Đầu tư phát triển giáo dục của tỉnh Phú Thọ - Pdf 81

LỜI MỞ ĐẦU
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” chính vì vậy mà đầu tư phát triển giáo dục
luôn được ưu tiên phát triển hàng đầu trong chính sách đầu tư phát triển của mỗi quốc
gia, dù là nước phát triển hay đang phát triển. Tầm quan trọng của việc đầu tư phát
triển giáo dục được thể hiện rất rõ ở những nước đang phát triển như Việt Nam . Đầu
tư phát triển giáo dục luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và
toàn thể nhân dân. Bởi đất nước muốn vươn lên sánh vai với các cường quốc năm
châu thì trước hết phải có những con người có tri thức, có hiểu biết và nắm bắt được
khoa học công nghệ, đặc biệt là trong điều kiện đất nước hội nhập toàn cầu như hiện
nay.
Nhận thức được tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục và đào tạo nên Tỉnh uỷ Phú
Thọ, các cấp lãnh đạo tỉnh Phú Thọ và toàn thể nhân dân tỉnh Phú Thọ đã thực hiện
nhiều chủ chương, nghị quyết để đầu tư phát triển giáo dục như: chương trình kiên
cố hoá trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên, chương trình phổ cập các bậc
học: mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông ,nghị quyết 33/2002/
NQ-HĐND-KXV về tăng cường cơ sở vật chất trường học…Dưới sự lãnh đạo đúng
đắn, tài tình của các cấp lãnh đạo tỉnh nên các chủ chương, nghị quyết đưa ra đều
được thực hiện nghiêm túc và đem lại hiệu quả cao, góp phần thúc đẩy sự nghiệp
giáo dục hoá của tỉnh Phú Thọ nói riêng và toàn xã hội nói chung.
Bản thân em cũng nhận thức được vai trò to lớn của đầu tư phát triển giáo dục nên
với nhiệm vụ của một sinh viên Kinh tế đầu tư và một người con của quê hương đất
tổ Phú Thọ, em đã mạnh dạn lựa chọn đề tài chuyên đề thực tập của mình là: “Đầu
tư phát triển giáo dục của tỉnh Phú Thọ”.
Chuyên đề thực tập của em tuy đã hoàn thành nhưng có thể chưa hoàn thiện và còn
nhiều sai xót vì vậy em rất mong được sự tham gia đóng góp ý kiến của cô giáo
hướng dẫn, các thầy – cô trong khoa và các bạn sinh viên để chuyên đề thực tập của
em được hoàn thiện hơn, hiệu quả hơn và đem lại những kiến thức thực tế, hữu ích
về chủ chương, kế hoạch và quá trình triển khai thực hiện đầu tư cho các bạn sinh
viên.
CHƯƠNG I
THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN

tuệ, nhân lực, vật lực, tài lực cho giáo dục – đào tạo. Kết hợp giáo dục nhà trường,
giáo dục gia đình và giáo dục xã hội, tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh ở mọi
nơi, trong từng cộng đồng, từng tập thể.
Phát triển nguồn nhân lực bao gồm cả về số lượng và chất lượng dân số, nhưng hiện
nay chất lượng giáo dục là trọng tâm của phát triển nguồn nhân lực nhất là đối với
các nước đang phát triển, đông dân số và chất lượng nguồn nhân lực thấp như Việt
Nam. Thực tế cho thấy, lợi ích thu được từ việc đào tạo nguồn nhân lực mà cụ thể là
thông qua giáo dục – đào tạo rất lớn. Trình độ nguồn nhân lực trung bình ở một
nước cao hơn cho phép tăng trưởng kinh tế tố hơn và điều chỉnh tốt hơn đối với các
vấn đề dân số, kế hoạch hoá gia đình, môi trường và nhiều vấn đề khác.
Tỉnh Phú Thọ là một tỉnh miền núi nghèo, kinh tế manh mún chưa phát triển vì thế
rất cần có nguồn lực đủ cả về số lượng và chất lượng để góp sức phát triển kinh tế.
Do đó, đầu tư phát triển giáo dục là nhiệm vụ cần thiết và tiên phong trong chủ
chương phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh.
1.1.2. Về quy mô giáo dục.
- Về mạng lưới trường học: Toàn tỉnh hiện có 905 trường học, tăng 49 trường so với
năm 2002; trong đó mầm non 300 trường, tiểu học 296 trường, trung học cơ sở 250
trường, trung học phổ thông 59 trường. Hiện nay ở mỗi xã , phường, thị trấn đều có
ít nhất 1 trường mầm non, trường tiểu học,trường trung học cơ sở; mỗi huyện, thành
thị đều có từ 2 trường trung học phổ thông trở lên. Về cơ bản đã tạo thuận lợi cho
trẻ em đến trường, đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân các dân tộc trong
toàn tỉnh.
- Về quy mô: Quy mô lớp, học sinh bắt đầu tăng trở lại đối với tất cả các ngành học
và bậc học. Năm học 2007-2008 toàn tỉnh có 3.177 nhóm trẻ và lớp mẫu giáo, 8.229
lớp phổ thông. Tổng số học sinh mầm non và phổ thông là 290.985 học sinh, chiếm
22,4% dân số. Tỷ lệ huy động trẻ em ra nhà, nhóm trẻ đạt 14,8%; học sinh trong độ
tuổi ra lớp mẫu giáo đạt 85,1%( trong đó học sinh 5 tuổi đạt 98,1%); tỷ lệ trẻ em từ
độ tuổi 6-10 tuổi đi học tiểu học đạt 99,8%, trẻ em từ 11-14 tuổi đi học trung học cơ
sở chiếm 97,2%; tỷ lệ thanh thiếu niên từ15- 17 tuổi đi học phổ thông đạt 59,5% .
1.1.3. Về phòng học và chất lượng phòng học

