Bàn về hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ - Pdf 79

Lời mở đầu
Trong nền kinh tế, các trung gian tài chính bảo hiểm là một kênh huy
động vốn đầu tư không thể thiếu và đầy tiềm năng. Bảo hiểm nhân thọ dài
hạn vừa là nguồn bổ sung vốn đầu tư phát triển, vừa là biện pháp bảo vệ an
ninh quốc gia, đảm bảo và ổn định đời sống kinh tế - xã hội ở mỗi nước.
Thị trường bảo hiểm bùng nổ, vấn đề đầu tư tài chính của doanh
nghiệp bảo hiểm đã và đang trở thành vấn đề sống còn, nhất là đối với
doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ.
Đầu tư tài chính hiệu quả giúp doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ bảo
toàn quỹ tài chính bảo hiểm, góp phần nâng cao tiềm lực tài chính và đứng
vững trong cạnh tranh. Thêm nữa, thu nhập từ đầu tư tài chính còn là nguồn
để doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thực hiện các cam kết với khách hàng,
nâng cao tính hấp dẫn của các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ.Trên thế giới,
các công ty bảo hiểm nhân thọ lớn coi đầu tư tài chính là hoạt động mang lại
thu nhập chính và luôn được coi trọng.
Có thể nói hoạt động đầu tư của DNBH nhân thọ có vai trò rất lớn
không những đối với DNBH nhân thọ mà còn đối với toàn bộ tư tài chính của
nền kinh tế.
Với ý nghiã đó, em chọn đề tài
"Bàn về hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ"
Cấu trúc của bài viết gồm ba phần:
Phần I: Lý luận chung về hoạt động đầu tư của doanh nghiệp
bảo hiểm nhân thọ.
Phần II: Thực trạng hoạt động đầu tư của một số doanh nghiệp bảo
hiểm nhân thọ trên thị trường bảo hiểm Việt Nam
Phần III: Một số kiến nghị và giải pháp
Đây là một đề tài còn khá mới mẻ, và nguồn số liệu thu thập được còn
hạn chế nên bài viết chắc còn nhiều thiếu sót. Em rất mong được sự chỉ bảo
và góp ý của cô giáo để bài viết được hoàn chỉnh hơn.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn cô giáo - Thạc sỹ Phạm Thị Định
đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ em rất nhiều để em hoàn thành được bài

BH
Người tham
gia Bảo
hiểm
Người tham
gia BH gặp
rủi ro
Người Bảo
Hiểm
Phí bảo hiểm
Chi trả
Qlý
Đối với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, hoạt động đầu tư quỹ tài
chính rất phức tạp do sản phẩm bảo hiểm nhân thọ cũng đa dạng và phức
tạp hơn, lại thêm cạnh tranh khốc liệt trên thị trường.Hợp đồng bảo hiểm
nhân thọ thường là hợp đồng dài hạn nên hoạt động đầu tư của doanh
nghiệp bảo hiểm nhân thọ có một số đặc trưng cơ bản sau:
 Một đặc điểm chung của hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo
hiểm nhân thọ là chịu tác động rất lớn của những thay đổi về lãi
suất và lạm phát do nguồn vốn đem đầu tư thường là dài hạn.
 Do tính chất dài hạn của các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và nhu
cầu chi có thể dự đoán được một cách khá chính xác nên các quỹ
bảo hiểm nhân thọ thường đầu tư vào các loại chứng khoán dài
hạn.
 Quy mô các quỹ bảo hiểm nhân thọ lớn hơn các quỹ bảo hiểm phi
nhân thọ xét dưới góc độ phí bảo hiểm.
 Thu nhập của công ty bảo hiểm nhân thọ thường lớn hơn các
khoản chi và tất cả các khiếu nại có thể được thanh toán từ phí
bảo hiểm và thu nhập từ đầu tư trong năm. Do vậy, DNBH nhân
thọ ít có nhu cầu đầu tư vào chứng khoán ngắn hạn.

