Gián án Hình thượng người lính trong thơ văn giai đoạn 45-75 - Pdf 81

Chúng tôi sinh ra và lớn lên không phải từ những năm tháng chiến tranh.Nhưng hơn nửa thế
kỷ trôi qua, giờ nhìn lại nền thơ ca kháng chiến,tôi không khỏi bồi hồi ,xúc động.Có một nền
thơ ca xuất hiện trong gian khổ mà vẫn không ít câu thơ có sức căng nở tâm hồn.Một nền
thơ phản ánh sự bùng nổ toàn diện sức mạnh tiềm tàng của dân tộc ,trước vận hội lịch sử
đã tích tụ qua nhiều thế kỷ.Đọc thơ ca Việt Nam giai đoạn 1945-1975,chúng ta thấy cuồn
cuộn niềm vui của hàng triệu ,hàng triệu người ra trận,thấy được những mất mát ,đau
thương ,những khát khao ,ước vọng chân thành…Ba mươi năm liên tục đấu tranh chống kẻ
thù cũng là khoảng thời gian văn học phát triển mạnh mẽ không ngừng dưới sự lãnh đạo
của Đảng.Văn học lấy đề tài chiến tranh,viết về chiến tranh cách mạng.Thơ cũng như văn
hết lòng ca ngợi người anh hùng,người lính, người mẹ, thanh niên xung phong…Tất cả hiện
lên trong tác phẩm với mọi tầng lớp ,lứa tuổi,dân tộc …y như thật trên đời.Và họ đẹp-cái
đẹp tiêu biểu cho cả thời đại.Cái đẹp ấy kết tinh đậm đà ở hình tượng anh bộ đội Cụ Hồ –
anh giải phóng quân.Bởi chính các anh là người anh hùng suốt hai cuộc kháng chiến trường
kỳ.
Chiến tranh với quy luật vốn có đã để lại những mẫu người không dễ gì lặp lại hôm
nay.Hình tượng anh bộ đôi trong thơ Việt Nam giai đoạn 1945-1975 nổi bật bởi những nét
đẹp về tâm hồn,tính cách,về phẩm chất và tư tưởng Cách mạng.
(1)Họ là những con người bình dị ,trẻ trung và rất giàu tình cảm.Sau những
ngày Tổng khởi nghĩa thắng lợi,thơ ca ngập tràn niềm hân hoan vui sướng.Với không khí
ngày hội Cách mạng ,Xuân Diệu từng viết:
Có một suối thơ chảy từ gần gũi
Ra xa xôi và lại đến gần quanh
Một suối thơ lá ngọt với hoa lành
Nói trong xóm và giỡn cười dưới phố
Người ta xúc động gọi tên sông ,tên núi bằng những tiếng rất đỗi trang
trọng ,tự hào:giang sơn nước Việt …Cách mạng đã tái sinh biết bao con người .Cảm hứng
ngợi ca và chất men lãng mạn say lòng người .Kháng chiến càng kéo dài ,tư tưởng lành
mạnh về cuộc chiến tranh nhân dân càng thấm sâu trong tâm người cầm bút.Trong thơ
kháng chiến chống Pháp,anh bộ đội là những vệ quốc quân ,những nông dân ngày đầu mặc
áo lính.Ở họ đậm đà duyên quê,mộc mạc ,chân tình.Các anh ra đi với tất cả quyết tâm và
lòng tự nguyện.Dẫu buổi đầu ấy ,như Hồng Nguyên có kể: Súng bắn chưa quen

Cho con xin bắt đầu từ mẹ
Để nói về chúng con
Lớp tuổi hai mươi,ba mươi
Xanh màu áo lính
Đã từng sung sướng ,đã từng ngọt ngào
Được làm con của mẹ
Đuợc ra trận những năm đất nước mình khốc liệt
(Những người đi tới biển)
Tình đồng chí,đồng đội biểu hiện ngay trong quan hệ giao tiếp sinh hoạt thường
ngày và cả trong chiến đấu.Một người ngã xuống là hàng loạt người đứng lên tiếp bước trả
thù,muôn trái tim hoà chung một mối.Trong tâm hồn người lính, tình yêu nước là tình cảm
