Gián án Những hướng tìm tòi trên phương diện kết cấu của tiểu thuyết lịch sử sau 1975 - Pdf 80

Những hướng tìm tòi trên phương diện kết cấu của tiểu thuyết lịch sử sau 1975
ThS. Ngô Thị Quỳnh Nga
(Khoa Ngữ văn - ĐH Vinh)
1. Kết cấu là phương tiện cơ bản và tất yếu của sáng tác nghệ thuật. Hiểu theo nghĩa rộng, có thể nói sáng
tác tức là kết cấu. Bất cứ phẩm văn học nào cũng có một kết cấu nhất định. Đối với các tác phẩm tự sự, kết
cấu là cách xây dựng các nhân vật, các sự kiện và hành động, cách tổ chức các phương thức trần thuật
nhằm diễn tả chủ đề tư tưởng của tác phẩm; cách phân bố các chương, các lớp, các cảnh trong một chỉnh
thể thống nhất để xây dựng nên một bức tranh về đời sống, qua đó đặt ra và giải quyết một vấn đề nào đó
của xã hội. Mỗi tác phẩm văn học có một kết cấu riêng tuỳ thuộc vào đặc trưng thể loại, quan điểm nghệ
thuật và nhiệm vụ nghệ thuật mà nhà văn tự đặt ra cho mình.
Tiểu thuyết lịch sử là thể loại lấy các sự kiện, biến cố, nhân vật lịch sử làm đề tài, cảm hứng sáng tạo. Tuy
nhiên, do quan niệm nghệ thuật và mục đích sáng tác khác nhau nên ở mỗi nhà văn, mỗi giai đoạn sáng tác
có những đặc trưng riêng về kết cấu tác phẩm. Các nhà văn truyền thống viết về đề tài lịch sử nhằm tái hiện
lại bức tranh hoành tráng của lịch sử dân tộc, qua đó thể hiện thái độ ngưỡng vọng, tự hào của người viết.
Các tác giả này mong muốn tác phẩm của mình sẽ là tư liệu lịch sử sinh động, góp phần “truyền lửa” cho
hậu thế. Họ quan niệm sáng tác trước hết là phải trung thực với mọi chi tiết lịch sử mà biên niên sử có ghi.
Mục đích và quan niệm sáng tác này đã chi phối đến hình thức kết cấu tác phẩm. Hình thức kết cấu phổ
biến của các tác phẩm này là viết theo lối ghi chép biên niên. Tác phẩm chủ yếu ghi chép, minh họa lại các
sự kiện, biến cố lịch sử. Nội dung được triển khai theo trình tự thời gian, ít có sự xáo trộn, vì vậy, khi xung
đột trong tác phẩm được giải quyết thì tác phẩm cũng hết. Câu chuyện được kể theo dòng sự kiện, đi theo
những cái đã biết, ít thấy yếu tố bất ngờ, sáng tạo của nhà văn. Chưa cần đọc hết truyện, người đọc đã
đoán biết được diễn biến tiếp theo và kết thúc bởi nhà văn chỉ mô phỏng lại những gì đã có sẵn trong các
sách biên niên sử, dã sử, truyền thuyết. Hình thức kết cấu biên niên có ưu điểm làm sáng rõ chủ đề tư
tưởng của tác phẩm, người đọc dễ nắm bắt nội dung, phù hợp với lối tư duy của người Việt Nam. Tuy
nhiên, với cách viết này nhà văn còn quá lệ thuộc vào những cái có sẵn, chưa phát huy được khả năng độc
lập sáng tạo. Bởi vậy,tác phẩm chưa có sức hấp dẫn, lôi cuốn. Tôn trọng kết cấu biên niên tạo nên những
tác phẩm hao hao giống nhau. Mặc dù nhiều nhà văn đã có ý thức đưa vào các yếu tố “tiểu thuyết” nhưng
đó đơn thuần chỉ là vấn đề kỹ thuật, chưa tạo thành mục đích, yêu cầu nghệ thuật của mỗi nhà văn. Công
việc của các nhà văn viết về đề tài lịch sử vẫn chỉ là “vẽ ra cái quá khứ với ý đồ biện hộ tính cách chính
danh của một triều chính... Và viết tiểu thuyết lịch sử theo cái nhìn quá khứ đó, nhà văn trở thành đồng loã
với quyền lực chính trị, làm công việc kẻ lông mày cho xác chết” [2].

