MỞ ĐẦU
Kế thừa và phát huy truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của
cha ông ta, trong hơn một nửa thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
việt Nam quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhân dân Việt Nam đã
đoàn kết, vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, anh dũng, kiên cường, thông
minh và vươn lên trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước.
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt
Nam tạo nên những kỳ tích mới trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước vững bước vào thiên
niên kỷ mới, từng bước xây dựng nền kinh tế tri thức.Trong sự nghiệp xây
dựng và phát triển kinh tế, Đảng và nhà nước ta đã vận dụng sáng tạo triệt để
chính sách kinh tế mới - NEP vào Việt Nam. Chính sự vận dụng này đã đưa
nền kinh tế nước ta thoát khỏi tình trạng trì trệ, bế tắc của nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung; tạo được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng
đất nước.Để hiểu kỹ hơn chúng ta cùng tìm hiểu về chính sách kinh tế mới
NEP.1
I. Hoàn cảnh ra đời và nội dung của chính sách kinh tế mới.
1.Hoàn cảnh ra đời.
Sau cách mạng tháng 10 năm 1917, đầu năm 1918, Lênin đã đề ra kế
hoạch khôi phục và phát triển nền kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy
nhiên đến cuối năm 1918, kế hoạch đó đã phải hoãn lại vì ở Nga xảy ra nội
chiến Để đối phó với tình hình, Lênin và Đảng cộng sản Bônsevich phải thực
hiện chính sách "Kinh tế cộng sản thời chiến". Nội dung cơ bàn của chính sách
này là trưng thu lương thực thừa của nông dân sau khi để lại cho họ mức ăn tối
thiểu. Đồng thời, xóa bỏ việc tự do buôn bán lương thực trên thị trường, thực
hiện chế độ cung cấp hiện vật cho quân đội và bộ máy nhà nước.
Sau khi nội chiến chấm dứt, chính sách cộng sản thời chiến không còn phù
hợp, nó trở thành nhân tố kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất , nó
quốc hữu hóa, thông qua chính sách thuế để quan lý họ và có biện pháp hỗ trợ
(cho vay vốn, bán nguyên liệu, ...); củng cố, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà
nước, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế trong các xí nghiệp quốc doanh;
khuyến khích, ưu đãi, giúp đỡ kinh tế tập thể phát triển; phát triển có kiểm soát,
quản lý kinh tế tư bản nhà nước.
c. Mở rộng thị trường, phát triển thương nghiệp.
Tổ chức thị trường thương nghiệp, thiết lập quan hệ hàng hóa - tiền tệ giữa
nhà nước và nông dân, giữa thành thị và nông dân, giữa công nghiệp và nông
nghiệp.
Mở rộng lưu thông trao đổi giữa các ngành và các vùng kinh tế trong nước,
cho phép tư bản tư nhân được tự do hoạt động (chủ yếu trên lĩnh vực bán lẻ) để
góp phần khôi phục kinh tế.
Phát triển mạnh quan hệ hợp tác với các nước tư bản phương Tây để tranh
thủ vốn, kỹ thuật và khuyến khích kinh tế phát triển.
d. Sử dụng các hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước.3
Theo Lênin: thực hiện chính sách kinh tế mới nghĩa là phải đẩy lùi về với
chủ nghĩa tư bản, phải dùng bàn tay của cả nhà tư bản để cày xới miếng đất xây
dựng chủ nghĩa xã hội.
Cũng theo Lênin: Chủ nghĩa tư bản nhà nước là sự can thiệp của nhà nước
vào các xí nghiệp tư bản tư nhân.
Thành phần tư bản nhà nước là hình thức kinh tế trung gian qua độ mà vốn
của nó do nhà nước và nhà tư bản cùng góp vốn kinh doanh. Nó bao gồm các
hình thức hợp tác kinh doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong
nước và ngoài nước.4
5
đường hầm thì Việt Nam mới chỉ đứng ở đầu đường hầm còn Nga đã ở giữa
đường hầm, ở Nga bây giờ chỉ còn tiếp tục công nghiệp hóa với ý nghĩa là tiếp
tục giai đoạn cuối của quá trình công nghiệp hóa.
- Công nhân ở Việt Nam đại bộ phận là thủ công, trình độ thấp, ý thức tự
giác, kỷ luật chưa cao còn công nhân Nga đã trải qua một chặng đường dài
dưới chủ nghĩa tư bản nên tính tự giác, ý thức kỷ luật cao, cũng vì thế mà trình
độ tổ chức, quản lý kinh tế của Nga cao hơn hẳn ở Việt Nam.
- Nga là nước đầu tiên đi lên chủ nghĩa xã hội còn Việt Nam đi lên chủ
nghĩa xã hội khi mà chủ nghĩa xã hội đã hình thành hệ thống trên thế giới.
- Ở Nga sau cách mạng tháng 10 chỉ tồn tại có 5 thành phần kinh tế còn
Việt Nam do đã bình thường được quan hệ hóa với các nước trên thế giới nên
tồn tại cả thành phần kinh tế thứ 6: thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài.
Từ những điểm tương đồng và những điểm khác biệt trên chúng ta có thể
thấy rõ hơn sự vận dụng NEP vào Việt Nam:
- Do đều có nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá, nạn đói liên tục xảy ra, đại
bộ phận người lao động là nông dân nên Việt Nam và Nga đều phải thi hành
những chính sách hợp lý để khuyến khích nông dân sản xuất.
-Do tồn tại nhiểu thành phần kinh tế nên phát triển kinh tế hàng hóa nhiểu
thành phần trong NEP cũng được Đảng và nhà nước ta vận dụng.
Tuy nhiên trong thời kì lịch sử mới hiện nay ở Viêt Nam đã xuất hiện một
thành phần kinh tế mới. Đó là thành phần kinh tế có vốn đảu tư nước ngoài,
điều này ở Nga sau cách mạng tháng 10 là chưa có, vì vậy Đảng và nhà nước ta
đã vận dụng sáng tạo chính sách kinh tế mới NEP để thu hút vốn đầu tư nước
ngoài, phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.6
2. Đánh giá những thành quả trong việc vận dụng NEP vào: