Gián án Hoàn cảnh ra đời và chủ đề của tác phẩm - Pdf 81

Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
1.Bài thơ Đồng chí được nhà thơ Chính Hữu sáng tác năm 1948, sau khi tác giả đã cùng đồng đội
tham gia chiến đấu trong chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947) đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn
của giặc Pháp lên chiến khu Việt Bắc, in trong tập thơ Đầu súng trăng treo.
Chủ đề: Bài thơ ca ngợi tình đồng chí đồng đội thiêng liêng cao cả, vào sinh ra tử có nhau của các
anh bộ đội thời kháng chiến chống Pháp.
2. Bài thơ về tiểu đội xe không kính được nhà thơ Phạm Tiến Duật sáng tác năm 1969, trên con
đường chiến lược Trường Sơn, bài thơ nằm trong chùm thơ được giải Nhất của cuộc thi thơ báo
Văn nghệ tổ chức và được đưa vào tập thơ Vầng trăng – Quầng lửa của tác giả.
Chủ đề: Bài thơ ca ngợi những chiến sĩ lái xe Trường Sơn thời đánh Mĩ dũng cảm ngoan cường, lạc
quan yêu đời trong mưa bom bão đạn, quyết chiến đấu hi sinh vì một lí tưởng cao cả là giải phóng
miền Nam thống nhất Tổ quốc.
3.Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá được nhà thơ Huy Cận sáng tác năm 1958, trong chuyến đi thực tế
dài ngày tại vùng mỏ Quảng Ninh. Từ chuyến đi này hồn thơ Huy Cận mới thực sự nảy nở trở lại và
dồi dào trong cảm hứng về thiên nhiên đất nước, về lao động và niềm vui trước cuộc sống mới. Bài
thơ được in trong tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng (1958)
Chủ đề:Bài thơ miêu tả đoàn thuyền ra khơi đánh cá trong một đêm trăng trên Hạ Long, qua đó ca
ngợi biển quê hương giàu đẹp, người dân chài làm chủ cuộc đời, hăng say lao động, xây dựng cuộc
sống mới ấm no hạnh phúc.
4. Bài thơ Bếp lửa được sáng tác năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên học ngành Luật ở nước
ngoài. Bài thơ được đưa vào tập Hương cây – Bếp lửa (1968), tập thơ đầu tay của Bằng Việt và
Lưu Quang Vũ.
Chủ đề: Qua hình ảnh Bếp lửa – ngọn lửa , tác giả thể hiện lòng thương nhớ, kính yêu và biết ơn bà
của đứa cháu đi xa, đồng thời nói lên tình yêu thiết tha đối với gia đình, quê hương, đất nước.
5.Bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ được Nguyễn Khoa Điềm sang tác năm
1971, khi đang công tác tại chiến khu miền tây Thừa Thiên.
Chủ đề: Bài thơ ca ngợi tấm lòng đôn hậu, dạt dào tình thương con của bà mẹ Tà ôi ; tình thương
con gắn liền với tình yêu nước, yêu bộ đội Cụ Hồ, yêu bà con làng bản quê hương.
6.Bài thơ Ánh trăng được Nguyễn Duy sáng tác năm 1978, khi ông đang là đại diện thường trú của
Báo Văn nghệ tại thành phố Hồ Chí Minh. Bài thơ được in trong tập thơ cùng tên của tác giả.
Chủ đề:Bài thơ ca ngợi vầng trăng tri kỉ của tuổi thơ, của người lính một thời trận mạc, đồng thời gợi

thuộc thành phố HCM) quê cha ở xã Bồ Điền, huyện Phong Điền tỉnh TT Huế. Ông thi đỗ tú tài năm 21 tuổi
(1843), 6 năm sau (1849), ông bị mù 2 mắt. không đầu hàng số phận, ông về Gia Định dạy học va bốc thuốc
chữa bệnh cho dân. Khi thực dân Pháp xâm lợc Nam Kỳ, Nguyễn Đình Chiểu tích cực tham gia phong trào
kháng chiến, cùng các lãnh tụ nghĩa quân bàn bạc việc đánh giặc và sáng tác thơ văn khích lệ tinh thần
chiến đấu của nhân dân. Lúc cả Nam Kỳ đã rơi vào tay giặc, ông về sống tại Ba Tri(Bên Tre) , nêu cao tinh
thần bất khuất trớc kẻ thù, giữ trọn lòng trung thành với tổ quốc, với nhân dân cho đên lúc mất
4)Chính Hữu (1926-2007) tên khai sinh là Trần Đình Đắc, quê ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. 1946,ông gia
nhập trung đoàn thủ đô và hoạt đông trong quân đội suốt 2 cuộc kháng chiến trống Phap và chống Mỹ.
Chính Hữu làm thơ từ 1947 và hầu nh chỉ viết về lính và chiến tranh. Tập thơ ầu súng trăng treo (1966) là
tác phẩm chính của ông. Thơ ông không nhiều nhng có những bài đặc sắc, cảm xúc dồn nén, ngôn ngữ và
hình ảnh chọn lọc, hàm súc. Nm 2000,Chính Hữu đợc nhà nớc tặng giải thởng HCM về văn học nghệ thuật.
5)Phạm Tiến Duật (1941-2007) Quê ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ. Sau khi tốt nghiện trờng đại học s
phạm HN, 1964 Phạm Tiến Duật gia nhập quân đội, hoạt động trên tuyến đờng Trờng Sơn và trở thành một
trong những gơng măt tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời trống Mỹ cú nớc. Thơ Phạm Tiên Duật tập
trung thể hiện hình ảnh thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến trống Mỹ qua các hình tợng ngời lính và cô thanh
niên xung phong trên tuyến đờng Trờng Sơn. Thơ ông có giọng điệu sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh
nghịch mà sâu sắc.
6)Huy Cận(1919-2005) Tên đầy đủ là Cù Huy Cận, quê ở làng Ân Phú, huyện Vụ Quang, trớc đây thuộc
huyên Hơng Sơn, sau la Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Huy Cận đã nổi tiếng trong phong trào Thơ Mới với tập thơ
Lửa thiêng (1940). Ông tham gia cách mạng từ trớc năm 1945 và sau cách mạng tháng 8 từng giữ nhiều
trọng trách trong chính quyền cách mạng, đồng thời la 1 trong những nhà thơ tiêu biểu của lền thơ hiện đại
VN. Huy Cận đã đợc nhà nớc trao tặng giải thởng HCM về văn học nghệ thuật (1996).
7)Bằng Việt tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941, quê ở huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây (nay
thuộc HN).Bằng Việt làm thơ từ những năm 60 va thuộc thế hệ các nhà thơ trởng thành trong thời kỳ kháng
chiến trống Mỹ. Hiện nay ông là chủ tịch hội liên hiệp văn học nghệ thuật HN.
8)Nguyễn Duy tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948 quê ở làng Quản Xá nay thuộc phờng
Đông Vệ, thành phố Thanh Hoá. năm 1966 Nguyễn Duy gia nhập quân đội, vào binh chủng thông tin , tham
chiến đấu ở nhiều chiến trờng. Sau 1975 ông chuyển về làm báo văn ngh giải phóng. từ năm 1977 Nguyễn
Duy đại diện thờng trú báo Văn nghệ tại thành phố HCM
9)Kim Lân(1920-2007), Tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở huyện Từ Sơn tỉnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status