Bộ giáo dục và đào tạo
TrƯờng đại học nông nghiệp hà nội
---------------------- Lê anh thuỷ Nghiên cứu Sự PHáT TRIểN NON SàO
CủA cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss)
ĐƯợc Nuôi ở THáC BạC - sapa lào cai Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chuyên ngành : nuôi trồng thuỷ sản
Mã số : 60.62.70
Ngời hớng dẫn khoa học : TS. Nguyễn dơng dũng
Hà nội 2008
i
ii
LỜI CẢM ƠN
Lời ñầu tiên, tôi xin ñược trân trọng cảm ơn Viện Nghiên cứu nuôi
trồng thủy sản I, Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội, ñã hết sức tạo mọi
ñiều kiện cho chúng tôi, những học viên lớp cao học nuôi trồng thủy sản khoá
8 có ñược khoá học này.
Trong thời gian học tập và thực hiện ñề tài luận văn tốt nghiệp, tôi ñã
nhận ñược rất nhiều sự giúp ñỡ của các tổ chức, cá nhân. Qua ñây, tôi xin
ñược bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ñến các tổ chức, cá nhân ñó.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ñến TS. Nguyễn Dương Dũng,
người ñã trực tiếp giúp ñỡ tôi thực hiện và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn NCS. Trần ðình Luân, ThS. Nguyễn Thanh
Hải và các cán bộ Trung tâm nghiên cứu cá nước lạnh Thác Bạc - SaPa – Lào
Cai, Trung tâm quan trắc cảnh báo dịch bệnh và môi trường - Viện Nghiên
cứu nuôi trồng thủy sản I ñã tạo ñiều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất cho tôi
trong quá trình thực hiện ñề tài tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn dự án NORAD, phòng ðào tạo và Hợp tác
quốc tế, Phòng Di Truyền - Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I ñã tạo ñiều
kiện thuận lợi cho tôi học tập và thực hiện hoàn thành luận văn. Bắc Ninh, ngày 20 tháng 11 năm 2008.
3.3.2. Xác ñịnh hệ số thành thục 14
3.3.3. Xác ñịnh sức sinh sản tuyệt ñối 14
iv
3.3.4. Xác ñịnh sức sinh sản tương ñối 15
3.4. Phương pháp xử lý số liệu 15
PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 16
4.1. Sự phân biệt ñực cái 16
4.1.2. Các giai ñoạn phát triển của buồng trứng
4.2. Hệ số thành thục và sức sinh sản của cá hồi vân
17
23
4.2.1. Hệ số thành thục 23
4.2.2. Sức sinh sản 27
PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ ðỀ XUẤT Ý KIẾN 29
5.1. Kết luận 29
5.2. ðề xuất ý kiến 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
PHỤ LỤC 35
v
trung du, miền núi ñến ven biển. Tùy theo ñiều kiện tự nhiên về ñịa hình, khí
hậu và diện tích mặt nước mà có sự phát triển ở phạm vi và mức ñộ khác
nhau. Sản phẩm thủy sản có giá trị dinh dưỡng cao, là nguồn thực phẩm quan
trọng trong ñời sống nhân dân vì chúng có chứa hàm lượng protein cao, hàm
lượng lipit thấp, dễ tiêu hóa và dễ hấp thu. Ngoài ra nguồn thu nhập ngoại tệ
từ xuất khẩu sản phẩm thủy sản liên tục tăng lên trong những năm gần ñây,
ñóng vai trò ñáng kể trong kim ngạch xuất khẩu của nước ta. Riêng nghề nuôi
trồng thủy sản nước ta có nhiều tiềm năng ñể phát triển kể cả từ vùng nước
ngọt, nước lợ ñến nước mặn.
ða dạng hóa giống loài thuỷ sản nuôi trong ñó chú trọng ñến các loài có
giá trị kinh tế cao ñược xem là mục tiêu chiến lược của ngành, nhằm: Ngày
càng ñáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và thúc ñẩy nghề nuôi trồng thủy
sản nước ngọt phát triển.
Cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss) là loài cá nuôi nước ngọt có giá trị
kinh tế cao, thịt cá thơm ngon và có chứa nhiều yếu tố vi lượng, khoáng, a xít
béo không no rất có giá trị cho sức khoẻ của con người. Loài cá này ñang
ñược nuôi phổ biến ở một số nước trên thế giới như: Na Uy, Phần Lan, ðạn
Mạch, Anh, Úc, Mỹ... Ở Châu Á một số nước như: Ấn ðộ, Nê Pan, ðài Loan,
Trung Quốc, Israel, Hà Quốc, Thái Lan... Sedgwick (1990) không chỉ thành
công trong việc nuôi thương phẩm cá hồi vân mà còn chủ ñộng sản xuất ñược
giống của loài cá này.
Ở Việt Nam cá Hồi vân ñã và ñang ñược nuôi thương phẩm tại Sa Pa,
Lâm ðồng, Sơn La, Hà Giang. Kết quả bước ñầu cho thấy: ðối tượng này có
2
thể nuôi rộng rãi ở một số ñịa phương miền Bắc Việt Nam nơi có nguồn nước
lạnh với nhiệt ñộ thấp hơn 20
0
C. Tuy nhiên việc nghiên cứu sinh sản nhân tạo
ñối tượng này chưa ñược tiến hành. Do ñó, việc nghiên cứu ñặc ñiểm sinh học
nhau có thể nuôi trong nước ngọt như Brow trout, Brook trout, Lake trout...
nhưng hiện nay các trang trại sản xuất giống và nuôi cá hồi vân ở khu vực
Châu Á chủ yếu tập trung vào loài cá hồi vân (Rainbow trout) này.
Về phân loại cá hồi vân Rainbow trout - Oncorhynchus mykiss thuộc:
Bộ: Salmoniformes
Họ: Salmonidae
Giống: Oncorhynchus
Loài: Oncorhynchus mykiss
2.1.2. ðặc ñiểm hình thái và phân bố
- ðặc ñiểm hình thái: Trên thân cá ở lưng, lườn, ñầu và vây có các
chấm màu ñen hình cánh sao, khi thành thục dọc 2 bên thân xuất hiện các vân
mầu hồng, mầu hồng này trên cá ñực ñược biểu hiện rất ñặc trưng trong mùa
sinh sản (Stevenson, 1987; Russell và et al., 1999). Một số ñặc ñiểm hình thái
bên ngoài như mầu sắc, mức ñộ lấp lánh... của cá hồi vân còn liên quan ñến
chất lượng môi trường như ñộ ñục, cường ñộ chiếu sáng, tuổi, giới tinh và
thành phần một số nguyên tố vi lượng trong thức ăn sử dụng hàng ngày
(Delaney Kevin, 1994).
Cá hồi vân có hình dáng thuôn, thon dài với 60 – 66 ñốt sống, 3 – 4 gai
sống lưng, 10 – 12 tia vây lưng, 8 – 12 tia vây hậu môn và 19 tia vây ñuôi.
Trong các vây có chứa lớp mô mỡ, mép vây thường có màu ñen. [42]
- Phân bố: Cá hồi vân O. mykiss có nguồn gốc từ vùng biển Thái Bình
Dương khu vực Bắc Mỹ. Chúng sống trong các hồ, suối và sông. Loài cá này
ñã ñược di nhập vào nuôi ở nhiều nước châu Âu từ những năm 1890
4
(Stevenson, 1987; Boujard et al., 2002). Cá hồi bao gồm nhiều nhóm có ñặc
ñiểm sinh sống, phân bố và chu kỳ phát triển khác nhau. Trong ñó có thể kể
ñến 2 nhóm chính bao gồm nhóm sinh sống ngoài biển và nhóm sinh sống và
phát triển trong các thuỷ vực nước ngọt. Ngoài ra, có nhóm sinh trưởng và
phát triển tốt trong cả nước ngọt và nước lợ (Sedgwick S.D., 1990). Loài cá
1990), 16,5 – 17,2
0
C (Colt và ctv, 2001). Cá hồi vân bắt mồi tốt nhất ở nhiệt
ñộ 15
0
C (Boren Jon và ctv, 2003). Theo Pike, I.H và ctv, (1990) nên dừng cho
cá ăn khi nhiệt ñộ nước ở trên mức 22
0
C.