tạo thêm khách hàng cho doanh nghiệp thông qua hoạt động cho vay (khi
người vay mua bảo hiểm tại công ty).
1.3.2.Đối với doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ :
Nếu như trong doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, thu nhập từ hoạt
động đầu tư tài chính giúp doanh nghiệp bù đắp các chi phí kinh doanh,có
điều kiện để giảm phí bảo hiểm, tăng khả năng ký kết hợp đồng bảo hiểm,
nâng cao mức giữ lại trong các hợp đồng tái bảo hiểm, từ đó ổn định và
nâng cao kết quả kinh doanh thì trong doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, đầu
tư quỹ dự phòng là sự bắt buộc vì tính chất kỹ thuật của nghiệp vụ bảo hiểm
này. Nếu các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ không đầu tư hoặc thu nhập
từ hoạt động đầu tư không đủ lớn để bù đắp các khoản "nợ tiết kiệm" đối với
người được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ lâm vào tình trạng thua
lỗ ; trầm trọng hơn có thể dẫn tới phá sản. Như vậy có thể nói đầu tư là một
hoạt động có vai trò sống còn đối với việc tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp bảo hiểm nhân thọ.
Hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ cũng có
những vai trò quan trọng như các doanh nghiệp bảo hiểm nói chung. Ngoài
ra nó còn thể hiện một số nét quan trọng sau :
-Hoạt động đầu tư giúp họ thực hiện các nghĩa vụ tài chính của mình
đối với người tham gia bảo hiểm. Bởi vì bảo hiểm nhân thọ không chỉ có tính
rủi ro mà còn có tính tiết kiệm. Do đó việc đầu tư có hiệu quả không đơn
thuần là phát triển quỹ tài chính mà còn là trách nhiệm của DNBH để đảm
bảo cho khách hàng được trả lãi.
-Thu nhập từ đầu tư là nguồn tài chính để doanh nghiệp bảo hiểm
thực hiện các cam kết với khách hàng, tăng các khoản lợi tức chia thêm cho
các hợp đồng bảo hiểm, qua đó nâng cao tính hấp dẫn cho các sản phẩm
bảo hiểm nhân thọ.
4
-Đầu tư giúp DNBH nhân thọ bù đắp sự mất gía của đồng tiền, bảo toàn
quỹ tài chính trước rủi ro lạm phát, đảm bảo khả năng chi trả của doanh

 Góp vốn vào các doanh nghiệp khác;
 Cho vay theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng;
 Gửi tiền tại các tổ chức tín dụng
(trích điều 98-Luật kinh doanh bảo hiểm)
5
2.2.Nguyên tắc sinh lời:
Một trong những mục tiêu quan trọng của hoạt động đầu tư là tạo ra
lợi nhuận.Lợi nhuận cao là mục tiêu của tất cả mọi doanh nghiệp khi tham
gia kinh doanh trên thị trường. Với doanh nghiệp bảo hiểm, lợi nhuận là rất
cần thiết giúp doanh nghiệp tăng cường sức mạnh tài chính, đứng vững
trong cạnh tranh và thực hiện các chiến lược của mình. Lợi nhuận tạo ra từ
hoạt động đầu tư sẽ giúp doanh nghiệp bảo hiểm có điều kiện giảm phí và
mở rộng phạm vi bảo hiểm.
Tóm lại đây là kết quả cuối cùng mà doanh nghiệp bảo hiểm theo
đuổi . Tuy nhiên, muốn thu được tỷ suất lợi nhuận cao thì rủi ro khi đầu tư
cũng tăng theo. Vì vậy nhà quản lý đầu tư cần nghiên cứu sao cho hoạt động
đầu tư vừa đảm bảo nguyên tắc an toàn lại vừa đem lại mức lợi nhuận như
mong muốn.
2.3.Nguyên tắc đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên.
Khả năng thanh toán là khả năng mà doanh nghiệp bảo hiểm có thể
sử dụng các tài sản của mình để đáp ứng các trách nhiệm thanh toán đã đến
hạn. Do các khiếu nại của các DNBH rất khó dự đoán nên họ phải giữ một tỷ
lệ đầu tư nhất định vào các hạng mục đầu tư có tính thanh khoản cao để
đảm bảo thanh toán ngay khi cần thiết.
Song song với mục tiêu lợi nhuận là mục tiêu đảm bảo khả năng
thanh toán.Thực tế hai mục tiêu này thường có sự đánh đổi lẫn nhau: Khi
doanh nghiệp bảo hiểm muốn tăng lợi nhuận thì phải chấp nhận tăng khả
năng rủi ro, nếu rủi ro thực tế xảy ra thì khả năng thanh toán của doanh
nghiệp sẽ bị đe doạ. Do đó việc đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm phải đảm
bảo có tính thanh khoản hợp lý vì doanh nghiệp bảo hiểm có thể phải thanh