đào tạo, đạt 82,6%. Còn 112 trường phổ thông chưa có thư viện đạt chuẩn.
1.1.5. Về nhà công vụ giáo viên.
Nhà ở tập thể cho giáo viên là mục tiêu quan trọng được Thủ tướng chính phủ đưa
vào nội dung kiên cố hoá trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn
2008-2012( quyết định số 20/2008/QĐ-TTg ngày 1/2/2008). Hiện nay, nhà công vụ
giáo viêncó 903 phòng với 12.960 m
2
, trong đó có 20 phòng bán kiên cố đã xuống
cấp, 41 phòng tranh tre.
Trong những năm qua, để giải quyết tình trạng thiếu giáo viên, tỉnh đã tuyển dụng
và điều động giáo viên tăng cường cho các trường học vùng miền núi khó khăn,
vùng sâu, vùng xa. Nhưng do nguồn lực hạn chế, việc đầu tư xây dựng nhà ở tập thể
cho giáo viên chủ yếu do các địa phương tự huy động (vận động mỗi giáo viên ủng
hộ 2 ngày lương) và vốn chương trình 135 đầu tư một số trường trên địa bàn các xã
đặc biệt khó khăn, nên số lượng nhà công vụ giáo viên còn thiếu, chưa đáp ứng
được nhu cầu, hầu hất cán bộ giáo viên vẫn phaỉ đi ở nhờ nhà dân. Nhu cầu đầu tư
nhà công vụ giáo viên tối thiểu là 1.905 phòng.
1.1.6. Về sách giáo khoa và thiết bị dạy học.
Bên cạnh việc đầu tư cơ sở vật chất trường học thì việc đầu tư sách giáo khoa và thiết
bị dạy học cho giáo viên, học sinh cũng cần được chú trọng để nâng cao chất lượng
giáo dục. Về cơ bản tỉnh đã đầu tư cho việc mua sắm đảm bảo sách giáo khoa và và
thiết bị dạy học cho các trường phổ thông theo quy định chương trình đổi mới sách và
thiết bị trường học của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tuy nhiên, cần bổ sung thêm hàng
năm để đầu tư cho các trường mới thành lập, các trường tăng thêm số lớp và thay thế
một phần sách giáo khoa và thiết bị hư hỏng trong quá trình sử dụng.
1.1.7. Về thành tích và kết quả đạt được
Trong suốt những năm qua, sự cố gắng của toàn tỉnh Phú Thọ cho sự nghiệp giáo
dục đã được đền đáp bằng những thành tích to lớn, góp phần thúc đẩy sự nghiệp
giáo dục Phú Thọ sang một trang mới.
Ngoài những chuyển biến tích cực về quy mô, mạng lưới trường học ngành giáo