rộng, luôn khao khát được cống hiến, góp phần tạo nên những giá trị chuẩn mực trong đời sống, nhưng lại
là người bảo thủ, không bắt nhịp được với thời cuộc. Số phận của nhân vật An tiêu biểu cho số phận của
những người phụ nữ Việt Nam ở mọi thời biến động. Chiến tranh khiến vợ chồng cô kẻ Bắc người Nam.
Một mình cô phải xoay xở ngược xuôi, làm đủ thứ nghề để nuôi dạy hai con. Nhưng dù ở hoàn cảnh nào An
cũng luôn sống đàng hoàng, tự tin, không bao giờ chịu ngồi yên chấp nhận sự đưa đẩy của số phận. Bên
cạnh đó còn có những số phận gây ám ảnh người đọc không kém như Nguyễn Lữ, Thọ Hương, Kiên,
Lãng... Câu chuyện về cuộc đời của mỗi nhân vật tưởng như độc lập nhưng lại có mối liên hệ chặt chẽ với
nhau. Họ là những mảnh đời góp nhặt từ cuộc sống đầy biến động, phức tạp tạo nên bức tranh đa chiều,
nhiều màu sắc về xã hội Tây Sơn.
Các sự kiện, biến cố trong tiểu thuyết “Gió lửa” của Nam Dao được dán ghép với nhau một cách “tuỳ tiện cố
ý”. Tác phẩm mở đầu bằng không khí huyền thoại, đưa người đọc vào thế giới cổ tích xa xăm. Tác giả
không vội vã giới thiệu ngay nhân vật trung tâm của bức tranh lịch sử mà thử thách sự chờ đợi của người
đọc bằng những câu chuyện về cuộc đời các nhân vật hoàn toàn xa lạ. Đó là câu chuyện về dòng họ Hà ở
bản Mê Thượng, chuyện tình của nàng Mây và Đèo Kha, về Toàn Nhật, Trọng Thức... Nhân vật Nguyễn
Huệ chỉ xuất hiện ở giữa tác phẩm. Nguyễn Huệ được xây dựng là một con người có số phận, tính cách đa
dạng. Con người này vừa xuất chúng lại vừa bình thường thậm chí tầm thường. Ông vừa là một người lãnh
đạo sáng suốt vừa là một nhà nho đĩnh đạc, lại vừa là con người rất bình thường, cũng có lúc tự ti, cuồng
dâm, tàn bạo.
Tiểu thuyết “Giàn thiêu” của Võ Thị Hảo lại là những câu chuyện về cuộc đời mỗi con người mang màu sắc
huyền thoại, đậm tính liêu trai. Thái hậu Ỷ Lan - người đàn bà quyền biến, tài giỏi, có công lớn với đất nước
nhưng lại chết trong nỗi ám ảnh về cái chết của hoàng hậu họ Dương và bảy sáu cung nữ do bà ra lệnh
giết. Cuộc đời vua Thần Tông trải qua những kiếp khác nhau từ chàng Từ Lộ có tình yêu say đắm, trong
sáng với Nhuệ Anh, đến một Từ Lộ trong lòng chỉ có sự hận thù, rồi trở thành một đạo sĩ đức hạnh, sau đó
đầu thai vào cậu bé Dương Hoán và trở thành vua Thần Tông. Đó là cuộc đời một con người mang nhiều
số phận khác nhau nhằm thoả mãn cơn khát quyền lực, dục vọng.
Tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh được chia làm từng phần nhỏ, mỗi phần là câu chuyện về một
cuộc đời, một sự kiện, biến cố. Nếu từng phần này được tách ra sẽ trở thành một truyện ngắn hoàn chỉnh
có tiêu đề, có mở đầu, diễn biến và kết thúc (“Hồ Quý Ly”: I: Hội thề Đồng Cổ, II. Hồ Nguyên Trừng, III. Ông
vua già, IV. Cái chết của ông vua già, V. Trần Khát Chân, VI. Cô gái vườn mai, VII. Vua Thuận Tôn và bà
hoàng Thánh Ngẫu, VIII. Trong vườn ngự uyển, IX. Một ngày của thái sư (1) (Minh Đạo I), X. Một ngày của

Cuộc đời Hồ Quí Ly (trong “Hồ Quý Ly” của Nguyễn Xuân Khánh) không chỉ có những mưu toan, thủ đoạn,
bên trong con người ấy còn có những điều mà ta chưa lường hết được. Đó là những cơn bão lòng, những
bi kịch nội tâm thể hiện qua những lần nói chuyện với con trai và qua dòng độc thoại. Trong “Giàn thiêu”, cái
chết oan uổng của Thái hậu họ Dương cùng bảy sáu cung nữ ám ảnh Hoàng thái hậu Ỷ Lan suốt cả cuộc
đời. Vào giờ phút lâm chung, trong cơn mê sảng bà vẫn “khóc gọi tên Dương thái hậu rồi nghiến răng kèn
kẹt” [4]. Vua Thần Tông, kiếp sau của Từ Lộ có lúc chìm sâu trong những cảm giác miên man, mơ hồ. Gặp
sư bà chùa Trầm - cũng chính là Nhuệ Anh, Thần Tông bị xúc động mãnh liệt. Nhiều cảm xúc không rõ rệt
cùng xuất hiện trong lòng ông: “thổn thức mà trống vắng mà cồn cào, lo sợ. Sợ giây phút cái hình ảnh đang
hiển hiện trước mặt vào kia bỗng chốc sẽ tan biến vào thinh không như một ảo giác” [4]. Đó chính là những
phút giây tĩnh lặng trong tâm hồn con người có nhiều ham muốn, là phút giây ông trở lại là con người thực
của mình.
Với cách kể chuyện theo dòng chảy của ý thức, tác giả như dẫn dắt người đọc vào thế giới bí ẩn, quanh co
của tâm hồn con người, mạch truyện cứ chùng chình, luẩn quẩn trong dòng suy nghĩ của nhân vật khiến
người đọc khó tìm thấy lối ra. Kết cấu của truyện cũng trở nên thiếu mạch lạc, nhiều chỗ đứt đoạn. Xây
dựng tác phẩm theo mạch tâm trạng nhân vật, nhà văn có điều kiện đi sâu vào diễn biến tâm lý phức tạp,
làm cho nhân vật hiện lên với tất cả những gì vốn có của nó.
4. Được tự do bài trí các sự kiện theo ý đồ chủ quan của mình, các nhà văn đã xáo trộn thời gian tuyến tính
một cách “tuỳ tiện” bằng “kỹ thuật dán ghép thời gian”. Kỹ xảo điện ảnh đã được vận dụng vào trong xây
dựng kết cấu. Thông thường, khi viết về lịch sử, xã hội hay số phận con người, người ta thường đi từ không
đến có, từ nhỏ đến lớn, từ phát sinh đến cao trào. Mọi diễn biến của cuộc sống phản ánh trong tác phẩm
đều được đặt trên một trục thời gian từ quá khứ đến hiện tại. Nhưng trong các tác phẩm viết về đề tài lịch
sử sau 1975 trật tự đó lại bị xáo trộn hoàn toàn, đặc biệt là trong tiểu thuyết. Các biến cố, sự kiện trong tác
phẩm không theo trình tự thời gian nhất định mà có sự dán ghép biến cố xa bên cạnh biến cố gần, đưa lịch
sử ra khỏi trạng thái tĩnh, trở nên sống động, tươi mới. Thời gian bị xáo trộn khủng khiếp bởi quá khứ - hiện
tại - tương lai đan xen đồng hiện trong tác phẩm và bởi nhà văn đã đặt điểm nhìn theo dòng hồi ức của
nhân vật. Hồi ức thường không đi theo đường thẳng, vì vậy hồi ức của nhân vật đã bẻ gãy trật tự tuyết tính
thông thường, để điểm nhìn của mình mặc cho hồi ức, cho liên tưởng lôi cuốn và chi phối. Trong các tác
phẩm “Sông Côn mùa lũ”, “Gió lửa”, “Hồ Qúy Ly”, “Mẫu thượng ngàn”... thời gian bị gián đoạn bởi dòng hồi
ức của nhân vật và người kể chuyện. Quá khứ gắn với mối tình đầu dành cho An vẫn thường hiện về trong
tâm trí Nguyễn Huệ (“Gió lửa” - Nam Dao) cắt ngang thực tại. Những lúc ấy tất cả những gì thuộc về An

kheo. Cơn giông sầm đổ. Rồi trời quang tạnh và hoa gạo như những bụm máu qua vai một người con trai.