tối đa của quỹ này là 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm.
3.3.Quỹ dự trữ tự nguyện
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các DNBH luôn phải duy trì khả
năng thanh toán của mình. Ngoài quỹ dự trữ bắt buộc, DNBH có thể thành
lập quỹ dự trữ tự nguyện. Quỹ này được lấy từ lợi nhuận sau thuế chưa
phân phối của doanh nghiệp. DNBH thành lập thêm quỹ này nhằm tăng khả
năng thanh toán của mình, thực hiện tốt các cam kết với khách hàng.
Các quỹ dự trữ bắt buộc và tự nguyện của DNBH thường chiếm tỷ trọng
không lớn trong nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp nhưng cũng có vai trò
quan trọng, góp phần tăng doanh thu và đảm bảo khả năng thanh toán của
DNBH.
3.4.Các khoản lãi của những năm trước chưa sử dụng và lợi tức
để lại của doanh nghiệp.
Vào cuối mỗi năm tài chính, lợi nhuận sau thuế của DNBH được sử
dụng để chia cổ tức cho cổ đông đối với công ty cổ phần, trích lập các quỹ
như quỹ đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng phúc lợi,... phần còn lại sẽ được
bổ sung vào nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp.
Trong kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, DNBH còn có các quỹ đầu tư hình
thành từ lợi tức để lại, đảm bảo cho những cam kết có chia lãi.
3.5.Nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm
a, Quỹ dự phòng nghiệp vụ trong DNBH
7
Theo quy định hiện hành thì dự phòng nghiệp vụ là quỹ bắt buộc
doanh nghiệp bảo hiểm phải lập để thực hiện cam kết với khách hàng theo
hợp đồng bảo hiểm trong mọi tình huống. Ngoài ra,các quỹ dự phòng nghiệp
vụ còn đóng vai trò " van điều chỉnh " thu , chi và lợi nhuận của doanh
nghiệp, đảm bảo doanh nghiệp luôn trong tình trạng phát triển và ổn định.
Quỹ dự phòng nghiệp vụ nếu không được kiểm soát chặt chẽ, vận hành tuỳ
tiện sẽ phản tác dụng và gây hại cho doanh nghiệp.
Dự phòng nghiệp vụ có nguồn gốc từ phí thuộc sở hữu của doanh nghiệp, có

8
 Mua trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp có bảo lãnh, gửi
tiền tại các tổ chức tín dụng không hạn chế .
 Mua cổ phiếu ,trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh, góp vốn
vào các doanh nghiệp khác tối đa là 50%vốn nhàn rỗi từ dự phòng
nghiệp vụ bảo hiểm.
 Đối với việc kinh doanh bất động sản, cho vay, uỷ thác đầu tư qua
các tổ chức tài chính tín dụng tối đa là 40% vốn nhàn rỗi từ dự
phòng nghiệp vụ bảo hiểm.
4.Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo hiểm
nhân thọ :
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của doanh
nghiệp bảo hiểm nhân thọ, trong đó bao gồm cả những nhân tố bên trong và
nhân tố bên ngoài.
4.1. Những nhân tố bên trong:
4.1.1. Các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ.
Có thể nói nghĩa vụ tài chính của DNBH là nhân tố then chốt quyết
định sự lựa chọn các hình thức đầu tư của công ty bảo hiểm, đặc biệt là
nghĩa vụ đối với khách hàng( người được bảo hiểm).Nghĩa vụ này được quy
định tại các điều khoản của hợp đồng bảo hiểm. Hình thức đầu tư của DNBH
sẽ phụ thuộc vào bản chất các nghĩa vụ của DNBH đối với khách hàng.
Nguồn vốn đem đi đầu tư của DNBH phần lớn lấy từ các quỹ dự
phòng nghiệp vụ; Do đó để đảm bảo quyền lợi của khách hàng cũng như
đảm bảo khả năng thanh toán của công ty thì DNBH khi đầu tư không chỉ
tính đến lợi nhuận mà cón phải đảm bảo khả năng đáp ứng cao trách nhiệm
đối với người được bảo hiểm. Nếu như không có sự quản lý hoạt động đầu
tư một cách chặt chẽ, DNBH sẽ có xu hướng tìm kiếm các hình thức đầu tư
sao cho thu được lợi nhuận cao nhất trên cơ sở tài sản tài chính hiện có.
Cũng như DNBH phi nhân thọ, DNBH nhân thọ có hai nghĩa vụ tài chính chủ
yếu là :