lớn nhất.Chưa bao giờ Tổ quốc được đặt ở tầm cao đến thế !Tổ quốc thúc giục bước chân
người ra đi.Vũ khí làm cho kẻ thù kinh hoàng chính là ý chí quyết tâm bảo vệ giang sơn
nước Việt, dù phải hi sinh đến hơi thở cuối cùng.Trên trang viết, các nhà thơ đã tạo nên
nhiều tương phản nghệ thuật :giữa cái nóng bỏng và dịu êm của thời chiến,giữa cái bình dị
và cao cả…Một vầng trăng dịu êm vượt lên quầng lửa chiến tranh,một chùm hoa lặng lẽ
trong hương thầm,một tiếng chim bay bổng hát vang …Tất cả trở thành khoảnh khắc bình
yên hiếm hoi nơi bom đạn đặc dày…Để rồi khát vọng hoà bình là mong ước chung của hết
thảy mọi người.
(2)Những người lính ấy rất đỗi anh dũng và giàu nghị lực. Có thể nói,tinh thần dũng
cảm sự hi sinh và ý chí nghị lực kiên cường của các anh đã soi sáng tâm hồn bao thế hệ.Tố
Hữu ngợi ca:
Hoan hô chiến sĩ Điên Biên
Chiến sĩ anh hùng
Đầu nung lửa sắt
Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm mưa dầm, cơm vắt
Máu trộn bùn non
Gan không núng
Chí không mòn
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên)

Núp ,Nguyên Ngọc khái quát thành “
Đất nước

đứng lên
”; viết về chị út Tịch ,Nguyễn Thi đặt
nhan đề là “
Người mẹ cầm súng”…
Trong chiến tranh ,sự sống và cái chết luôn đan cài bên nhau.Những tổn thất
đau thương được xoa dịu bởi lòng tin chiến thắng.Đọc trường ca “Bài ca chim Chơ rao” của
Thu Bồn,chúng ta xúc động trước những suy nghĩ và hành động rất anh hùng của tuổi trẻ
miền Nam.Lời thơ giàu tính hiện thực chiến đấu ,giàu chất lãng mạn.Thu Bồn đã dựng nên
bao con người trẻ tuổi,đẹp ,hào hùng và cao quý.Các anh vượt qua đòn tra tấn dã man của
kẻ thù,vượt qua giây phút yếu mềm để hát bài ca ca ngợi lòng dũng cảm.Lý tưởng Cách
mạng đã giúp người anh hùng thêm nghị lực ,sẳn sàng đón nhận hiểm nguy về mình để
giành phần sống cho dân tộc ,cho đất nước:
Tất cả thứ này tôi thử hết
Trong đấu tranh sống chết lẽ thường
Tôi cầm súng cứu nhà cứu nước
Giải phóng miền Nam tôi chỉ có một đường
Hầu hết các nhà thơ khi viết về anh bộ đội đều chú ý làm rạng rỡ phẩm chất anh
hùng ,lý tưởng cách mạng và sự hi sinh của những con người giàu nghị lực.Viết về các anh
cũng là thể hiện lòng biết ơn,tạc nên tượng đài nghệ thuật giá trị.
(3)Mặc dù chiến tranh gian khổ song người lính luôn mang trong mình tâm hồn
lạc quan,yêu đời và giữ vững niềm tin cách mạng.Ra đi,họ bất chấp gian nguy,một lòng
trung thành vì Tổ quốc quyết sinh;phơi phới niềm tin chiến thắng.Ngay cả khi đi giữa “ thành
phố trụi” Tố Hữu vẫn cất cao lời ca:
Từ trong đổ nát hôm nay
Ngày mai sẽ đến từng giây từng giờ
Ngày mai rộn rã sơn khê
Ngược xuôi tàu chạy ,bốn bề lưới giăng…

Phân tích bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy
1. Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu
nước. Nguyễn Duy nổi tiếng với các bài thơ như : “Tre Việt Nam”, “Hơi ấm ổ rơm”, ... Hiện
nay, Nguyễn Duy vẫn tiếp tục sáng tác, ông viết đều những bài thơ tài hoa, đậm chất suy
tư.
“Ánh trăng” (1978) là một trong những bài thơ của Nguyễn Duy được nhiều người ưa thích
bởi tình cảm chân thành, sâu sắc, tứ thơ bất ngờ, mới lạ :
Hai khổ thơ đầu, tác giả nhắc đến những kỉ niệm đẹp :
“Hồi nhỏ sống với đồng.
Với sông rồi với bể
Hồi chiến tranh ở rừng
Vầng trăng thành tri kỉ”.
Trăng gắn bó với tác giả ngay từ thời thơ ấu. Trăng gắn với đồng ruộng, dòng sông, biển cả.
Dù ở đâu, đi đâu trăng cũng gắn bó với người. Nhưng phải đến khi ở rừng nghĩa là lúc tác
giả sống trên tuyến đường Trường Sơn xa gia đình, quê hương vầng trăng mới trở thành “tri
kỉ”. Trăng với tác giả là đôi bạn không thể thiếu nhau. Trăng chia ngọt, sẻ bùi, trăng đồng
cam cộng khổ.
Tác giả khái quát vẻ đẹp của trăng, khẳng định tình yêu thương quí trọng của mình với
trăng :
“Trần trụi với thiên nhiên
Hồn nhiên như cây cỏ
Ngỡ không bao giờ quên
Cái vầng trăng tình nghĩa”.
Trăng có vẻ đẹp vô cùng bình dị, một vẻ đẹp không cần trang sức, đẹp một cách vô tư, hồn
nhiên. Trăng tượng trưng cho vẻ đẹp hồn nhiên nên trăng hoà vào thiên nhiên, hoà vào cây
cỏ. “Vầng trăng tình nghĩa”, bởi trăng từng chia ngọt, sẻ bùi, đồng cam cộng khổ, bởi trăng
là người bạn, tri âm, tri kỉ.
Ấy mà có những lúc tác giả tự thú nhận là mình đã lãng quên cái “vầng trăng tình nghĩa”
ấy :
“Từ hồi về thành phố

thơ bất ngờ mới lạ ,“Ánh trăng” còn mang ý nghĩa triết lí về sự thuỷ chung khiến cho người
đọc phải “giật mình” suy nghĩ, nhìn lại chính mình để sống đẹp hơn, nghĩa tình hơn.
1
. Trong đội ngũ cả dân tộc ra trận thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, có sự góp mặt của một
"binh chủng" đặc biệt: Thanh niên xung phong. Trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại
nối liền Bắc - Nam, lực lượng thanh niên xung phong có một vai trò hết sức quan trọng:
tham gia mở đường, phá bom, san lấp hố bom, bảo đảm cho con đường huyết mạch ấy luôn
được thông suốt cho những đoàn quân, đoàn xe ra trận. Viết về Trường Sơn, không thể
thiếu hình ảnh các cô gái thanh niên xung phong - bởi chiếm số đông trong lực lượng này là
nữ thanh niên. Văn học thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đã ghi lại được nhiều hình ảnh đẹp,
chân thực, cao cả của các cô gái thanh niên xung phong, trong thơ Phạm Tiến Duật (Trường
Sơn Đông - Trường Sơn Tây; Gửi em, cô gái thanh niên xung phong), Lâm Thị Mỹ Dạ
(Khoảng trời - hố bom), Nguyễn Đình Thi (Lá đỏ), truyện ngắn của Đỗ Chu (Ráng đỏ), tiểu
thuyết của Đào Vũ (Con đường mòn ấy)... Truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh
Khuê góp thêm những chân dung đẹp, chân thực và sinh động vào loại hình tượng nhân vật
khá quen thuộc ấy của văn học một thời.
