền Varenne. Phần đầu
điện văn viết: ‘Với tư cách ký giả báo chí, tôi đã theo dõi các diễn tiến phiên tòa đặc biệt xử án nhà ái quốc Phan Bội Châu ...
Rất xúc động trước phán quyết của tòa án. Phần lớn người Pháp và An Nam hiện diện tại phiên tòa cũng xúc động như tôi.
Hầu nâng cao thời đại của ngài và dư luận được trấn tĩnh, dám xin ngài gia ân cho nạn nhân của chế độ thuộc địa này’.
2. Ban Trị Sự hội Trung Kỳ Tương Tế ở Hà Nội gửi điện văn xin ân xá cụ Phan và toàn quyền Varenne đã trả lời, đại ý là sẽ
xét lại hồ sơ vụ án và sẽ thi hành một chế độ khoan hồng.
3. Nữ giáo viên và nữ sinh Đồng Khánh Huế đã gửi điện văn cho toàn quyền Varenne với nội dung: ‘Chúng tôi, tất cả nữ giáo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status