Tuy nhiên, theo Hardy và ctv, (2000) thì cá hồi vân có thể sinh trưởng
khi nhiệt ñộ nước lên tới 25
0
C và ở mức nhiệt ñộ thấp nhất là 3,3
0
C (Hinshaw,
1999). Nhiệt ñộ nước trong các trại nuôi cá hồi vân nên duy trì trong khoảng
12 – 20
0
C [36], không nên vượt quá 21 – 23
0
C trong một thời gian dài
(Sedgwick, 1985). Cá chết nhiều khi nhiệt ñộ ở mức ≥ 24
0
C (Huet, 1986) và
25 – 27
0
C (Sedgwick, 1985). Khả năng sử dụng thức ăn và tốc ñộ sinh trưởng
sẽ giảm dần rồi ngừng hẳn khi nhiệt ñộ nước ở mức trên 20
0
C, ñây là ngưỡng
1991), từ 6,7 – 8 (Cho, C. Y và ctv, 1991) và 6 – 8 [43] nhưng thích hợp nhất
là 7 – 7,5 (Sedgwick, SD., 1985).
Nhiều nghiên cứu gần ñây cho thấy cá hồi vân có thể thích nghi với ñiều
kiện pH thấp. Cá hương, cá giống và cá trưởng thành có thể sống khi pH ở
6
mức dưới 5. Tuy nhiên, ở mức pH thấp thì sẽ không tốt cho sự phát triển của
phôi và cá bột. Với mức pH 4,5 – 5,5 tỷ lệ nở của trứng giảm và pH ở mức ≤
4,3 phôi cũng như cá bột sẽ bị chết. Khi pH > 9 cá hồi có thể chết, ñặc biệt là
ở giai ñoạn phôi phát triển và cá bột (Monoly, 2001)
2.1.4. ðặc ñiểm dinh dưỡng
Trong tự nhiên cá còn nhỏ thường ăn ấu trùng côn trùng, giáp xác nhỏ và
ñộng vật phù du. Khi trưởng thành chúng ăn giáp xác (ốc, trai ...), côn trùng
trong nước và cá nhỏ. Cá hồi là loài cá ăn ñộng vật, khi cá trưởng thành
chuyển sang ăn các loài côn trùng, giáp xác và cả cá con (Cho, C.Y và Colin
Cowey, 1991; Hardy và ctv, 2000). Năm 1924, Embody và Gordon ñã tiến
hành nghiên cứu ñầu tiên về thức ăn tự nhiên của cá hồi vân, kết quả cho thấy
trong thức ăn tự nhiên của cá hồi vân có hàm lượng protein, mỡ và các
khoáng chất lần lượt là 45%, 16 – 17% và 12% (Hardy và ctv, 2000).