2. Truyện kể về cuộc sống và công việc thường ngày của một tổ trinh sát mặt đường gồm
ba cô gái thanh niên xung phong tại một trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn. Nhiệm
vụ của họ là quan sát địch ném bom, đo khối lượng đất đá phải san lấp do bom địch gây ra,
đánh dấu vị trí các trái bom chưa nổ và phá bom. Công việc của họ hết sức nguy hiểm vì
thường xuyên phải chạy trên cao điểm, giữa ban ngày và máy bay địch có thể ập đến bất cứ
lúc nào. Họ ở trong một cái hang, dưới chân cao điểm, tách xa đơn vị. Cuộc sống của ba cô
gái ở nơi trọng điểm giữa chiến trường dù khắc nghiệt và nguy hiểm nhưng vẫn có những
niềm vui hồn nhiên của tuổi trẻ, những giây phút thanh thản, mơ mộng và đặc biệt là rất
gắn bó, yêu thương nhau trong tình đồng đội dù mỗi người một cá tính.
Cũng như nhiều tác phẩm văn học thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, truyện Những ngôi sao xa
xôi đã làm nổi bật chủ nghĩa anh hùng và vẻ đẹp tâm hồn của thế hệ trẻ Việt Nam trong
hoàn cảnh chiến tranh. Nhưng điều gì làm nên sức hấp dẫn riêng của truyện ngắn này, và
cũng là đóng góp riêng của tác giả? Theo tôi, đó là nghệ thuật trần thuật và miêu tả tâm lý
nhân vật.

điểm ác liệt và ở họ đều hình thành những phẩm chất chung của người chiến sĩ thanh niên
xung phong: Tinh thần trách nhiệm cao đối với nhiệm vụ, lòng dũng cảm không sợ hy sinh,
tình đồng đội gắn bó. Ở họ còn có những nét chung của các cô gái trẻ: dễ xúc cảm, nhiều
mơ ước, hay mơ mộng, dễ vui mà cũng dễ trầm tư. Họ cũng thích làm đẹp cho cuộc sống
của mình, ngay cả trong hoàn cảnh chiến trường (Nho thích thêu thùa, chị Thao chăm chép
bài hát, Định thích ngắm mình trong gương, ngồi bó gối mơ mộng và hát). Trong ba người
thì Nho và Phương Định trẻ hơn nên cũng hồn nhiên và giàu mơ mộng, còn chị Thao lớn tuổi
hơn nên những mơ ước và dự định về tương lai cũng thiết thực hơn. Người tổ trưởng ấy
chiến đấu rất dũng cảm, chỉ huy rất kiên cường nhưng lại rất sợ khi phải nhìn thấy máu và
còn sợ cả vắt nữa. Phương Định là nhân vật kể chuyện, đồng thời cũng là nhân vật trung
tâm của truyện. Ở nơi trọng điểm ác liệt, hàng ngày giáp mặt với hiểm nguy và cái chết,
chiến đấu dũng cảm, nhưng ở cô vẫn không mất đi sự hồn nhiên, nhạy cảm, tâm hồn trong
sáng và nhiều mơ mộng. Cũng như các cô gái mới lớn, Phương Định nhạy cảm và quan tâm
đến hình thức của mình. Cô tự đánh giá: Tôi là con gái Hà Nội. Nói một cách khiêm tốn, tôi
là một cô gái khá, hai bím tóc dày tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa
loa kèn. Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo: "Cô có cái nhìn sao mà xa xăm!". Cô biết mình
được nhiều người, nhất là các anh lính để ý và có thiện cảm. Điều đó làm cô thấy vui và cả
tự hào, nhưng chưa dành riêng tình cảm cho một ai. Nhạy cảm, nhưng cô lại không hay biểu
lộ tình cảm của mình, tỏ ra kín đáo giữa đám đông, tưởng như là kiêu kỳ. Phương Định là cô
gái hồn nhiên, hay mơ mộng và thích hát (Tôi mê hát. Thường cứ thuộc một điệu nhạc nào
đó rồi bịa ra lời mà hát. Lời tôi bịa lộn xộn mà ngớ ngẩn đến tôi cũng ngạc nhiên, đôi khi bò
ra mà cười một mình, Tôi thích nhiều bài. Những bài hành khúc bộ đội hay hát trên những
ngả đường mặt trận. Tôi thích dân ca quan họ mềm mại, dịu dàng. Thích Ca-chiu-sa của
Hồng quân Liên Xô. Thích ngồi bó gối mơ màng).
Phương Định là con gái Hà Nội vào chiến trường. Cô có một thời học sinh hồn nhiên, vô tư
bên người mẹ, một căn buồng nhỏ ở một đường phố yên tĩnh trong những ngày thanh bình
trước chiến tranh ở thành phố của mình. Những kỷ niệm ấy luôn sống lại trong cô ngay giữa
chiến trường dữ dội. Nó vừa là niềm khao khát, vừa làm dịu mát tâm hồn trong hoàn cảnh
căng thẳng, khốc liệt của chiến trường. (Để đỡ dài, văn bản truyện đưa vào sách giáo khoa
đã lược đi nhiều đoạn hồi tưởng của nhân vật).

cho vẻ đẹp của cả thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Những ngôi sao lấp lánh
một thứ ánh sáng không rực rỡ mà sáng trong, tưởng như xa mà lại rất gần.
KHÚC HÁT RU NHỮNG EM BÉ LỚN TRÊN LƯNG MẸ
__________Nguyeen Khoa Điềm_____________(sưu tầm)
Bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm ra đời ngay tại chiến
khu Trị – Thiên, trong những ngày kháng chiến chống Mĩ đang dần đến thắng lợi nhưng vẫn còn
vô cùng gian khổ. Nhà thơ đã tận mắt chứng kiến hình ảnh những bà mẹ Tà-ôi giã gạo nuôi bộ
đội đánh Mĩ, để cảm xúc từ hiện thực thăng hoa thành những vần thơ có sức lay động mãnh liệt.
Bài thơ “thể hiện tình yêu thương con gắn với lòng yêu nước, với tinh thần chiến đấu của
người mẹ miền tây Thừa Thiên bằng những khúc ru nhịp nhàng, mang giọng điệu ngọt ngào trìu
mến”.
Người mẹ trong thi ca từ sau cách mạng tháng Tám luôn là hình tượng trung tâm, có sự
phát triển về tầm vóc và chiều sâu tình cảm tư tưởng, hài hoà riêng chung. Từ những
người mẹ trong thơ Tố Hữu thời kì kháng chiến chống Pháp như bà Bầm, bà Bủ, bà mẹ
Việt Bắc đến người mẹ trong Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên, chúng ta đã từng được
cảm nhận sự gắn kết giữa người mẹ với cách mạng và kháng chiến. Đến thời kì kháng
chiến chống Mĩ, với tính chất quyết liệt gian khổ, chúng ta từng gặp những vẻ đẹp như
hình tượng người mẹ đào hầm giấu hàng sư đoàn dưới đất ở Đất quê ta mênh mông
của nhà thơ Dương Hương Ly. Có thể nói hình tượng người mẹ trong bài thơ của
Nguyễn Khoa Điềm là sự kế thừa tốt đẹp những đặc trưng người mẹ quê hương – người
mẹ chiến sĩ, tập trung những cảm xúc trong trẻo nhất của nhà thơ, gợi về vẻ đẹp tâm
hồn của đồng bào dân tộc theo kháng chiến. Không phải ngẫu nhiên khi phổ nhạc bài thơ
này, nhạc sĩ Trần Hoàn đã đặt lại tựa đề là Lời ru trên nương, bởi lẽ chính những lời
ru đã làm thành cấu tứ của bài thơ, dẫn dắt ta vào một thế giới mang đậm bản sắc