Trong trường hợp này, tài sản đầu tư đó có thể coi là không đủ tính thanh
khoản cần thiết.
4.1.3. Chính sách phân phối lợi nhuận
Nhân tố này ảnh hưởng tới hoạt động đầu tư của doanh nghiệp bảo
hiểm nhân thọ, khi doanh nghiệp ký kết những hợp đồng bảo hiểm có cam
kết chia lãi như sản phẩm bảo hiểm nhân thọ trọn đời, hỗn hợp và niên kim..
-Nếu thị trường bảo hiểm địa phương có tập quán phân phối lợi nhuận
cho người tham gia bảo hiểm dươí hình thức chia lãi bằng tiền mặt hàng
năm thì DNBH sẽ chú trọng hơn vào mức thu nhập ngắn hạn từ việc đầu tư.
-Ngược lại, nếu việc phân phối lợi nhuận cho người tham gia bảo hiểm
nhân thọ được thực hiện chủ yếu dưới hình thức bổ sung vào số tiền bảo
hiểm hoặc trả thưởng vào thời điểm kết thúc hợp đồng bảo hiểm thì DNBH ít
quan tâm đến lợi nhuận đầu tư ngắn hạn và tập trung vào đầu tư dài hạn.
4.1.4.Các quan điểm đầu tư của nhà quản lý .
10
Hoạt động đầu tư chịu tác động bởi nhiều nhân tố, nhưng quyết định
đầu tư cuối cùng: đầu tư vào đâu, đầu tư dưới hình thức nào và giá trị bao
nhiêu ... là do người chịu trách nhiệm quản lý đầu tư quyết định trong khuôn
khổ pháp luật cho phép.
Nếu người quản lý đầu tư là những người thận trọng thì họ thiên về
lựa chọn những danh mục đầu tư có mức độ rủi ro thấp. Ngược lại nếu họ là
những người ưa mạo hiểm, họ sẽ có xu hướng lựa chọn những danh mục
đầu tư có mức độ rủi ro cao hơn nhưng tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng sẽ lớn hơn
rất nhiều.
Thực tế cho thấy rằng quan điểm quản lý đầu tư ở các thị trường bảo
hiểm khác nhau là khác nhau. Điều này có ảnh hưởng tới hội đồng quản trị
của các công ty bảo hiểm với tư cách là những người đặt ra các giới hạn
chung cho chính sách đầu tư của công ty. Do chịu cùng một sức ép , các
chính sách đầu tư nhìn chung có xu hướng tương tự nhau giữa các DNBH
hoạt động trên cùng một thị trường.