Sau khi nở, cá sử dụng khối noãn hoàng ñể làm thức ăn. Khi khối noãn
hoàng ñược hấp thụ gần hết chúng bắt ñầu dinh dưỡng bằng thức ăn ngoài
bằng cách tìm kiếm thức ăn ở tầng nước mặt. Cá hồi vân bột có kích cõ khá
lớn cho nên có thể sử dụng thức ăn công nghiệp dạng viên nhỏ ñể ương cá ở
giai ñoạn ñầu (Hardy và ctv, 2000; Hardy, 2002)
2.1.5. ðặc ñiểm sinh trưởng
Tỷ lệ sống của cá hồi vân khi ương, nuôi ñạt cao hơn so với các loài cá
hồi khác. Trong ñiều kiện nuôi với cỡ giống thả 30g/con, cá có thể ñạt khối
lượng bình quân 250 – 300 g/con sau 8 tháng nuôi, 600 – 1000 g/con sau 2
năm nuôi và ñạt 2000 g/con sau 3 năm nuôi. Thời gian ñạt kích thước thương
phẩm này là từ 1,5 – 2,0 năm trong ñiều kiện dùng thức ăn công nghiệp có
ñến tháng 5. Nhiệt ñộ nước thích hợp cho cá hồi vân sinh sản từ 2 – 15
0
C
(Hardy và ctv, 2000), tối ưu là 10 – 12,8
0
C (Cain và ctv, 1993). Tuy nhiên
theo Huet (1986) cá có thể ñẻ từ tháng 12 thậm chí còn sớm hơn. Cá ñẻ sớm
hay muộn phụ thuộc vào nguồn gốc phân bố và thời tiết của từng năm
(Delaney Kevin, 1994). Cá hồi vân sống ở biển có thể ñẻ vào cuối tháng 12
(Hardy và ctv, 2000; Hardy, R.W., 2002). Trong ñiều kiện nuôi vỗ trong ao,
bể cá hồi vân bố mẹ có thể thành thục nhưng chúng không có khả năng ñẻ tự
nhiên. Do vậy ñể sản xuất cá giống ta có thể cho cá ñẻ nhân tạo hoặc thu
8
trứng ngoài tự nhiên về ấp nở. Thời gian ấp nở tùy thuộc vào nhiệt ñộ nước.
Ở nhiệt ñộ 4,5
0
C trứng sẽ nở sau 80 ngày, ở 10
0
C là 31 ngày và ở 15
0
C là 19
ngày (Hardy, RW., và ctv, 2000; Hardy, RW., 2002). Theo Hinshaw, JM và
ctv, (2002) với nhiệt ñộ 12,8
0
C sau 3 tuần trứng sẽ nở kể từ khi ñược thụ tinh
và tính từ khi phôi có ñiểm mắt thì thời gian ấp nở chỉ mất 4 – 7 ngày, nhưng
ở 7,2
0
C phải sau 7 tuần trứng mới nở. Nghiên cứu của Steven (2002) cho thấy
(41.000 tấn) và Italia (40.000 tấn). Tổng sản lượng cá hồi nuôi ở 4 nước này
chiếm tới 48% tổng sản lượng trên toàn thế giới. Năm 1997 Mỹ ñã sản xuất
ñược 25.777 tấn chiếm 7% tổng sản lượng cá hồi vân toàn cầu (Carl
D.Webster; Chorn Lim, (2002).
Cũng theo thống kê của FAO (2006), sản lượng cá hồi vân tại Ireland lại
giảm 20%, từ 1.803 tấn (năm 2002) xuống 1.451 tấn vào năm 2003. Tuy
nhiên, tại quốc gia này có cả 2 loại hình nuôi cá hồi vân: nuôi nước ngọt và
nước mặn. Trong khi mô hình nuôi cá hồi vân nước mặn giảm tới 59% thì
nuôi cá nước ngọt lại tăng lên 18% [16].
Phần Lan cũng là một trong những quốc gia ñã thành công trong việc gia
hóa và phát triển nuôi cá hồi vân rất sớm, từ những năm 1960 (Abbors, 2000).
Theo Abbort (2000) ñã thống kê trong tạp chí Eurofish, sản lượng cá hồi vân
ở nước này ñã ñạt khoảng 18.000 tấn vào những năm 1990. Tuy nhiên sản
lượng này ñã giảm xuống chỉ còn khoảng 12.000 tấn năm 1999. Hiện nay
Phần Lan vẫn là một trong những nước có nhiều công trình nghiên cứu và
phát triển sản xuất cá hồi vân, sản lượng trung bình hàng năm hiện nay
khoảng 10.000 tấn (Abbors, 2000).