trường cũng chủ động khai thác các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước để mua
sắm thêm trang thiết bị dạy học, xây dựng thư viện đạt chuẩn quốc gia đáp ứng yêu
cầu đổi mới phương pháp giảng dạy. Toàn ngành đã có 500/620 trường có thư viện
đạt chuẩn 01 theo quy định của Bộ GD& ĐT. Ngoài ra còn phối hợp với các ban,
ngành chức năng thực hiện chương trình kiên cố hoá trường lớp học và nhà công vụ
cho giáo viên giai đoạn 2008-2012. Theo đó, toàn ngành đã xây dựng được 338
công trình với 1.789 phòng với tổng vốn đầu tư là 117,9 tỷ đồng. Những kết quả to
lớn mà toàn tỉnh đã đạt được trong sự nghiệp giáo dục là động lực để tỉnh Phú Thọ
tiếp tục đổi mới ngành một cách toàn diện, phát triển giáo dục cả về quy mô, chất
lượng, hiệu quả và công bằng xã hội, đáp ứng tốt nhu cầu học tập của nhân dân
cũng như yêu cầu về sự phát triển giáo dục của tỉnh.
Tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt 4 nội dung của cuộc vân động “nói không với
tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” và “nói không với vi phạm
đạo dức nhà giáo và học sinh ngồi nhầm lớp”. Tổ chức triển khai có hiệu quả đề án
phổ cập giáo dục bậc trung học; thực hiện phân luồng, hướng nghiệp cho học sinh.
Thực hiện tốt việc sắp xếp, tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đáp ứng
yêu cầu dạy và học trong giai đoạn mới; thực hiện tốt chương trình xây dựng trường
chuẩn quốc gia, chương trình kiên cố hoá trường, lớp học giai đoạn 2. Triển khai
thực hiện đề án nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đầu tư trang thiết bị dạy nghề,
phát triển các cơ sở đào tạo, dạy nghề. Thực hiện đào tạo theo địa chỉ và nhu cầu xã
hội đối với các trường trung học, cao đẳng, dạy nghề; khuyến khích các doanh
nghiệp, nhà đầu tư tổ chức đào tạo và cung cấp nhân lực đáp ứng yêu cầu sản xuất
kinh doanh; đồng thời làm tốt công tác tuyên truyền tạo điều kiện để xuất khẩu lao
động đạt kết quả cao.
1.2. Thực trạng đầu tư phát triển giáo dục Tỉnh Phú Thọ.
1.2.1.Tình hình đầu tư phát triển giáo dục của Tỉnh Phú Thọ
1.2.1.1. Công tác tổ chức triển khai thực hiện.
Sau khi Hội đồng nhân dân Tỉnh ban hành nghị quyết, Uỷ Ban Nhân Dân Tỉnh đã
chỉ đạo xây dựng và thực hiện đề án tăng cường cơ sở vật chất trường học giai đoạn
2002-2010, xây dựng kế hoạch thực hiện chươngg trình kiên cố hoá trường, lớp học

phối hợp với Uỷ ban nhân dân các huyện, thị thành chỉ đạo các cơ sở giáo dục tăng
cường công tác hướng nghiệp, phân luồng học sinh, học sinh sau tốt nghiệp trung
hcọ cơ sở để thực hiện các mục tiêu phổ cập bậc trung học phổ thông. Chủ trì phối
hợp với các ngành liên quan tham mưu, đề xuất Ban chỉ đạo công tác phổ cập bậc
trung học phổ thông của tỉnh sơ kết, tổng kết; định kỳ tổng hợp kết quả công tác
phổ cập bậc trung học phổ thông của tỉnh báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh.
- Sở Kế hoạch và Đầu tư: Là đầu mối khâu nối, hướng dẫn lồng ghép các chương
trình dự án. Chủ trì, phối hợp với Sở tài chính, sở Giáo dục và đào tạo tổng hợp, xây
dựng kế hoạch, cơ chế quản lý điều hành; dự kiến phân bổ vốn các chương trình, dự
án,báo cáo ban chỉ đạo, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định. Phối hợp
với các Ban điều hành tổ chức hướng dẫn, kiểm tra thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ
các chương trình dự án. Tổng hợp, báo cáo đánh giá định kỳ với Uỷ ban nhân dân
tỉnh và các Bộ, ngành Trung ương. Hàng năm, phối hợp với các Sở: Giáo dục và
đào tạo, Lao động thương binh và xã hội, Uỷ ban nhân dân các huyện, thành, thị
tổng hợp, cân đối các nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường lớp, thiết bị
dạy học, kinh phí thực hiện các nhiệm vụ trong lĩnh vực giáo dục đào tạo và dạy
nghề để thực hiện nhiệm vụ phổ cập bậc trung học trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê
duyệt.
- Sở Tài chính: Chủ trì phối hợp với sở Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp, xây dựng kế
hoạch huy động các nguồn lực, cơ chế quản lý tài chính; cân đối bố trí vốn từ ngân
sách tỉnh cho các chương trình, dự án; thực hiện chuyển vốn và thanh toán, quyết
toán theo quy định.Thẩm định dự toán kinh phí hàng năm để thực hiện các nhiệm
vụ phổ cập bậc trung học trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt; hướng dẫn các cấp,
các ngành thực hiện kế hoạch ngân sách hàng năm phục vụ công tác phổ cập bậc
trung học phổ thông theo quy định hiện hành.
- Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh: Thực hiện nhiệm vụ giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh
đôn đốc các Sở, ngành chức năng và Uỷ ban nhân dân các huyện, thành thị thựchiện
các ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh, Trưởng ban chỉ đạo và thẩm
định các báo cáo, trình hội đồng nhân dân tỉnh và các Bộ ngành Trung ương.
- Kho bạc nhà nước tỉnh: Chịu trách nhiệm chính về thủ tục giải ngân, thanh toán

