Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Trong công cuộc đổi mới, kinh tế Việt Nam đã đạt đợc nhiều thành tựu
to lớn. Tốc độ tăng trởng kinh tế cao nhất từ trớc tới nay. Trong 10 năm GDP
tăng bình quân là 7,5%, cơ cấu kinh tế đã có một bớc chuyển dịch đáng kể,
chính sách mở cửa và hội nhập thành công phù hợp với xu thế thời đại. Đời
sống của đại bộ phận nhân dân đợc cải thiện rõ rệt. Đặc biệt là trong lĩnh vực
công nghiệp: giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân là 12,9%, cơ cấu
công nghiệp đã có bớc chuyển đổi theo hớng đẩy mạnh xuất khẩu, từng bớc
phù hợp với xu thế của thế giới.
Vì vậy chuyển dịch cơ cấu công nghiệp mạnh mẽ theo hớng hội nhập
kinh tế là một yêu cầu khách quan và có ý nghĩa chiến lợc đối với nền kinh tế
Việt Nam trong giai đoạn tới. Nhận thức sâu sắc về vấn đề này, em quyết định
chọn đề tài nghiên cứu:
"Định hớng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu công nghiệp Việt Nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế "
Mục tiêu của đề tài: Trớc hết nhằm nghiên cứu những lý thuyết cơ bản
về phát triển công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu công nghiệp. Trên cơ sở đánh
giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu công nghiệp trong thời kỳ đổi mới. Từ đó đa
ra những tồn tại trong thời kỳ đổi mới cần giải quyết.
Với mục tiêu đó, kết cấu của đề tài gồm 3 phần chính:
Phần I: Sự cần thiết khách quan phải giải chuyển dịch cơ cấu công
nghiệp trong điều kiện hội nhập khu vực và thế giới.
Phần II: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu công nghiệp Việt Nam giai
đoạn 1990 - 2004.
Phần III: Định hớng chuyển dịch cơ cấu công nghiệp Việt Nam trong
điều kiện hội nhập đến năm 2010.
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
chơng I
sự cần thiết khách quan phải chuyển dịch
- Nhóm ngành công nghiệp và xây dựng.
- Nhóm ngành dịch vụ.
Xu hớng có tính quy luật chung của sự chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế củ một quốc gia là chuyển dịch theo hớng công nghiệp hoá,
nghĩa là tỷ trọng và vai trò của ngành công nghiệp và dịch vụ có xu h-
ớng tăng nhanh hơn, còn tỷ trọng và vai trò của ngành nông nghệp có
xu hớng giảm.
Cơ cấu kinh tế lãnh thổ. Nếu cơ cấu ngành kinh tế hình
thành từ quá trình phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản
xuất thì cơ cấu kinh tế lãnh thổ. Xuất phát rừ sự khác nhau về điều kiện
tự nhiên, địa lý, điều kiện xã hội Mà mỗi vùng lãnh thổ có điều kiện,
u thế khác nhau. Chính có sự khác nhau, nhằm phát huy thế mạnh của
mỗi vùng. Cơ cấu lãnh thổ hình thành cơ cấu liền với cơ cấu ngành.
Việc phát triển kinh tế lãnh thổ và hình thành cơ cấu kinh tế lãnh thổ
phải đảm bảo sự hình thành và phát triển có hiệu quả kinh tế lãnh thổ
phải đảm bảo sự hình thành và phát triển có hiệu quả của các ngành
kinh tế theo một có cấu hợp lý trên phạm vi cả nớc.
Trong xu thế hội nhập kinh tế ngày nay càng sâu rộng, thì điều
quan trọng là phải giải quyết tốt việc phân bổ sản xuất theo lãnh thổ
kết hợp với phân công lao động trong các ngành kinh tế nhằm phát huy
lợi thế đất nớc và tạo thế mạnh của các mặt hàng tham gia thơng mại
quốc tế. Có nghĩa là sự phát triển vùng trên phạm vi cả nớc; phát triển
của mỗi vùng không đợc làm ảnh hởng tới phát triển của vùng khác và
của cả nớc.