riêng của người Tà-ôi. Bài thơ như là minh chứng của tấm lòng đồng bào dân tộc một
lòng tin theo Đảng, , thương con thương bộ đội, thương yêu núi rừng nương rẫy làng bản,
thương đất nước. Tình thương thành điệp khúc xuyên suốt theo nhịp chày của mẹ :
Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi
Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ
Có lẽ đây là lời của nhà thơ, hàm chứa bao trìu mến dành cho chú bé Tà-ôi như muốn góp thêm

Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ, con nằm trên lưng
Lời thơ thật dịu dàng như ru sâu thêm giấc ngủ cho em cu Tai, như muốn sẻ chia những vất vả
nhọc nhằn trong công việc của mẹ. Không gian mênh mang của vùng núi rừng tây Thừa Thiên
như mở ra với ánh mặt trời lan toả khắp núi đồi. Nổi bật giữa khung cảnh là người mẹ Tà-ôi với
công việc cần mẫn. Nhưng mẹ không hề đơn độc chính vì có mặt trời của mẹ – em cu Tai đang
ngon giấc. Với cách ví von đặc sắc này, nhà thơ đã tạo nên liên tưởng về mối quan hệ mật thiết
của con người với núi rừng, nương rẫy. Không có tình cảm gắn bó, không thể tạo được liên
tưởng thú vị giữa hạt bắp với con nằm trên lưng. Mặt trời không gợi ra cảm giác về độ nóng, độ
chói mà trở thành hình tượng biểu trưng cho nguồn sống mạnh mẽ. Mặt trời của bắp đem lại hạt
mẩy hạt chắc. Mặt trời của mẹ – em cu Tai là hạnh phúc, nguồn sống của mẹ. Những chú bé
Tà-ôi được tắm trong ánh sáng sẽ trở nên vạm vỡ săn chắc, ánh mặt trời hào phóng ban tặng cho
mẹ những đứa con khoẻ mạnh của núi rừng. Hình tượng sáng tạo của Nguyễn Khoa Điềm đã
đem lại những rung cảm thẩm mĩ đặc biệt.
Người đọc còn nhận ra tấm lòng mẹ mênh mông trong hình ảnh mẹ con không cách xa : Lưng
đưa nôi và tim hát thành lời . Lời tim ngân nga suốt ba đoạn thơ thành điệp khúc dạt dào thương
mến :
Ngủ ngoan a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi
Mẹ thương a-kay…
Khởi nguồn của mọi hành động cao cả bắt đầu từ tình yêu bình dị nhất. Điểm xuất phát của lời
ru chính từ tấm lòng mẹ thương a-kay vô bờ bến này ! Còn tình thương nào bình dị, gần gũi mà
sâu sắc bằng tình mẹ thương con ? Âm vang lòng mẹ cất thành lời ru, thành lời thơ đầy xúc cảm
của Nguyễn Khoa Điềm, với những chiều liên tưởng gắn bó trực tiếp với từng công việc của mẹ,
bộc lộ vẻ đẹp rất giản dị mà cao cả. Mẹ thương a-kay ! – rất ngắn gọn nhưng cũng rất đầy đủ,
đẹp đẽ vẻ đẹp tâm hồn mẹ. Hơn thế nữa, đó là xuất phát điểm của những tình cảm thời đại :
mẹ thương bộ đội. Có ranh giới nào của tình thương rất đầm ấm ấy không ?