hình; tăng nội dung đăng tải thông tin trên báo về đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết
bị trường học, nhằm động viên toàn xã hội tích cực tham gia các hoạt động xã hội
hoá giáo dục.
- Sở Lao động thương binh và Xã hội: Chủ trì phối hợp với Sở Giáo dục và đào tạo,
Uỷ ban nhân dân các huyện,thị, thành thực hiện các nhiệm vụ công tác phổ cập bậc
học trung hoạ phổ thông. Tham mưu đề xuất với Uỷ ban nhân dân tỉnh các kế
hoạch, chế độ, chính sách, chỉ tiêu đào tạo nghề để thực hiện mục tiêu phổ cập;
quản lý, chỉ đạo các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh thực hiện các nhiệm vụ dạy
nghề để đáp ứng các mục tiêu giáo dục đã đề ra và liên kết với các cơ sở giáo dục.
Cung cấp thông tin về hệ thống cơ sở dạy nghề, ngành, nghề đào tạo, chỉ tiêu tuyển
sinh, năng lực các cơ sở dạy nghề trên địa bàn làm cơ sở cho công tác hướng
nghiệp, liên kết đào tạo nghề.
- Sở Nội vụ: Chủ trì phối hợp với Sở GD&ĐT, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài
chính và các ngành liên quan xây dựng, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt kế
hoạch tuyển dụng bổ sung giáo viên các môn văn hóa cho các trường trung học phổ
thông, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm kỹ thuật tổng hợp- hướng
nghiệp để dạy bổ túc văn hoá; bố trí đủ đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên thực hiện
các nhiệm vụ phổ cập các bậc trung học theo kế hoạch.
- Uỷ ban nhân dân các huyện, thành thị: Có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, biện
pháp triển khai thực hiện. Tổ chức lồng ghép các nguồn vốn đầu tư, xây dựng các
giải pháp huy động các nguồn lực ở điạ phương, cơ sở. Chỉ đạo Uỷ ban nhân dân
các xã, phường, thị trấn và các đơn vị cơ sở xây dựng kế hoạch, chương trình dự án
cụ thể và tổ chức thực hiện. Căn cứ đề án phổ cập bậc trung học tỉnh Phú thọ giai
đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm 2015 và kế hoạch triển khai đề án của uy
ban nhân dân tỉnh, xây dựng kế hoạch và các giải pháp cụ thể để triển khai thực
hiện công tác phổ cập ở từng địa phương. Chỉ đạo phòng giáo dục và đào tạo, phòng
Lao động và thương binh xã hội và các cơ sở giáo dục, dạy nghề trực thuộc; các xã,
phường, thị trấn trên các địa bàn triển khai các nhiệm vụ phổ cập đảm bảo các yêu
cầu theo tiêu chí phổ thông. Huy động mọi nguồn lực trên địa bàn đầu tư cho sự
nghiệp giáo dục và thực hiện công tác phổ cập trung học đảm bảo hiệu quả chất

tăng tỷ lệ đến trường, lớp mẫu giáo từ 60% năm 2000 lên 78% vào năm 2005 và
97% vào năm 2010; riêng trẻ em 5 tuổi tăng tỷ lệ huy động đến mẫu giáo để chuẩn
bị vào lớp 1 từ 81% năm 2000 lên 85% vào năm 2005 và 95% vào năm 2010. Giảm
tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non xuống dưới 20%
vào năm 2005, dưới 15% vào năm 2010.
+ Giáo dục phổ thông: thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí , thể, mỹ.
Cung cấp học vấn phổ thông cơ bản, hệ thống và có tính hướng nghiệp. Tăng tỷ lệ
huy động học sinh trong độ tuổi đến trường từ 95% năm 2000 lên 97% năm
2005
và 100% năm 2010.
+ Trung học cơ sở: Cung cấp cho học sinh học vấn phổ thông cơ sở và những
hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để thực hiện phân luồng sau trung
học cơ sở , tạo điều kiện để học sinh tiếp tục học tập hoặc đi vào cuộc sống lao
động. Đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở ở các huyện vào năm 2005, trong cả tỉnh
2010. Tăng tỷ lệ học sinh trung học cơ sở trong độ tuổi từ 74% năm 2000 lên 100%
vào năm 2005.
+ Trung học phổ thông: Tăng tỷ lệ học sinh trong độ tuổi vào trung học
phổ thông từ 38% năm 2000 lên 45% vào năm 2005 và 100% vào năm 2010.
+ Giáo dục nghề nghiệp: Nâng cao chất lượng dạy nghề gắn với nâng cao ý
thức kỷ luật lao động và tác phong lao động hiện đại. Gắn đào tạo với nhu cầu sử
dụng, với việc làm trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động.
+ Trung học chuyên nghiệp: Thu hút học sinh trong độ tuổi vào các trường trung
học chuyên nghiệp đạt 40% năm 2005, 65% năm 2010. Dạy nghề : thu hút học sinh
sau trung học cơ sở vào học các trường dạy nghề từ 36% năm 2000 lên 50% năm
2005, 75% năm 2010. Dạy nghề bậc cao: thu hút học sinh sau trung học phổ thông,
trung học chuyên nghiệp vào học các chương trình này đạt 35% năm 2005, 50%
năm 2010.
1.2.1.4. Nguồn vốn cho đầu tư giáo dục.
- Giáo dục luôn là mối quan tâm hàng đầu của Tỉnh chính vì vậy mà đầu tư cho
giáo dục rất được chú trọng. Nguồn vốn cho giáo dục của tỉnh được huy động từ