Cơ cấu thành phần kinh tế. Nếu nh sự phát triển đi lên của
kinh tế - xã hội cùng với quá trình phân công lao động xã hội và bố trí
lực lợng sản xuất theo lãnh thổ là cơ sở hình thành cơ cấu lãnh thổ, thì
chế độ sở hữu lại là cơ sở hình thành cơ cấu thành phần kinh tế. Một cơ
cấu thành phần hợp lý sẽ thúc đẩy phát triển nhanh lực lợng sản xuất,
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Thứ nhất:Chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ tạo điều kiện thực hiện
các mục tiêu kinh tế- xã hội đã đợc vạch ra trong chiến lợc của đất nớc
cũng nh của từng ngành, từng địa phơng.
Thứ hai: Nhằm khai thác đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả nhất các
nguồn lực phát triển, nhằm phát huy lợi thế so sánh, cho phép tạo ra
các cực tăng trởng nhanh.
Thứ ba: Tạo điều kiện mở đờng, thúc đẩy lực lợng sản xuất phát
triển, thúc đẩy sự phân công lao động giữa các ngành, vùng lãnh thổ và
cá thành phần kinh tế.
Thứ t: Đảm bảo tăng cờng sức mạnh về bảo vệ quốc phòng an
ninh góp phần quan trọng vào sự ổn định chính trị kinh tế đất nớc.
Thứ năm:Tạo điều kiện cho nền kinh tế nhanh chóng hội nhập
vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
1.4 - Các nhân tố cơ bản tác động tới quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế:
Sự hình thành cơ cấu kinh tế của một quốc gia chịu sự tác động
của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan hết sức phức tạp. Các nhân
tố này có thể chia thành hai nhóm sau:
Nhóm các nhân tố khách quan bao gồm:
Các nhân tố về điều kiện tự nhiên: tài nguyên thiên nhiên,
khoáng sản, vị trí địa lý, các nguồn năng lợng ảnh hởng của điều kiện
tự nhiên đối với việc hình thành cơ cấu kinh tế mang tính trực tiếp.
Các nhân tố kinh tế - xã hội bên trong của đất nớc, nhu cầu thị tr-
ờng, dân số và nguồn lao sđộng, trình độ phát triển của lực lợng sản
xuất, trình độ quản lý, hoàn cảnh lịch sử của đất nớc. Tiến bộ khoa học - công
nghệ có ảnh hởng rất lớn đến sự biến đổi cơ cấu kinh tế.
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Ngoài ra, còn có các nhân tố bên ngoài nh quan hệ kinh tế đối
yêu cầu của đất nớc với công nghiệp ở các giai đoạn phát triển cũng khác
nhau, nên vị trí đất nớc với công nghiệp ở các giai đoạn phát triển cũng khác
nhau, nên vị trí của các bộ phận hợp thành công nghiệp cũng không cố định.
Cơ cấu công nghiệp do vậy là một cơ cấu động.
Sự biến đổi của cơ cấu công nghiệp từ trạng thái này sang trạng thái
khác cho phù hợp với môi trờng và yêu cầu phát triển gọi là sự chuyển dịch cơ
cấu công nghiệp.
Sự thay đổi này đợc biểu hiện trên hai mặt cơ bản: thay đổi số lợng các
phân ngành, thay đổi tỷ trọng của từng phân ngành; thay đổi mối quan hệ tơng
tác giữa các phân ngành và vai trò vị trí của từng phân ngành trong toàn ngành
công nghiệp nói chung và trong toàn nền kinh tế nói riêng.
Xác định và thực hiện phơng hớng chuyển dịch cơ cấu công nghiệp là
một vấn đề mang tính chiến lợc của quá trình xây dựng và phát triển công
nghiệp của đất nớc. Cơ cấu công nghiệp phải khai thác một cách đầy đủ và có
hiệu quả các nguồn lực, lợi thế của đất nớc, bảo đảm công nghiệp có thể phát
huy đợc vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, tham gia tích cực vào sự
phân công và hợp tác lao động quốc tế. Đó là tác dụng của việc nghiên cứu cơ
cấu công nghiệp đồng thời cũng là yêu cầu mà việc chuyển dịch cơ cấu công
nghiệp phải đạt đợc. Trong mỗi giai đoạn của quá trình chuyển dịch cơ cấu
công nghiệp, yêu cầu chung đó sẽ đợc cụ thể hoá cho phù hợp với khả năng và
điều kiện của giai đoạn đó.
2.2. Phân loại trong ngành công nghiệp.
Một trong những cách phân loại phục vụ cho các nghiên cứu liên
quan tới góc độ kinh tế chính trị học, ngành công nghiệp đợc phân ra
các ngành sản xuất t liệu sản xuất và những ngành sản xuất t liệu tiêu
dùng và nhiều khi đợc hiểu nh là công nghiệp nặng (công nghiệp nhóm
A) và ngành công nghiệp nhẹ (công nghiệp B).
