Những nguyên tắc đặc thù của phương pháp dạy học
tiếng Việt
Nguyên tắc dạy học tiếng Việt là những quan điểm cơ bản được coi là tiền đề để xác định nội dung,
phương pháp, cách thức tổ chức hoạt động dạy- học tiếng trong nhà trường.
Các nguyên tắc đặc thù của phương pháp dạy – học tiếng Việt bao gồm: Nguyên
tắc rèn luyện ngôn ngữ gắn liền với rèn luyện tư duy; Nguyên tắc hướng hoạt
động vào giao tiếp; Nguyên tắc chú ý tới trình độ tiếng Việt vốn có của học sinh;
Nguyên tắc so sánh và hướng tới hai dạng nói và viết và nguyên tắc đảm bảo
mối quan hệ hữu cơ giữa dạy học tri thức và rèn luyện kỹ năng.
Trước hết, nguyên tắc rèn luyện ngôn ngữ gắn liền với rèn luyện tư
duy. Ngôn ngữ vừa là công cụ vừa là sản phẩm của tư duy và tư duy là hiện thực
trực tiếp của ngôn ngữ. Quá trình người học nhận thức các khái niệm và qui tắc
của ngôn ngữ, vận dụng nó vào giải quyết các nhiệm vụ cụ thể của giao tiếp cũng
chính là quá trình người học tiến hành các thao tác tư duy theo một định hướng.
Quá trình này không chỉ hình thành các kỹ năng ngôn ngữ mà còn hình thành các
kỹ năng và phẩm chất tư duy. Quá trình hoạt động tư duy và hoạt động ngôn ngữ
là hai quá trình có mối quan hệ biện chứng, hữu cơ tới mức “
Tuy hai mà một, tuy
một mà hai”.
Nói một cách khác, muốn rèn luyện ngôn ngữ thì tất phải rèn luyện
tư duy và ngược lại. Để hai quá trình được thực hiện một cách có ý thức, có kế
hoạch, có tính toán, nguyên tắc rèn luyện ngôn ngữ gắn liền với tư duy được cụ
thể hoá thành các yêu cầu sau đây.
- Dạy học tiếng phải gắn liền với phương pháp rèn luyện tư duy.
- Dạy học tiếng phải gắn liền với rèn luyện các thao tác tư duy.
- Dạy học tiếng phải gắn liền với bồi dưỡng phẩm chất tư duy.
- Dạy học tiếng phải gắn liền với bồi dưỡng tư duy hình tượng và tư duy logique.
- Dạy học tiếng phải làm cho học sinh thông hiểu ý nghĩa các đơn vị ngôn ngữ gắn
chúng với nội dung hiện thực mà chúng phản ánh, đồng thời phải thấy được giá
Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp chi phối toàn bộ qui trình tổ chức day-
học tiếng Việt từ khâu xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa đến các
khâu xây dựng bài học của giáo viên.
Nguyên tắc hướng hoạt động vào giao tiếp được cụ thể hoá trong các phương
diện sau: - Việc dạy học ngôn ngữ tiếng Việt không mục đích cung cấp tri thức “
hàn lâm”
về ngôn ngữ mà nhằm mục đích rèn luyện các kỹ năng giao tiếp (
chẳng
hạn rèn luyện kỹ năng nghe- nói- đọc – viết với 6 kiểu văn bản THCS : tự sự ,
miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh và hành chính ).
- Nội dung các ngữ
liệu phải đảm bảo tính sinh động, tính thực tế của giá trị, câu hỏi tìm hiểu các bài
tập thực hành phải gợi mở được thao tác thực hiện, gắn liền với các kỹ năng lĩnh
hội, sản sinh lời nói cần rèn luyện.
- Về phương và thủ pháp dạy- học, phải đặt các đơn vị ngôn ngữ đưa ra giảng
dạy học tập trong hệ thống hành chức của nó( ví dụ: đặt
từ trong câu, đặt câu
trong đoạn, đoạn trong văn bản, xác định các nguyên tố chi phối, giải thích rõ tại
sao như vậy?)