- Vốn đầu tư từ ngân sách huyện, xã và huy động các nguồn lực trong nhân dân là
81,62 tỷ đồng, bình quân là 11,66 tỷ đồng/năm, chiếm 15% tổng vốn đầu tư.
Biểu đồ 1.1: Cơ cấu vốn đầu tư theo nguồn vốn của tỉnh Phú Thọ( 2002-2008)

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ
Qua biểu đồ trên ta thấy vốn đầu tư cho giáo dục của tỉnh Phú Thọ chủ yếu là từ
nguồn vốn của ngân sách trung ương(37%) và từ các chương trình mục tiêu quốc
gia(42%) bởi Phú Thọ là tỉnh còn khó khăn, cơ sở hạ tầng chưa phát triển. Mặt khác
đầu tư xây dựng các trường học chủ yếu lại tập trung ở các huyện miền núi, đặc biệt
khó khăn nên vốn huy động từ ngân sách huyện, xã chiếm tỷ lệ thấp.
* Cơ cấu đầu tư theo các loại công trình, dự án:
- Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất là 515,45 tỷ đồng, bình quân là 73,64 tỷ
đồng/năm, chiếm 92,7% tổng vốn đầu tư, trong đó nhà lớp học là 427,3 tỷ đồng,
nhà điều hành 53,65 tỷ đồng, nhà thư viện 5,8 tỷ đồng,nhà học bộ môn 28,7 tỷ đồng
- Mua sắm sách và thiết bị dạy học 40,55 tỷ đồng, bình quân là 5,79 tỷ đồng/năm,
chiếm 7,3% tổng vốn đầu tư.
Biểu đồ 1.2: Cơ cấu vốn đầu tư theo loại công trình, dự án của tỉnh Phú
Thọ(2002-2008)
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ
Biểu đồ cơ cấu trên thể hiện sự phù hợp giữa nhu cầu thực tế với chính sách đầu tư
phát triển giáo dục của tỉnh. Vì cơ sở vật chất trường học trong toàn tỉnh còn yếu
kém đặc biệt là ở vùng núi,vúng sâu vùng xa mạng lưới trường học còn thưa thớt,
trường học được xây dựng chủ yếu bằng tranh tre, nhà ở công vụ cho giáo viên vừa
thiếu lại vừa kém. Cũng xuất phát từ nhu cầu thực tế đó mà tỷ lệ vốn đầu tư để xây
dựng cơ sở vật chất trường học chiếm tỷ lệ lớn (92,7%) là tương đối phù hợp. Qua
đó cũng thể hiện chủ chương đường lối đầu tư phát triển giáo dục của tỉnh Phú Thọ
là đúng đắn và hiệu quả.
Trong đó vốn mà tỉnh huy động để xây dựng phòng học và nhà công vụ cho giáo
viên bao gồm các nguồn từ: Vốn trái phiếu Chính Phủ, Vốn ngân sách địa phương
( gồm: Ngân sách tỉnh, ngân sách huyện, xã), Vốn khác:ODA, chương trình kiên cố