Theo giác độ liên quan đến cơ chế quản lý, ngời ta có công nghiệp
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
2.3. Vai trò, vị trí của chuyển dịch cơ cấu công nghiệp và ý
nghĩa đối với nớc ta.
Chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp là một nội dung quan
trọng và lâu dài trong chiến lợc phát triển công nghiệp nói riêng và
trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Điều này xuất
phát từ vị trí, vai trò quan trọng của côgn nghiệp trong nền kinh tế
quốc dân và tác dụng của việc hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý của
ngành công nghiệp. Việc chuyển dịch từ cơ cấu cụ, không hợp lý sang
cơ cấu hợp lý sẽ tận dụng và phát huy đợc các nguồn lực của đất nớc để
đáp ứng tốt nhất nhu cầu thị trờng xã hội và thúc đẩy nền kinh tế, là
phơng tiện quan trọng để thực hiẹn có hiệu quả các mục tiêu phát triển
kinh tế -xã hội theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chuyển dịch
cơ cấu công nghiệp để tạo nên một cơ cấu hợp lý sẽ thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế (công nghiệp- nông nghiệp- dịch vụ) theo h-
ớng công nghiệp hoá; thúc đẩy cơ cấu vùng lãnh thổ phát triển theo h-
ớng hiệu quả trên cơ sở phát huy thế mạnh của mỗi vùng; thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế theo hớng phát huy mọi tiềm
năng của các thành phần, không phân biệt đối xử khác nhau giữa các
thành phần. Những ý nghĩa này đặc biệt quan trọng với đặc điểm Việt
Nam hiện nay. Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp theo hớng mở, năng
động không chỉ cho phép sử dụng hiệu quả các lợi thế của đất nớc mà
còn tranh thủ tối đa điều kiện thuận lợi của bối cảnh quốc tế; tạo điều
kiện tham gia sâu rộng, tham gia chủ động vào phân công hợp tác quốc
tế. Đối với Việt Nam hiện nay, chuyển dịch cơ cấu công nghiệp hợp lý
còn thúc đẩy giải quyết những cản trở, tháo gỡ bế tắc cho các yếu tố
phát triển nh là: hình thành cơ cấu lao động hợp lý đi đối với đào tạo
công nhân, cán bộ đáp ứng tốt yêu cầu phát triển trong mỗi giai đoạn
phát triển đất nớc; hớng dẫn đầu t của nhà nớc và của khu vực t nhân,
khu vực nớc ngoài theo hớng hiệu quả trên cơ sở phát huy tốt các lợi
9
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
b) Công nghiệp góp phần quan trọng trong việc tạo tiền đề cơ
sở vật chất kỹ thuật cho các hoạt động kinh tế- xã hội.
Điều này là hiển nhiên và phù hợp với những nguyên lý chung về
phát triển kinh tế. Các sản phẩm công nghiệp ngoài việc phục vụu cho
những mục tiêu tiêu dùng cả của chính phủ cũng nh tiêu dùng cá nhân
thì một phần lớn các sản phẩm kỹ thuật cơ bản máy móc thiết bị kỹ
thuật đợc dùng để trang bị cho hoạt động kinh tế - xã hội khác.
Cũng theo kết quả điều tra và phân tích cùng với các dữ liệu từ
các bảng I-O do Tổng Cục Thống Kê cung cấp, các công nghiệp cơ
bản cung cấp đầu vào vật t kỹ thuật cho hầu hết tất cả các ngành kinh
tế kỹ thuật ( có ngành sử dụng tới 40% đầu vào từ các ngành công
nghiệp cơ bản).
Xét trên tổng thể, ngành công nghiệp cung cấp 50,77% giá trị
đầu ra cho nhu cầu sử dụng trong các ngành kinh tế quốc dân. Giá trị
đầu ra công nghiệp cung cấp cho các ngành kinh tế chiếm tới xấp xỉ
60% tổng nhu cầu đầu vào từ các ngành kinh tế. Rõ ràng công nghiệp
có một vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế quốc dân.