Thác Oán. Túp lêu lau sậy le lói bếp lửa. Người đàn ông Cá Bơn...” [4]. Kết cấu thời gian này làm cho mạch
truyện trở nên chậm rãi, lắng đọng.
5. Đoạn kết trong các tác phẩm viết về đề tài lịch sử truyền thống thường có mô hình kết thúc có hậu, đến
cuối tác phẩm mọi vấn đề đều được giải quyết một cách trọn vẹn. Vì vậy lịch sử trở thành những gì đã qua,
đã chết, đã hoàn tất ở thì quá khứ. Với các nhà văn sau 1975, lịch sử như là cái gì đó đang vận động, cần
được khám phá, nhìn nhận lại. Bởi vậy, kết thúc tác phẩm thường là kiểu kết thúc bỏ ngỏ, chưa hoàn kết.
Mỗi tác giả có một cách kết thúc khác nhau, tuỳ vào cách nhìn nhận đời sống của mỗi nhà văn. Tác phẩm
không đi theo mô hình chung kết thúc khi xung đột được giải quyết. Trong nhiều tác phẩm, cho đến những
dòng cuối xung đột vẫn chưa được giải quyết mà còn mở ra những khả năng xảy ra khác; cuộc đời của
nhân vật đang tiếp diễn.
Tiểu thuyết “Sông Côn mùa lũ” mở đầu bằng cảnh gia đình An chạy loạn về An Thái, kết thúc cũng lại là
cảnh chạy loạn của mẹ con An. Cách kết thúc đầu cuối tương ứng đó đã khắc sâu trạng thái tâm lý hoảng
loạn của người dân trước những biến động của lịch sử. Số phận của người dân thật nhỏ bé và bấp bênh,
luôn phụ thuộc vào sự xoay chuyển của những người cầm quyền.
Tiểu thuyết “Gió lửa” lại có một kết thúc đầy ám ảnh. Đó là lời cầu kinh sám hối mong thoát khỏi lời nguyền
của Chế Mân. Những người có tâm huyết xây dựng một kỷ nguyên mới tốt đẹp như Nguyễn Huệ, Trọng
Thức, Ngô Thì Nhậm... đã ra đi khi dự định còn dang dở. Những người đang sống như Toàn Nhật, Dương
Quang, Đặng Thị Mai... vẫn đang dốc lòng mình làm những điều tốt đẹp cho đời. Đặc biệt là thế hệ sau như
Nguyễn Trường Tộ sẽ là những người hoàn thành ước mơ mà lớp cha ông đi trước chưa làm được. Họ sẽ
là những người xoá bỏ lời nguyền của Chế Mân. Kết thúc tác phẩm đem đến cho người đọc niềm tin vào sự
phát triển đi lên của đất nước.
Lịch sử trong tiểu thuyết “Hồ Quý Ly” vẫn đang vận động biến chuyển với kết thúc bỏ ngỏ. Giải quyết xong
vụ hành thích phe đối lập, Hồ Quý Ly tiếp tục những toan tính, thủ đoạn để đạt được mục đích của mình và
vẫn cô đơn. Xã hội vẫn đang trong thời “thiên tuý”, chưa có hình thái mới thay thế. Nhưng ta vẫn tin tưởng
sẽ có sự thay đổi, dù là chậm bởi vẫn có những người khao khát cống hiến và mong muốn cân bằng xã hội
như Nguyên Trừng.
Ở tiểu thuyết “Giàn thiêu”, truyện kết thúc nhưng dường như vẫn chưa hết chuyện. Dương Hoán - kiếp
kháccủa Đạo Hạnh chết nhưng các đệ tử của sư Đạo Hạnh vẫn thấy “Nhục nhân đại sự vẫn an thiên trên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status