công ty bảo hiểm. Nếu thị trường vốn phát triển không đầy đủ , sự lựa chọn
hình thức đầu tư sẽ bị hạn chế( Điều này thể hiện rất rõ ở thị trường Việt
Nam trong những năm qua: Từ năm 2000, chúng ta đã có thị trường chứng
khoán nhưng quy mô vẫn còn nhỏ và hoạt động chưa hiệu quả.
4.2.3. Một số công cụ quản lý khác của Nhà nước.
DNBH không thể tự do đầu tư nguồn vốn nhàn rỗi của mình mà luôn
chịu sự quản lý của Nhà nước. Nhà nước phải có những hạn chế pháp luật
đối với hoạt động đầu tư của DNBH, định hướng đầu tư , đưa ra những
danh mục đầu tư nhất định, thậm chí giới hạn mức đầu tư tối đa , tối thiểu.
Thực tế, nguồn vốn của DNBH là rất lớn và có vai trò quan trọng trong nền
kinh tế nên Nhà nước cần phải quản lý hoạt động đầu tư của DNBH nhằm
mục đích:
+ Bảo vệ người tham gia bảo hiểm;
+Định hướng sự lưu chuyển của các quỹ đầu tư ;
+Giảm nguy cơ tập trung quyền lực trong lĩnh vực tài chính;
5. HìNH THứC và tổ chức hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp bảo hiểm
nhân thọ :
5.1.Hình thức đầu tư trong DNBH nhân thọ:
5.1.1.Cho vay có thế chấp
Đối với DNBH nhân thọ, hoạt động đầu tư thông qua cho vay có vai trò rất
quan trọng thể hiện ở những đặc điểm sau:
 Tuân thủ các tiêu chuẩn tài chính
 Tạo thu nhập ổn định cho DNBH
 Cung cấp cho xã hội một kênh huy động vốn
 Góp phần khuyến khích việc tiêu thụ các sản phẩm bảo hiểm
Với tính chất là một công cụ đầu tư, khi tiến hành cho vay, các công ty
bảo hiểm cũng phải chịu một số hạn chế nhất định như hạn chế đối với số
tiền tối đa được phép cho vay hay hạn chế về đồng tiền cho vay.
12
Hiện nay, các khoản cho vay có thế chấp của các DNBH chủ yếu đảm

tuỳ theo họ nắm giữ cổ phiếu thường hay cổ phiếu ưu đãi. Ngoài phần lãi thu
được từ cổ tức còn có thể thu được lãi vốn. Đó là thu nhập mà DNBH có
được do có sự chênh lệch giữa giá thị trường hiện tại và giá mua vào của cổ
phiếu.
 Trái phiếu :
Đây là một loại chứng khoán được phát hành dưới hình thức chứng chỉ
hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận nghĩa vụ trả nợ của tổ chức phát hành trái
13
phiếu đối với người sở hữu trái phiếu. Công cụ nợ này có thể do Chính phủ
hoặc các doanh nghiệp phát hành. Trái phiếu công ty có độ rủi ro cao hơn
trái phiếu chính phủ nhưng lại có tỷ suất lợi nhuận cao hơn. Đầu tư vào trái
phiếu chủ yếu chịu sự tác động của rủi ro lãi suất. Do trái phiếu có những lợi
thế nhất định như có thời gian đáo hạn dài nên tạo điều kiện cho các DNBH
nhân thọ loại trừ rủi ro lãi suất, đặc biệt là khi cạnh tranh trên các thị trường
bảo hiểm đã khiến cho những đảm bảo về lãi suất đối với những hợp đồng
bảo hiểm nhân thọ thông thường và niên kim có xu hướng tăng.
Tóm lại, đầu tư vào chứng khoán có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với
các hình thức đầu tư khác. Các DNBH thường có xu hướng đầu tư giá trị lớn
vào danh mục này. Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán trong
những năm qua,việc đầu tư vào thị trường chứng khoán của các DNBH ngày
một gia tăng, nhất là các DNBH phi nhân thọ. Hiện nay các DNBH nhân thọ
chủ yếu chuyển sang đầu tư vào chứng khoán và các khoản vay có mức độ
đảm bảo ít hơn nhưng có mức tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng cao hơn.
5.1.3.Đầu tư bất động sản
Hình thức đầu tư này cũng có vai trò quan trọng vì:
-Duy trì sự ổn định giá trị, việc đầu tư vào bất động sản ít chịu ảnh
hưởng bởi tác động của yếu tố lạm phát.
-Phát huy tác dụng khuếch trương, quảng cáo, nâng cao hình ảnh của
công ty.
-Cung cấp nơi làm việc thuận lợi cho khách hàng để thắt chặt thêm