Ngoài những tác động có tính trực tiếp đến các hoạt động kinh tế
- xã hội nói trên, những tác động gián tiếp của sự phát triển công
nghiệp nhìn chung khó có thể lợng hoá đợc. Với sự hỗ trợ của công
nghiệp nhiều ngành kinh tế phát triển đã tạo ra việc làm và thu nhập,
nâng cao đời sống của nhân dân trên mọi miền đất nớc.
c) Công nghiệp phát triển tạo động lực thúc đẩy các ngành kinh
tế- xã hội khác phát triển.
Ngợc với việc trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật và cung cấp vật t
kỹ thuạt cho các hoạt động kinh tế- xã hội, sự phát triển của công
nghiệp còn có tác dụng lôi kéo các hoạt đông kinh tế - xã hội phát
triển. Trớc hết, công nghiệp là nơi tiêu thụ các sản phẩm từ một số
11
12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
những thách thức từ bên ngoài đem tới, đặc biệt là những nớc đang phát
triển nh Việt nam.
3.2. Sự phát triển của khoa học - công nghệ.
Phát triển khoa học- công nghệ là điều kện để ra đời những
ngành công nghiệp mới. ngày nay, nền kinh tế tri thức đang và sẽ là
động lực mạnh mẽ của tất cả các quốc gia. Trong đó, các ngànhcó công
nghệ cao (nh công nghệ tự động, công nghệ chính xác, công nghệ
thông tin, công nghệ phần mềm, công nghệ sinh học, công nghệ vật
liệu mới và nguyên liệu tái sinh, công nghệ cao bản vệ môi trờng, công
nghệ quản lý...), sẽ là những ngành đóng vai trò quyết định trong nỗ
lực tăng sức cạnh tranh quốc tế của mỗi bớc. Những ngành công nghiệp
mới này sẽ đợc phát triển mạnh mẽ bởi nso làm giảm và dần biến mất
áp lực cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trờng đã đến
mức báo động hiện nay. Cùng với phát triển khoa học công nghệ tạo ra
những ngành mới trên xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế mà phơng tiện
tiêu biểu nhất cho phép thực hiện điều đó là xã hội thông tin mang
tính toàn cầu. Cũng chính do điều kiện xã hội thông tin toàn cầu mà
song hành với thơng mại và đầu t quốc tế là quá trình chuyển giao công
nghệ, làm cho tất cả các quốc gia đợc tiếp thu thành quả của tiến bộ
khoa học- công nghệ một cách nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi
cho các nớc kém phát triển trong cố gắng nâng cao năng lực công nghệ
đất nớc, tạo thế chủ động trong tham gia cạnh tranh trên trờng quốc tế.
Do đó cùng với xu thế toàn cầu hoá, phát triển khoa học- công nghệ
ảnh hởng rất lớn đến điều chỉnh cơ cấu ngành công nghiệp của mỗi
quốc gia, kể cả những quốc gia kém phát triển nhất trên con đờng nâng
cao năng lực công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.
II. Hội nhập kinh tế và sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu
công nghiệp việt nam
kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội,
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc ".
14
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Tháng 7 năm 1995 Việt nam đã trở thành thành viên chính thức
của ASEAN và đang thực hiện chơng trình thuế quan có hiệu lực chung
(CEPT) để đi tới khu vực mậu dịch tự do (AFTA).
Tháng 11 năm 1998 Việt nam gia nhập tổ chức Diễn đàn hợp tác
kinh tế Châu á- Thái Bình Dơng (APEC).
Ngoài việc thực hiện gia nhập các tổ chức trên, chúng ta đã nỗ
lực thúc đẩy hợp tác với tất cả các nớc có thể chế chính trị khác nhau
chúng ta đã phá đợc thế bao vây cô lập về chính trị, cấm vận về kinh tế,
thiết lập quan hệ ngoại giao với 167 nớc, phát triển quan hệ thơng mại
với 130 nớc và lãnh thổ. Đồng thời, chúng ta đã khai thông đợc quan hệ
với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế nh IMF, WB, ADB. Và các tổ
chức phát triển trong hệ thống Liên Hiệp Quốc.
3. Những cơ hội và thách thức đối với ngành công nghiệp Việt
nam trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Thách thức:
* Nền kinh tế Việt nam còn chậm phát triển. Trong công nghiệp,
kỹ thuật công nghệ còn lạc hậu so với thế giới từ 20-50 năm.