Sự sống của a-kay cũng là tương lai của buôn làng. Bởi thế cũng rất tự nhiên khi mẹ thương a-
kay, mẹ thương làng đói. Cuộc sống của người Tà-ôi những năm chống Mĩ còn bao cơ cực thiếu
thốn nhưng sức mạnh của tình thương sẽ giúp người mẹ vượt lên tất cả. Bàn tay mẹ cần mẫn
tỉa bắp, gieo mầm sự sống với niềm mong mỏi thật bình dị : hạt bắp lên đều. Núi rừng, làng buôn

Trong tình cảm của người Tà-ôi cũng như của những đứa con miền Nam chiến đấu chống Mĩ,
Bác Hồ luôn là nguồn động viên, là biểu tượng sáng chói của cách mạng, của chiến thắng. Bởi
vậy, mong ước được gặp Bác luôn là cảm xúc thường trực, dù cho thời điểm viết bài thơ này là
1971. Bởi lẽ, chỉ có thống nhất, mẹ mới được ra với Bác. Giấc mơ đẹp gắn liền với ước nguyện
giành lại trọn vẹn non sông, thoả lòng Bác mong. Lời ru kết lại cùng hình tượng em cu Tai của
tương lai là người Tự do của một đất nước hoà bình. Đó cũng là mong ước chung của nhân
dân, của những người Việt Nam yêu nước.
Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm đã tạo được những cảm xúc
đồng điệu với bao người con miền Nam anh dũng thời chống Mĩ, nói lên trọn vẹn vẻ đẹp và tâm
tư của người dân tộc miền tây Thừa Thiên trung dũng kiên cường, thủy chung với cách mạng.
Cảm xúc bình dị trong sáng với hình tượng người mẹ đã làm nên sức hấp dẫn riêng của tác
phẩm. Từ ngôn ngữ đến hình ảnh thơ đều đậm chất dân tộc, đem đến cho người đọc những
cảm nhận đặc biệt thương mến cùng hoà theo lời ru cho giấc ngủ thanh bình của em bé Tà-ôi.
Bài thơ toát lên tinh thần lạc quan cách mạng, kết đọng những ân tình sâu lắng của nhà thơ về
nhân dân đất nước cũng như niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mĩ.
Niềm tin ngày ấy giờ đây đã thành hiện thực. Em cu Tai ngày ấy giờ đây cũng đã trưởng thành
và sống làm người Tự do như niềm mong mỏi ngày nào thiết tha trong lời ru của mẹ. Nhưng lời
ru ngày ấy mãi còn sức vang ngân trong lòng bao thế hệ, bồi đắp tình yêu quê
Phân tích tình cmar cha con trong bài "Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng
Có câu nói:”Những tình cảm đẹp sẽ là động lực mạnh mẽ trong tâm hồn mỗi người!”Vì lòng yêu
cha,một cô bé nhỏ mới tám tuổi nhưng nhất quyết không nhận người khác làm bố,cho dù bị đánh.Vì
lòng thương con,một người chiến sỹ dù ở sa trường vẫn luôn cặm cụi làm một chiếc lược để tặng đứa
con gái bé bỏng.Có người nhận xét rằng “tình phụ tử không thể ấm áp và đẹp đẽ như tình mẫu
tử”.Song nếu đọc truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng ,có thể bạn sẽ phải có cái
nhìn khác mới mẻ và chân thực hơn.Câu chuyện khắc họa hình ảnh một nhân vật bé Thu đầy ấn tượng
và tinh tế, hơn thế lại ca ngợi tình cha con thiêng liêng,vĩnh cửu dù trong chiến tranh.
Nguyễn Quáng Sáng sinh năm 1933 ở An Giang.Thời kỳ kháng chiến chống Pháp ông tham gia bộ đội
và hoạt động ở chiến trường Nam Bộ.Sau năm 1945, ông tập kết ra Bắc và bắt đầu viết vănn.Có lẽ vì
sinh ra va hoạt động chủ yếu ở miền Nam nên các tác phẩm của ông hầu như chỉ viết về cuộc sống và
con người Nam Bộ.Các tác phẩm chính là Chiếc lược ngà(1968),Mùa gió chướng(1975),Dòng sông


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status