5.2.1.Thành lập công ty đầu tư thuộc doanh nghiệp bảo hiểm
Việc thành lập một tổ chức đầu tư độc lập dưới hình thức công ty đầu
tư hay quỹ đầu tư do công ty bảo hiểm sở hữu toàn bộ cổ phần hoặc nắm cổ
phần chi phối là hình thức áp dụng khá phổ biến ở các DNBH trên thế giới.
Mô hình này phù hợp với các DNBH có quy mô lớn và phát triển, nó giúp các
DNBH tập trung các nguồn lực của mình nâng cao chất lượng và hiệu quả
của hoạt động đầu tư.Các quỹ này có thể chỉ tập trung vào một khu vực địa
lý hay nhóm ngành nghề nhất định hoặc có phạm vi hoạt động rộng và có
lĩnh vực đầu tư tổng hợp.
Trong những năm gần đây, các công ty bảo hiểm có quy mô lớn chẳng
hạn như AIG hay Prudential đã chuyển sang thành lập các quỹ đầu tư để
tập trung các nguồn lực của mình, nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt
động đầu tư.
5.2.2.Tổ chức phòng đầu tư trực thuộc công ty.
Mô hình tổ chức này thường được áp dụng đối với những DNBH có
quy mô nhỏ hoặc DNBH mới thành lập . Do đó hoạt động đầu tư còn hạn
chế hoặc chưa phát triển.
Theo mô hình này, phòng đầu tư được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp
của một phó giám đốc doanh nghiệp phụ trách về đầu tư. Phòng này có
trách nhiệm thực hiện chương trình đầu tư của doanh nghiệp mà hội đồng
quản trị đã đề ra. Ngoài việc thông qua các tiêu chuẩn đầu tư của doanh
nghiệp để trình trước ban tài chính của doanh nghiệp phê chuẩn, phòng đầu
tư còn là nơi lưu giữ các loại cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ đầu tư khác
của DNBH; đồng thời phòng này cũng được giao nhiệm vụ thu lãi và cổ tức
15
từ các khoản đầu tư, được trực tiếp tham gia vào việc mua bán cổ phiếu, trái
phiếu, bất động sản và các khoản thế chấp... Bên cạnh đó , phòng đầu tư
còn hoạt động với tư cách là cố vấn cho tổng giám đốc và hội đồng quản trị
khi có hoạt động sát nhập hoặc mua lại một công ty khác.
5.2.3.Mua cổ phần ở mức không chi phối của các công ty đầu tư khác

16
Trong thực tế , với mỗi sản phẩm bảo hiểm, DNBH thường bán được
một số lượng lớn hợp đồng nên gía trị quỹ đầu tư cũng lớn. Doanh nghiệp
phải đầu tư vào nhiều danh mục khác nhau với thời gian và tỷ suất lợi nhuận
đầu tư khác nhau. Do vậy khi đánh giá hiệu quả đầu tư, DNBH phải so sánh
lãi kỹ thuật với tỷ suất lợi nhuận đầu tư bình quân.
Ngoài hiệu quả kinh tế có thể tính toán được, hoạt động đầu tư của
DNBH còn mang lại nhiều lợi ích xã hội mà việc đánh giá hiệu quả là không
đơn giản. Tuy nhiên, khi xem xét hiệu quả xã hội hoạt động đầu tư của
DNBH có thể xem xét dựa trên một số khía cạnh sau:
-Sự phù hợp của danh mục đầu tư đối với mục tiêu phát triển chung
của nền kinh tế đất nước.
- ảnh hưởng của các dự án đầu tư đến sự phát triển của các lĩnh vực
kinh tế khác đối với đời sống xã hội.
- Công ăn việc làm tạo ra qua các lĩnh vực đầu tư của DNBH.
6.3.Những phương pháp đánh giá hiệu quả đầu tư.
6.3.1.Giá trị hiện tại ròng(NPV)
Để thấy được danh mục nào đầu tư có lợi hơn,DNBH cần sử dụng
phương pháp giá trị hiện tại ròng.Theo phương pháp này,DNBH phải dự kiến
được lợi nhuận thu được,thời gian đầu tư,tỷ lệ hoàn vốn và các khoản
chi.Công thức tính giá trị hiện tại ròng như sau:
NPV=
∑ ∑
= =
+

+
n
i
n


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status