* Công nghiệp Việt Nam cha có những mặt hàng xuất khẩu chủ
lực mạnh về cả số lợng và chất lợng. Xuất khẩu hàng Công nghiệp Việt
Nam hiện nay đa phần là các sản phẩm thô hoặc sơ chế từ nguồn tài
nguyên thiên nhiên, từ khu nông- lâm- ng nghiệp, và gia công cho các
công ty nớc ngoài. Các sản phẩm công nghiệp có giá trị gia tăng thấp,
sức cạnh tranh yếu cả về chất lợng và giá cả.
* Nguồn lực cho sản xuất công nghiệp của Việt nam nh vốn, lao
động... không những ít mà còn không sử dụng hiệu quả. Hiện nay đo số
các ngành hàng Công nghiệp Việt Nam do khu vực doanh nghiệp nhà
nh hàng may mặc, giày - da, các loại động cơ cũng trùng với cơ cấu
xuất khẩu của Trung Quốc và một số nớc ASEAN, cho nên phải cạnh
tranh rất gay gắt.
16
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
* Hình ảnh sản phẩm Công nghiệp Việt Nam trên thị trờng khu
vực và thế giới còn mờ nhạt, không những thế mà các khâu nh xúc tiến
thơng mại, hỗ trợ xuất khẩu, tiếp thị sản phẩm còn yếu. Xuất khẩu
hàng công nghiệp đang bị chi phối nhiều bởi các tổ chức, công ty trung
gian nớc ngoài.
Cơ hội:
* Có điều kiện thu hút vốn và công nghệ cao từ các nớc phát triển
hơn để nâng cao khả năng cạnh tranh Công nghiệp Việt Nam .
* Khi gia nhập vào khu vực tự do thơng mại chúng ta có điều
kiện tham gia sâu hơn vào phân công lao động và chuyên môn hoá, có
thị trờng tiêu thụ rộng lớn, tạo điều kiện phát huy lợi thế theo quy mô.
Do đó, phát huy tốt các lợi thế so sánh của Việt Nam.
* Khi tự do thơng mại thì một phần lớn nguồn lực nh vốn, lao
động, đất đai.... mà bấy lâu nay khu vực doanh nghiệp nhà nớc có u
thế chiếm giữ thì nay chuyển sang khu vực ngoài nhà nớc. Lý do là
phàn nhiều doanh nghiệp nhà nớc và quốc tế rất thấp, tồn tại đợc là
nhờ vào che chở của nhà nớc. Khi không còn bao che nữa do các chế
định tự do thơng mại quy định thì những doanh nghiệp nhà nớc yếu
kém sẽ thu hẹp và phá sản. Khi những hỗ trợ, và những nguồn lực trên
chuyển sang khu vực t nhân thì sẽ phát huy tốt hơn các lợi thế cho phát
triển công nghiệp trong môi trờng cạnh tranh quốc tế. Các doanh
nghiệp t nhân sẽ thâm dụng tốt các nguồn lao động trẻ hiện nay của
Việt Nam cho phát triển các ngành hớng về xuất khẩu.
III. các mô hình công nghiệp hoá và mô hình chuyển dịch cơ
cấu công nghiệp chủ yếu trên thế giới.
luỹ, tạo điều kiện phát triển khoa học cơ bản. cho nên các nớc NIC
châu á tiến hành công nghiệp hoá thành công chỉ trên dới 30 năm.
1.2. Mô hình công nghiệp hoá Nhật Bản
18
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
a. Mô hình phát triển công nghiệp trớc khủng hoảng dầu mỏ
Mô hình này có những đặc điểm cơ bản sau: thứ nhất, sử dụng
triệt để các yếu tố phát triển theo chiều rộng trên cơ sở tiết kiệm tối đa
chi phí sản xuất; thứ hai, tham gia một chiều vào phân công lao động
quốc tế, biến Nhật Bản thành một xí nghiệp khổng lồ chuyên biến
nguyên liệu nhập khẩu; thứ ba, tiếp thu, khai thác kinh nghiệm khoa
học tiên tiến của phơng tây; thứ t, Nhà nớc giữ vai trò chi phối hoạt
động kinh tế xã hội.
b. Mô hình công nghiệp sau khủng hoảng dầu mỏ
Chính phủ Nhật Bản đã tìm mọi biện pháp chuyển hớng phát
triển kinh tế đất nớc sang mô hình tăng trởng nhanh theo các xu hớng
cơ bản sau:
- Cấu trúc lại và dịch vụ hoá nền kinh tế.