5 Tổng 556 100
Nguồn : Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ
Trong 4 cấp học thì vốn đầu tư dành cho bậc tiểu học là lớn nhất chiếm tỷ trọng
46,56%, sau đó đến bậc mầm non (24,23) và THCS (22,62%). Việc phân bổ vốn
đầu tư cho các cấp học là hợp lý với thực trạng của tỉnh, bởi tỷ lệ trẻ em trong độ
tuổi mầm non và tiểu học trong tỉnh chiếm phần lớn so với độ tuổi đi học THCS,
THPT và việc các gia đình cho con em đi học hết THPT là rất ít. Nhưng trong giai
đoạn tiếp theo tỷ trọng vốn đầu tư cho bậc THPT sẽ tăng lên vì chủ chương của tỉnh
sẽ phổ cập bậc học này vào năm 2010
1.2.2.1 Mầm non.
Bậc học mầm non không được chú trọng so với các bậc học khác bởi các bậc cha
mẹ thường quan niệm rằng trẻ còn nhỏ nên việc học tập chưa cần thiết. Vì vậy mà
có thể sẽ không cho trẻ đến trường và không chú ý đến việc học tập của trẻ. Nhưng
cùng với sự phát triển của xã hội và nhận thức được việc cho trẻ đến trường là cần
thiết do đó nhu cầu cho trẻ đến trường của các bậc cha mẹ đã tăng lên. Xuất phát từ
nhu cầu này tỉnh Phú Thọ đã đề ra nhiều chủ chương, kế hoạch đầu tư phát triển
giáo dục từ bậc học mầm non.
Về Xây dựng Phòng học:Trong giai đoạn 2002-2008, trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đã
đầu tư xây dựng được 842 phòng học cho bậc học mầm non, với tổng số vốn đầu tư
là 134.720 triệu đồng, bình quân đạt 160 triệu đồng/phòng học và 19.250 triệu
đồng/năm.
Bảng 1.2: Phân bổ vốn cho bậc học mầm non giai đoạn 2002-2008
Năm Vốn đầu tư (triệu đồng) Tốc độ tăng (%)
2002 9.280 _
2003 10.200 9,91
2004 16.320 60
2005 20.200 23,77
2006 23.520 16,44
2007 25.000 6,29
2008 30.200 20,8

2007 13.660 -15,16
2008 12.160 -10,98

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ
Năm 2003 là năm tỉnh đạt được mục tiêu phổ cập bậc tiểu học vì thế mà tốc độ
tăng vốn đầu tư năm học 2002, 2003 cao. Các năm còn lại tốc độ tăng vốn đầu tư là
âm bởi sau khi đã đạt được mục tiêu phổ cập thì vốn đầu tư dành cho bậc học này
giảm đi để dành đầu tư cho các bậc học chưa phổ cập.
Về Nhà công vụ giáo viên. Giai đoạn 2002-2008 toàn tỉnh đã đầu tư xây dựng
được 701 phòng nhà ở công vụ cho giáo viên tiểu học, với tổng vốn đầu tư là
28.040 triệu đồng, bình quân đạt 40 triệu đồng/phòng và 4.006 triệu đồng/năm. Để
giải quyết tình trạng thiếu giáo viên, nhiều giáo viên đã được tăng cường cho các
trường vùng miền núi khó khăn, vùng sâu, vùng xa, tuy nhiên do nguồn lực hạn chế
nên việc đầu tư xây dựng nhà tập thể cho giáo viên tiểu học chủ yếu do các địa
phương tự huy động cùng với việc ủng hộ cuả cán bộ công chức ngành giáo dục
nhưng số lượng nhà công vụ còn thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu, hầu hết đội ngũ cán
bộ giáo viên vẫn phải đi ở nhờ nhà dân. Đến năm 2012 tình trạng này sẽ được giải
quyết khi chương trình kiên cố hoá trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên
giai đoạn II kết thúc.
1.2.2.3. Trung học cơ sở.
Về Xây dựng phòng học.Bậc trung học cơ sở của tỉnh đã được phổ cập năm 2005.
Giai đoạn 2002-2008, toàn tỉnh đã xây dựng được 786 phòng học, với tổng vốn đầu
tư là 125.760 triệu đồng, bình quân đạt 160 triệu đồng/phòng và 17.970 triệu
đồng/năm.
Bảng 1.4: Phân bổ vốn cho bậc trung học cơ sở giai đoạn 2002-2008
Năm Vốn đầu tư (triệu đồng) Tốc độ tăng (%)
2002 16.320 _
2003 20.180 23
2004 29.100 44,2
2005 34.040 16,98

2005 1.320 8,2
2006 3.500 165,15
2007 11.380 225,14
2008 16.340 43,59

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ
Việc phân bổ vốn đầu tư trong giai đoạn 2002-2008 là không đồng đều giữa các
năm nhưng lại tương đối hợp lý với chủ chương đầu tư của tỉnh. Năm 2002-2003
tỉnh tập trung để phổ cập bậc tiểu học, năm 2004-2005 phổ cập bậc trung học cơ sở
nên tốc độ tăng vốn đầu tư trong những năm này thấp. Trong 3 năm còn lại tỉnh tập
trung đầu tư cho bậc trung học phổ thông do đó mà tốc độ tăng vốn đầu tư của 3
năm này rất lớn so với các năm trước đó.
Về Nhà ở công vụ cho giáo viên. Giai đoạn 2002-2008, toàn tỉnh đã xây dựng
được 181 phòng ở cho giáo viên với tổng vốn đầu tư là 7.240 triệu đồng, bình quân
đạt 40 triệu đồng/phòng và 1.034 triệu đồng/năm. So với các bậc học khác thì số
lượng nhà ở công vụ cho giáo viên bậc trung học phổ thông là ít nhất, bởi nó phù
hợp với quy mô đầu tư xây dựng trường học. Trung bình ở mỗi huyện chỉ có 3-4
trường trung học phổ thông vì thế mà số lượng nhà ở công vụ cho giáo viên cũng ít.
1.2.3. Đầu tư theo địa phương.
Tỉnh Phú Thọ có 13 huyện thành thị do đó việc đâù tư phát triển giáo dục theo địa
phương là việc phải đầu tư phát triển mạng lưới trường lớp học ở tất cả các bậc học
cho mỗi địa phương.
Việc xây dựng mạng lưới trường, lớp học cho các huyện phải căn cứ vào nhu cầu
thực tế của mỗi huyện và chủ chương đầu tư của tỉnh. Bên cạnh đó điều kiện để đầu
tư phát triển giáo dục của mỗi huyện cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng đáp ứng
nhu cầu đầu tư bởi hầu hết các huyện trong tỉnh đều là các huyện miền núi, đời sống
còn gặp nhiều khó khăn nên khả năng cung ứng vốn cho đầu tư phát triển giáo dục
rất hạn chế do đó phần lớn vốn cho đầu tư phát triển giáo dục là từ ngân sách nhà
nước và huy động từ các chương trình hỗ trợ khác.