- Hết sức hạn chế diễn giảng, thuyết minh giải thích. Cần coi phát
vấn đàm thoại và thực hành vận dụng là hình thức chủ đạo trong dạy- học tiếng.
Khi dạy bài “Hành
động nói”,
giáo viên gắn nguyên tắc hướng hoạt động vào giao
tiếp bằng cách đưa ra một tình huống như sau: “Tan
học, về nhà, gặp bố mẹ, em
sẽ nói gì?”
Với tình huống đó, giáo viên yêu cầu học sinh trao đổi, thảo luận và
đưa ra các phương án trả lời bằng các lời nói cụ thể, chẳng hạn:
HS1: - Con chào bố mẹ ạ!
2
- Hệ thống hoá vốn kinh nghiệm tiếng Việt của từng đối tượng học sinh để có thể
phát huy những kinh nghiệm tích cực, đồng thời hạn chế và loại bỏ dần những
kinh nghiệm tiêu cực qua những uốn nắn kịp thời.
Ví dụ: Dạy bài “Từ
mượn”
Ngữ văn 6, tập 1, giáo viên thực hiện các thao tác
phát huy tính tích cực của học sinh để nắm bắt trình độ, vốn từ mượn của học
sinh. Cụ thể giúp học sinh: - Thống kê các từ Hán Việt có trong các văn bản (hoặc
chỉ định một số đoạn) văn chương đã học hoặc sưu tầm được, sau đó giáo viên sẽ
chọn ra một nhóm từ Hán Việt mà hầu hết học sinh đều đã nhận diện được để
làm ngữ liệu cho bài dạy của mình (tận dụng vốn sẵn có của học sinh). - Thống kê
các từ thuần Việt.
- Thống kê các từ gốc Hán .
Sau khi học sinh hoàn thành công việc chuẩn bị trên, thì về cơ bản, các em đã có
một “ấn
tượng ban đầu”
về kiến thức của bài học; giáo viên (tất nhiên phải có
chuẩn bị ngữ liệu và các phương án dạy học của mình) sẽ hoàn tất nốt công đoạn
“dạy cái
chưa biết
cho người
đã biết”
không đến nỗi quá khó khăn.
Nguyên tắc thứ tư là so sánh và hướng tới hai dạng nói và viết. Đảm bảo
nguyên tắc này trước hết phải làm cho học sinh thấy được và ý thức về những sự
khác nhau cơ bản giữa dạng nói và dạng viết, không nên “Nói như viết và viết
như nói”. Đối với học sinh tiểu học, việc chiếm lĩnh ngôn ngữ tiếng Việt đi từ
dạng nói đến dạng viết (
nhà kia mà cao ư? (phủ định- động nói gián tiếp) - Mẹ chẳng yêu con thì yêu ai?
(khẳng định- động nói gián tiếp) - Anh thấy con bé có giỏi không? (khen ngợi-
động nói gián tiếp) - Em có thể cho anh một cơ hội được không? (cầu khiến- động
nói gián tiếp) Để thực hiện nguyên tắc này, giáo viên phải có tri thức về giao tiếp,
về hành động ngôn ngữ, trên cơ sở đó hướng dẫn học sinh thực hành rèn kỹ năng
rồi sau đó mới tổng hợp thành khái niệm.
Trên đây là năm nguyên tắc đặc thù dạy học tếng Việt. Trong thực tế, khi
soạn giáo án cũng như khi thực hiện bài giảng trên lớp, dù có ý thức hay không có
ý thức, giáo viên đã cụ thể hoá tinh thần của các nguyên tắc thành từng lời
giảng, từng thao tác xác lập kiến thức, rèn luyện kĩ năng và hình thành thái độ
cho học sinh. Vì vậy, trước khi soạn giáo án, nếu mỗi giáo viên bớt chút thời gian
xem lại năm nguyên tắc dạy học Tiếng Việt thì chắc chắn điều đó sẽ tạo hiệu quả
cao trong dạy- học tiếng Việt.