- Phát triển các hình thức tham gia phân công lao động quốc tế
theo chiều ngang.
- Thay đổi cách điều chỉnh kinh tế của Nhà nớc, trọng tâm là cải
cách tài chính - hành chính, nhằm đảm bảo ảnh hởng tích cực và có
hiệu quả hơn của điều chỉnh kinh tế nhà nớc đối với quá trình cấu trúc
lại nền kinh tế theo hớng trên.
Trong điều chỉnh cơ cấu công nghiệp, Nhật Bản u tiên những
ngành có hàm lợng trí tuệ cao, sử dụngít nguyên, nhiên liệu và lao
động sống nh : sản xuất máy tính điện tử,máy bay, robot công nghiệp,
mạch tổ hợp, vật liệu compozit, thiết bị thuỷ điện v..v thiết bị liên lạc,
thiết bị học tập, thiêt bị tự động hoá, thiết bị công nghiệp đồng bộv.v..
dịch vụ thu nhập, xử lý và chuyển giao thông tin.
Các phế liệu đợc chuyển sang chu trình sử dụng khép kín đợc đảm bảo
bằng sự phối hợp giữa các xí nghiệp cùng ngành hoặc liên ngành, thành
lập các sở giao dịch phế liệu, nguyên liệu tái sinh.
c. Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp từ đầu những năm 80 đến nay.
20
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Từ năm 1996, công suất trong nớc đợc cắt giảm mạnh có hệ
thống ở nhiều ngành công nghiệp không còn sức cạnh tranh quốc tế,
nh công nghiệp than, hoá dầu, phân bón, dệt, giấy, luyện nhôm, kim
loại không chất sắt, đóng tàu và một vài ngành khác. Chính phủ Nhật
Bản đã hớng các công ty mở rộng sang những lĩnh vực kinh doanh mới
nh: vật liệu mới, thông tin, máy tính kỹ thuật điện tử, bán dẫn, sinh học
hoá chất cao cấp, gốm cao cấp, trở thành những ngành công nghiệp chủ
đạo, tiên tiến trong nền kinh tế.
Chính phủ đã có nhiều biện pháp can thiệp trực tiếp hoặc gián
tiếp để thúc đẩy quá trình cải tổ cơ cấu này.
- Luật về những biện pháp tạm thời nhằm ổn định các ngành công
nghiệp suy thoái đã đợc sửa đổi lại thành Luật về những biện pháp tạm
thời nhằm điều chỉnh cơ cấu những ngành công nghiệp cụ thể.
- Trên cơ sở xác định những ngành công nghiệp bị suy thoái,
chính phủ, cụ thể là Bộ Công Thơng (MITI) kết hợp với Hội đồng cơ
cấu công nghiệp, vạch ra một kế hoạch chi tiết buộc các công ty ngành
đó phải tuân theo. Nếu cần thiết, MITI có thể yêu cầu ngành công
nghiệp này lập một các ten để tiến hành việc cắt giảm và chuyển hớng
sản xuất.
- Các công ty thuộc các ngành này có thể đợc miễn giảm thuế
hoặc vay có tính chất trợ cấp từ Ngân hàng và phát triển Nhật Bản để
làm dịu bớt những khó khăn nảy sinh từ việc loại bỏ thiết bị và máy
móc, để áp dụng kỹ thuật vào sản phẩm mới nhằm tăng sản xuất và
hiệu quả tiếp tục, để đào tạo lại công nhân và giúp họ tìm việc làm mới.