3,017 3,28 3,343 3,6 4,52 3,04 0,32 21,12
Đoan Hùng
6,6 6,9 15,34 16,6 8,68 7,2 2,56 46,2
Cẩm Khê
7,461 8,8 12,96 7,8 6,619 5 3,52 52,16
Yên Lập
5,2 6,84 7,66 7 4,1 3,2 2,4 36,4
Thanh Sơn
8,051 10,32 10,309 10,68 5 7,36 4,64 56,36
Tân Sơn
2,79 5,581 10,5 9,5 5,789 3,48 2,88 40,52
Tam Nông
4,2 3,914 7,47 10,53 5,206 3,36 1,76 36,44
Thanh Thuỷ
5,56 6 7,5 7,523 5,417 3,68 2,24 37,92
Tổng 500,56

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ
Bảng phân bổ vốn đầu tư của các địa phương cho ta biết được huyện có vốn đầu tư
lớn gồm các huyện: Hạ Hoà, Thanh Ba, Cẩm Khê, Yên Lập, Tân Sơn, Đoan Hùng;
tỷ lệ vốn đầu tư/tổng vốn đầu tư chiếm từ 7-12%, đây là những huyện có điều kiện
khó khăn và đặc biệt khó khăn của tỉnh vì thế mà cần tập trung vốn đầu tư để xây
dựng trường học mới và nhà ở công vụ cho giáo viên. Còn các huyện có điều kiện
kinh tế phát triển hơn như: Thị xã Phú Thọ và thành phố Việt Trì thì vốn đầu tư
phân bổ ít hơn bởi vốn để xây dựng trường học là do địa phương tự huy động là chủ
yếu. Cách phân bổ vốn đầu tư cho các huyện trong tỉnh là không đồng đều nhưng
lại phù hợp với tình hình đièu kiện của từng huyện và theo đúng chủ chương đầu tư
của tỉnh.
Trong giai đoạn 2002-2008, tỉnh đã đầu tư xây dựng mạng lưới trường học và nhà ở
công vụ cho giáo viên ở tất cả các huyện và được các huyện triển khai rất nhanh

13 Thanh Thuỷ 55,9 46,5 74,6
14 Khối các trường THPT 51,6 37,2 61,5
Toàn tỉnh 76,7 70,8 88,9

Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ

Qua bảng trên ta thấy phần lớn các huyện đều tích cực triển khai đề án, tỷ lệ % bình
quân của cả tỉnh đạt 76,7%- đây là tỷ lệ tương đối cao so với các tỉnh lân cận. Đơn
vị có tiến độ triển khai đề án cao nhất là Thị xã Phú Thọ đạt 97,2% và huyện Thanh
Thuỷ là đơn vị có tiến độ triển khai thấp nhất toàn tỉnh chỉ đạt 55,9%. Việc triển
khai thực hiện đề án chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố nhất là khả năng cung ứng
vốn của mỗi đơn vị. Các huyện miền núi hoặc các huyện đặc biệt khó khăn thì phần
lớn vốn để xây dựng nhà học và nhà công vụ là vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương
và ngân sách tỉnh vì ngân sách huyện, xã không thể huy động được. Các huyện, thị
xã thuộc vùng đồng bằng, có điều kiện kinh tế phát triển hơn thì ngoài vốn hỗ trợ từ
ngân sách trung ương còn có vốn từ ngân sách cấp huyện, xã và vốn mà các đơn vị
tự huy động được.
Bảng 1.8 : Thể hiện cơ cấu vốn ở các huyện
Tên huyện Vốn NSTƯ(%)
Vốn NS
tỉnh(%)
Vốn NS huyện, xã
và tự huy động(%)
Thành phố Việt Trì, thị xã
Phú Thọ
80 0 20
Lâm Thao, Phù Ninh, Hạ
Hoà, Cẩm Khê, Đoan
Hùng,Thanh Ba, Tam
Nông, Thanh Thuỷ