Tại Trung Quốc tính ñến năm 1994 ñã có khoảng 50 trại nuôi cá hồi vân
tại 10 tỉnh trong cả nước, tuy nhiên chủ yếu vẫn là các trại sản xuất quy mô
nhỏ. Tổng sản lượng cá hồi vân từ các trại sản xuất này chỉ vào khoảng 1.000
tấn (năm 1993), phần lớn ñược sản xuất từ các tỉnh như Gansu, Qinghai,
Shandong và Shanxi. Trong ñó Qinghai là nơi có sản lượng cá hồi vân cao
nhất, cung cấp cho nhiều ñịa phương khác trong nước (Zhao Yimin, 1994). 10
2.2.2. Tình hình nuôi cá hồi vân tại Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt ñới, tuy nhiên miền Bắc có mùa lạnh kéo
dài từ tháng 11 năm trước ñến hết tháng ba năm sau. ðặc biệt một số vùng núi
cao có nhiệt ñộ thấp, phù hợp với ñặc ñiểm sinh học của loài cá này. Năm
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Nghiên cứu sự phát triển của noãn bào và buồng trứng cá hồi vân.
a) Chuẩn bị tiêu bản.
+ Thu và cố ñịnh mẫu:
Mẫu ñược thu từ tháng 01 ñến tháng 11 năm 2008 (ñịnh kỳ thu mẫu
tuyến sinh dục cá hồi vân 2 lần/ tháng)
Thu mẫu trứng: Mổ 11 cá cái lấy trứng tại phần ñầu, giữa và cuối của
buồng trứng, mỗi phần lấy 1 x 1 x 1 cm.
Thu mẫu buồng trứng: Mổ 21 cá cái lấy buồng trứng.
Trứng và buồng trứng sau khi lấy ñược cố ñịnh trong dung dịch Bouin
với các thành phần như sau: 15 phần axit picric bão hòa + 05 phần formalin
40% + 01 phần axit axetic 98%. Mẫu ñược ñịnh hình trong dung dịch cố ñịnh
có thể tích gấp 5 – 10 lần thể tích mẫu với thời gian 24 h sau ñó ngâm trong
12
nước sạch 1 – 3 h. Thay nước 2 – 3 lần rồi chuyển mẫu vào bảo quản trong
cồn 70
0
. Sau khi cố ñịnh mẫu ta tiến hành chuẩn bị tiêu bản theo phương pháp
của David E. Hilton, gồm các bước sau:
Khử nước trong mẫu.
Lần lượt chuyển mẫu qua cồn Êtylic với các nồng ñộ khác nhau tăng
dần: Cồn 70%: 1 lần trong 30 – 60 phút
Cồn 95%: 3 lần trong 30 – 60 phút
Cồn 100%: 3 lần, mỗi lần 30 – 60 phút
Làm trong mẫu.
Mẫu sau khi khử nước ñược làm trong bằng Xilen
Xilen I: 1 lần trong 60 phút
Xilen II: 1 lần trong 60 phút
Mẫu ñược nhuộm bằng phương pháp của Sheehan E. Harpchark, 1980
gồm các bước:
- Loại bỏ Parafin ở lát cắt. Ngâm mẫu lần lượt vào Xilen I: với thời gian
3 - 5 phút; Xilen II: với thời gian 3 - 5 phút.
- Làm cho mẫu no nước: Mẫu ñược chuyển qua các cốc cồn với nồng ñộ
Cồn 100
0
: 2 – 3 phút
Cồn 100
0
: 2 – 3 phút
Cồn 95
0
: 2 – 3 phút
Cồn 70
0
: 2 – 3 phút
Sau ñó nhúng trong nước sạch 3 – 6 lần
- Nhuộm Hematoxylin: mẫu ñược ngâm trong hematoxylin 4 – 6 phút,
sau ñó rửa dưới vòi nước chảy nhẹ 4 – 6 phút.