tế; 14 thành phố mở cửa vùng ven biển; 284 huyện thị của 12 thành phố
trực thuộc trung ơng, tỉnh, khu tự trị ; 3 đồng bằng ; 2 bán đảo; 1 đảo
với gần 160 triệu dân, chiếm gần 60% sản lợng công nghiệp và 2/3 l-
ợng hàng xuất khẩu trong cả nớc. Công nghiệp đã phát triển nhanh
chóng, có phần ồ ạt, làm nảy sinh một số vấn đề lớn trong đời sống
kinh tế và chính trị. Từ năm 1978 đến năm 1988, Trung Quốc đã phải 3
lần " điều chỉnh" nền kinh tế quá nóng. Đáng chú ý nhất là trong 3 năm
từ 1986ữ1988, bình quân hàng năm tốc độ tăng trởng đạt mức "siêu
sao", tới 16,7%. Trong công nghiệp, ngành gia công đợc chú ý, nên
22
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
phát triển quá nhanh. Công nghiệp cơ bản không theo kịp, tạo tình
trạng căng thẳng giữa cung và cầu. Với nền công nghiệp chạy theo tốc
độ này, các tỉnh, các thành phố ven biển ( với công nghiệp gia công là
chủ yếu) đợc u tiên quá nhiều, lhơn hẳn các địa phơng khác. Trong khi
đó, các tỉnh miền bắc với công nghiệp nặng là chủ yếu, hầu hết đợc xây
dựng từ những năm 50, hiệu suất sản xuất kém, lại không đợc u tiên,
chú ý trong đầu t, xây dựng, sửa chữa lại... Vì thế tạo ra khoảng cách
Nam- Bắc, Đông - Tây ngày càng xa. Tốc độ tăng trởng trogn công
nghiệp phần lớn dựa vào đầu t, xây dựng, từ đó dẫn đến tình trạng đua
nhau xây dựng kéo theo sự "đói " vốn nghiêm trọng. Tài chính bị thâm
hụt nặng nề, lạm phát luôn ở mức hai con số. Trong khi đó, chính phủ
các cấp lại trao quyền quá nhiều cho các xí nghiệp, các địa phơng. Vai
trò quản lý của nhà nớc bị buông lỏng, cộng với thu nhập tài chính
trung ơng bị giảm mạnh, không còn đủ sức điều hoà có hiệu quả vĩ mô
nền kinh tế.
Sau khi điều chỉnh, công nghiệp nặng đợc chú ý phát triển làm
cho tỷ lệ giữa công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng cân đối hợp lý.
Giá trị tổng sản lợng công nghiệp nhẹ năm 1991 là 1380,1 tỷ NDT, của
công nghiệp nặng là 1.444,7 tỷ NDT, lần lợt tăng 15% và 14,5% so với
nội địa.
Trung Quốc chia cơ cấu hàng hoá xuất khẩu thành 4 loại với 3
giai đoạn khác nhau. 4 loại hàng hoá là: sản phẩm thô, sơ cấp; sản
phẩm dệt, công nghiệp nhẹ, gia công, chế tạo lại, bán thành phẩm tốn
nhiều sức lao động; sản phẩm thành phẩm, công nghiệp nặng, hoá chất
tốn nhiều vốn; sản phẩm lỹ thuật cao, công nghệ tiên tiến và 3 giai
đoạn là : Lấy xuất khẩu sản phẩm công nghiệp nhẹ, đòi hỏi nhiều sức
lao động làm trọng tâm; xuất khẩu sản phẩm công nghiệp thành phẩm,
công nghiệp nặng, hoá chất cần nhiều vốn; xuất khẩu sản phẩm kỹ
thuật cao, đòi hỏi nhều tri thức, công nghệ tiên tiến.
24
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
2. Các mô hình thực tiễn về công nghiệp hoá.
2.1 Mô hình công nghiệp hoá theo hớng thay thế nhập khẩu. (h-
ớng nội).
Mô hình này đã đợc các nớc đi tiên phong trong công nghiệp hoá
thực hiện từ cuối thế kỷ 18- đầu thế kỷ 19, nhiều nớc đang phát triển
thực hiện theo mô hình này vào những năm 50-60.
T tởng cơ bản của mô hình này là tập trung phát triển mạnh sản
xuất các loại hàng hoá, đặc biệt là hàng tiêu dùng, để thay thế các
hàng hoá xa nay vẫn nhập khẩu từ nớc ngoài. Sự phát triển ấy nhằm
khai thác các nguồn lực sẵn có để thoả mãn các nhu cầu cơ bản và cấp
thiết trong nớc, mở rộng thị trờng cho phát triển sản xuất , tạo thêm
việc làm, tiết kệm ngoại tệ. Mô hình này chủ yếu hớng sản xuất vào thị
trờng trong nớc, lấy thị trờng trong nớc là trọng. Mô hình này cho ta
khả năng dễ xây dựng hệ thống công nghiệp hoàn chỉnh đợc. Do hàng
hoá lu thông trên thị trờng trong nớc là chủ yếu nên ít chịu ảnh hởng
của những dao động trên thị trờng thế giới. Tuy nhiên lại có hạn chế là
không đợc quan hệ với các nớc khác, không tiếp thu đớc những công
nghệ tiên tiến của thế giới, dẫn đến sự kìm hãm nền kinh tế.