mỗi huyện lại tự phân bổ vốn theo quy định mà tỉnh cho phép và nhu cầu thực tế
của huyện mình. Cách thức phân bổ vốn trực tiếp này sẽ hạn chế được việc thất
thoát vốn đầu tư trong khi phân bổ vì vốn đầu tư không phải qua tay nhiều người
trung gian mà trực tiếp đến tay người sử dụng vốn.
Cơ cấu vốn đầu tư cho các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo cũng giống
như cơ cấu vốn của các đợn vị khác: tỷ trọng vốn trái phiếu Chính Phủ vẫn chiếm
phần lớn so với các nguồn vốn khác.
Biểu đồ 1.4: Cơ cấu vốn đầu tư phân bổ cho các đơn vị trực thuộc Sở Giáo dục và
Đào tạo giai đoạn 2002-2008
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Phú Thọ
Trong tổng vốn đầu tư 47.000 triệu đồng của giai đoạn 2002-2008 thì vốn trái phiếu
Chính phủ là 38.112 triệu đồng, chiếm 80% tổng vốn đầu tư; vốn ngân sách địa
phương là 7.230 triệu đồng, chiếm 15,2%; vốn khác là 2.298 triệu đồng, chiếm 4,8%.
Cơ cấu vốn này trong những năm tới cần phải thay đổi tỷ trọng theo hướng giảm tỷ
trọng vốn trái phiếu chính phủ và tăng hai nguồn vốn còn lại đặc biệt là vốn ngân
sách địa phương để các địa phương chủ động trong quá trình đầu tư và tránh tình
trạng trông chờ, ỷ lại vào ngân sách cấp trên đưa xuống của các địa phương.
1.3. Đánh giá những kết quả đã đạt được và những hạn chế còn tồn tại.
1.3.1 Những kết quả đã đạt được.
Trong suốt thời gian qua đặc biệt là những năm gần đây (giai đoạn 2002-2008) nhờ
các chủ chương, chính sách đầu tư đúng đắn, hiệu quả nên giáo dục của tỉnh đã có
sự phát triển vượt bậc so với các giai đoạn trước, làm thay đổi diện mạo của nền
giáo dục Phú Thọ cả về chất và lượng: giáo viên, học sinh và cơ sở vật chất trường
học.
Kết quả đầu tư giáo dục của tỉnh được thể hiện cụ thể như sau:
1.3.1.1. Về đất đai.
-Đến hết tháng 12/2008 có 857/9905 trường(chiếm 94,7% số trường) được quy
hoạch bố trí đất;còn 48 trường(chiếm 5,3%) chưa được bố trí địa điểm ổn định, tập
trung chủ yếu là các trường mầm non, một số trường tiểu học, trung học cơ sở(do
mới tách) và 11 trường trung học phổ thông bán công (sử dụng chung địa điểm của

-Xây dựng nhà điều hành: Đã xây dựng mới 202 nhà điều hành; trong đó: mầm non
52 nhà, tiểu học 65 nhà, trung học cơ sở 71 nhà và trung học phổ thông 14 nhà.
1.3.1.3. Phòng học bộ môn.
Tính đến hết năm 2008 tỉnh đã đầu tư xây dựng mới 114 phòng và trang thiết bị bổ
sung cho 569 phòng học bộ môn; trong đó có 122 phòng học mỹ thuật, 111 phòng
thí nghiệm, 75 phòng máy tính và 261 phòng thực hành.
1.3.1.4 .Thiết bị dạy học.
- Trang bị 3.659 bộ thiết bị dạy học cho bậc học tiểu học. Riêng các xã đặc biệt khó
khăn được cấp đủ 100%; đảm bảo 100% số lớp được cấp đủ sách gioá khoa theo
chương trình đổi mới sách giáo khoa và thiết bị dạy học của Bộ Giáo dục và Đào
tạo.
- Mua sắm, trang bị 1.021 bộ thiết bị dạy học đồng bộ cho trung học cơ sở, mua bổ
sung 255 bộ thiết bị bộ môn vật lý, hoá, sinh cho các trường trung học cơ sở.
- Mua sắm, trang bị 177 bộ thiết bị dạy học trung học phổ thông, trong đó có 58 bộ
thiết bị cho lớp 12 thực hiện năm 2008( tính theo cơ số của từng môn học, không
tính đồng bộ).
1.3.1.5. Thư viện trường học.

Trích đoạn Những khó khăn, hạn chế còn tồn tại trong quá trình đầu tư phát triển giáo dục. Khả năng đáp ứng. Phương hướng chung. Mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể. Tăng cường khả năng huy động các nguồn lực cho đầu tư.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status