- Nhuộm Eosin: Mẫu ñược ngâm trong Eosin 2 – 4 phút
- Loại nước khỏi mẫu: Mẫu ñược chuyển qua cồn có các nồng ñộ và thời
gian như sau:
Cồn 70
0
: 3 – 5 phút
Cồn 95
0
: 3 – 5 phút
Cồn 100
3.3.3. Xác ñịnh sức sinh sản tuyệt ñối.
Sức sinh sản tuyệt ñối ñược xác ñịnh theo công thức:
N
F
a
=
P
x W
tsd
Trong ñó F
a
: Sức sinh sản tuyệt ñối
W
tsd
: Khối lượng tuyến sinh dục
P: Khối lượng mẫu
N: Số lượng trứng của mẫu 15
3.3.4. Xác ñịnh sức sinh sản tương ñối.
Sức sinh sản tương ñối ñược xác ñịnh theo công thức:
F
a
F
rg
=
W
+ Cá cái: Khi cá cái ñến giai ñoạn thành thục thì phần phụ sinh dục lồi
nhô hẳn ra bên ngoài và có màu hồng ñỏ. Dọc hai bên vẩy ñường bên và nắp
mang có vân màu hồng. Màu sắc của cá sáng, bụng cá to và mềm.
+ Cá ñực: ðến mùa sinh sản toàn thân cá có màu sậm hơn cá cái kể cả ở
vây. Hai bên nắp mang và dọc 2 bên ñường bên có vân màu hồng ñỏ sậm,
bụng cá nhỏ hơn. Phần sinh dục lồi có màu hồng.
Tuyến sinh dục của cá hồi vân ở giai ñoạn I rất khó phân biệt ñược ñực,
cái. Từ giai ñoạn II trở ñi, phân biệt noãn sào và tinh sào dễ hơn. Bằng mắt
thường có thể nhìn thấy hạt trứng.
Tinh sào của cá hồi vân gồm 2 buồng tinh có kích thước gần bằng nhau
ñược nối với nhau bằng ống dẫn tinh thông ra ngoài qua lỗ sinh dục. Ở mỗi
buồng tinh có một mạch máu lớn chạy dọc từ ñầu ñến cuối và có nhiều mạch
máu nhỏ phân nhánh tảo ra 2 bên. Ở giai ñoạn IV, tinh sào mềm, khi cắt nhẹ
có tinh dịch màu trắng sữa chảy ra.
Buồng trứng của cá hồi gồm hai thùy nằm sát thành cơ thể, dọc hai bên
sống lưng kích thước gần bằng nhau, hình thuôn dài và ñược treo lên vách
xoang cơ thể nhờ màng treo của buồng trứng. Phía cuối của 2 dải ñổ chung
vào một ống và thông ra ngoài theo lỗ sinh dục. Kích thước của buồng trứng
17
thay ñổi theo mức ñộ thành thục. Buồng trứng của cá hồi có màu vàng nghệ
hoặc màu ñỏ tươi ở cuối giai ñoạn IV.
Hình 4.1. Ảnh buồng trứng giai ñoạn IV
Trong giai ñoạn này ñộ lớn và mức ñộ phân bố mạch máu trên buồng
trứng cũng tăng lên và rõ ràng hơn về cuối giai ñoạn IV. Các hạt trứng xếp
khít với nhau tạo thành phiến và ñược bao bọc bởi màng trứng.
4.1.2. Các giai ñoạn phát triển của buồng trứng.
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng bậc thang của Sakun và
Butskaia (1978).
Hình 4.2. Noãn bào giai ñoạn II
thước lớn nhất và có thể nhìn thấy chúng bằng mắt thường. Cuối giai ñoạn
này bằng mắt thường ta ñã phân biệt ñược ñực cái. Kích thước tuyến sinh dục
chiếm thể tích nhỏ trong xoang bụng của cá. Kết quả phân tích tổ chức mô