Chương 2: THU THẬP DỮ LIỆU
(Collecting data)
Đặt vấn đề:- Nghiệp vụ TK trong thực hành có thể chia thành 3 giai đoạn (3 bước
nghiệp vụ) là thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu. Song tổng hợp và
phân tích dữ liệu trong thực tế cũng khó có thể phân biệt rạch ròi. Mặt
khác, nội dung chủ yếu của 2 bước nghiệp vụ này chính là các
phương pháp trình bày và suy diễn dữ liệu sẽ nghiên cứu ở các
chương sau.
- Từ đó, bắt đầu tiếp cận với các phương pháp TK, chương 2 nghiên
cứu nội dung thu thập dữ liệu.
- Dữ liệu cần thu thập có thể là dữ liệu sơ cấp hoặc thứ cấp, song nội
dung phong phú của hoạt động này là thu thập dữ liệu sơ cấp.
Mục đích nghiên cứu:
- Hình dung khái quát về bước thu thập dữ liệu thống kê.
- Chú trọng nghiên cứu hình thức thu thập thông tin theo phương án
điều tra.
Tài liệu tham khảo cho SV:
- Thuật ngữ TK thông dụng- www.gso.gov.vn
- Các phương án điều tra TK nhà nước -www.gso.gov.vn
- Hệ thống Bảng câu hỏi trong thực tế điều tra nghiên cứu thị trường
của các doanh nghiệp, điều tra xã hội học,…
- Các giáo trình thống kê ứng dụng, Exel, SPSS.
1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THU THẬP DỮ LIỆU (TTDL).
1.1. Phân loại:
1.1.1. Căn cứ vào tính chất thường xuyên, liên tục của việc TTDL:
▼Điều tra thường xuyên: TTDL thường xuyên theo sự phát sinh, phát triển của
hiện tượng. TD: ghi chép hàng ngày ở các đơn vị.
▼Điều tra không thường xuyên: bao gồm:
* Điều tra định kỳ: TTDL không thường xuyên nhưng có định kỳ. TD: tổng ĐT dân
số (10 năm), kiểm kê kho định kỳ (hàng tháng , quí, cuối năm),…..…
▼Nhóm phương pháp gián tiếp:
- Qua chứng từ, sổ sách có sẵn.
- Qua internet, các kênh thông tin gián tiếp khác.
- Tự ghi báo: phát phiếu điều tra; gửi bảng câu hỏi trên báo, tạp chí;…
Theo cách tiếp cận khác, có thể phân biệt các phương pháp TTDL gồm:
- Phỏng vấn.
- Quan sát: trực diện, giấu mặt,..
- Phân tích dữ liệu có sẵn.
- Thực nghiệm.
2. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐIỀU TRA THỐNG KÊ.
2.1. Phương án điều tra (statistical survey design): văn bản được xây dựng trong
giai đoạn chuẩn bị điều tra, qui định rõ những nội dung cần giải quyết hoặc cần
hiểu thống nhất trong, trước và sau khi tiến hành điều tra.
Nội dung cơ bản gồm:
2.1.1. Mục đích, yêu cầu điều tra.
- Cần xác định mục đích chính.
- Mục đích phải được xác định rõ ràng và số lượng mục đích không nhiều.
- Là cơ sở để xác định các nội dung khác trong cuộc điều tra: đối tượng điều tra, nội
dung điều tra,…
Thí dụ: Mục đích điều tra của tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 của VN
(TĐT) là:
● Phục vụ công tác nghiên cứu, phân tích và dự báo quá trình phát triển dân số và
nhà ở trên phạm vi cả nước và từng địa phương;
● Đáp ứng nhu cầu thông tin đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh
tế-xã hội thời kỳ 2001-2010, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội thời kỳ
2010-2020 và giám sát thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của liên hợp quốc
mà chính phủ Việt nam đã cam kết;
● Cung cấp số liệu cơ bản về dân số và nhà ở của các đơn vị hành chính nhỏ nhất,
bổ sung nguồn số liệu cho các cuộc điều tra thường xuyên, cung cấp dàn mẫu và cơ
- Nội dung điều tra phải nhằm đạt được mục đích điều tra đồng thời hệ thống câu
hỏi phải sâu sắc theo đặc thù của đối tượng điều tra. Điều này đòi hỏi người thiết
kế Bảng câu hỏi phải am tường đối tượng điều tra và nắm vững mục đích điều tra.
Thí dụ: Nội dung điều tra trong TĐT trên phiếu điều tra toàn bộ gồm: các thông tin
cá nhân (tên, giới tính,…), quan hệ với chủ hộ, tình hình đi học hiện nay, trình độ
học vấn và trình độ chuyên môn nghiệp vụ,…
.
2.1.4. Thời điểm điều tra (thời kỳ điều tra), thời gian thu thập thông tin.
- Có những hiện tượng cần qui định cụ thể đến thời điểm (giờ) điều tra như tổng
điều tra dân số hoặc ngày kê khai hiện tượng như điều tra chăn nuôi, có hiện tượng
cần qui định thời kỳ ( tuần, tháng, quí,…) điều tra.
- Qui định thời điểm, thời kỳ điều tra là nhằm tránh kê khai trùng lắp hay bỏ sót đối
tượng điều tra trong thu thập tài liệu.
- Cần chú ý chọn thời điểm điều tra vào lúc hiện tượng ổn định nhất và thuận tiện
cho việc thu thập thông tin.
* Thời điểm điều tra: mốc thời gian kê khai thống nhất thông tin của đối tượng
điều tra.
TD: + Thời điểm điều tra của TĐT là 0 giờ ngày 1/4/2009.
+ Thời gian thu thập thông tin tại địa bàn bắt đầu từ 7 giờ sáng 1/4/2009 đến
ngày 20/4/2009.
* Thời kỳ điều tra: khoảng thời gian ( tuần, tháng, quí,…) kê khai thông tin của đối
tượng điều tra được tích lũy trong cả thời kỳ đó.
TD: Thời kỳ điều tra để tính GDP thường kỳ là 1 năm,…
Như vậy, khi qui định thời điểm điều tra thì không qui định thời kỳ điều tra và
ngược lại.
* Thời gian thu thập thông tin: khoảng thời gian qui định dành cho việc thu thập
thông tin.
2.1.5. Phương pháp điều tra.