TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
Báo cáo tốt nghiệp
Đề tài:
Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu và
công cụ dụng cụ tại Chi nhánh Tổng công ty xây dựng
và phát triển hạ tầng tại Quảng Ninh
1
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 2
PHẦN 1: 4
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU,
CÔNG CỤ DỤNG CỤ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 4
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH XÂY DỰNG CƠ BẢN .4
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ TẠI
CHI NHÁNH TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG
QUẢNG NINH 29
PHẦN 3 : 65
MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT
LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ TẠI CHI NHÁNH LICOGI QUẢNG NINH 65
3.1 NHẬN XÉT VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN VẬT TƯ TẠI CHI NHÁNH
LICOGI QN 65
KẾT LUẬN 72
LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại quốc tế WTO, đây là
động lực thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển, hội nhập với các nước trong khu vực và trên
thế giới. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới, hoàn thiện hệ thống các công cụ quản lý
phát triển hạ tầng tại Quảng Ninh trực thuộc Tổng công ty xây dựng và phát triển hạ tầng
( LICOGI ); được sự giúp đỡ tận tình của Ban Giám đốc, đặc biệt là của các cô, các anh chị trong
phòng kế toán Chi nhánh, em đã được làm quen và tìm hiểu thực tế công tác kế toán tại đơn vị.
Cùng với sự hướng dẫn của Tiến sĩ Lưu Đức Tuyên, em đã đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu và lựa
chọn đề tài:" Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ tại
Chi nhánh Tổng công ty xây dựng và phát triển hạ tầng tại Quảng Ninh "làm khoá luận tốt
nghiệp.
Kết cấu đề tài gồm 3 phần:
Phần 1 : Những vấn đề lý luận chung về kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ ở
doanh nghiệp xây lắp.
Phần 2 : Thực trạng kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ taị Chi nhánh Tổng
công ty xây dựng và phát triển hạ tầng (LICOGI) tại Quảng Ninh.
3
Phần 3 : Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán nguyên vật liệu, công cụ
dụng cụ tại Chi nhánh Tổng công ty xây dựng và phát triển hạ tầng (LICOGI) tại Quảng
Ninh.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã hướng dẫn em trong quá trình giảng dạy
tại nhà trường; đặc biệt em xin cảm ơn Tiến sĩ Lưu Đức Tuyên đã hướng dẫn em hoàn thành bài
khoá luận này.
PHẦN 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN
NGUYÊN VẬT LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÀNH XÂY
DỰNG CƠ BẢN.
XDCB là ngành sản xuất vật chất có vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
XDCB là quá trình xây dựng mới, xây dựng lại, cải tạo, hiện đại hoá khôi phục các công trình
nhà máy, xí nghiệp, đường xá, cầu cống, nhà cửa… nhằm phục vụ cho sản xuất và đời sống xã
hội. Đây còn là ngành sản xuất vật chất đặc biệt ở chỗ nó có chức năng tái sản xuất tài sản cố
định cho tất cả các ngành trong nền kinh tế quốc dân. So với các ngành kinh tế khác XDCB có
LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG CƠ BẢN.
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ.
Nguyên vật liệu là một bộ phận trọng yếu của tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu là đối
tượng của lao động đã qua sự tác động của con người. Trong đó vật liệu là những nguyên liệu đã
trải qua chế biến. Vật liệu được chia thành vật liệu chính, vật liệu phụ và nguyên liệu gọi tắt là
nguyên vật liệu. Việc phân chia nguyên liệu thành vật liệu chính, vật liệu phụ không phải dựa
vào đặc tính vật lý, hoá học hoặc khối lượng tiêu hao mà là sự tham gia của chúng vào cấu thành
sản phẩm.
Khác với vật liệu, công cụ dụng cụ là những tư liệu lao động không có đủ các tiêu chuẩn
về giá trị và thời gian sử dụng quy định đối với tài sản cố định.
Trong quá trình thi công xây dựng công trình, chi phí sản xuất cho ngành xây lắp gắn liền
với việc sử dụng nguyên nhiên vật liệu, máy móc và thiết bị thi công và trong quá trình đó vật
liệu là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là cơ sở vật chất cấu thành lên sản
phẩm công trình. Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
vật liệu bị tiêu hao toàn bộ và chuyển giá trị một lần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ.
1.2.2 Vị trí, vai trò của nguyên vật liệu - công cụ dụng cụ.
Trong doanh nghiệp xây lắp chi phí về vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn từ 65%- 70%
trong tổng gía trị công trình. Do vậy việc cung cấp nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ kịp thời hay
không có ảnh hưởng to lớn đến việc thực hiện kế hoạch sản xuất (tiến độ thi công xây dựng) của
doanh nghiệp, việc cung cấp nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ còn cần quan tâm đến chất lượng.
Chất lượng các công trình phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của vật liệu mà chất lượng công
trình là một điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp tồn tại và giữ uy tín trên thị trường. Trong cơ
5
chế thị trường hiện nay việc cung cấp vật liệu còn cần đảm bảo giá cả hợp lý tạo điều kiện cho
doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả.
Bên cạnh đó, công cụ dụng cụ tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh mà vẫn giữ
nguyên được hình thái vật chất ban đầu, giá trị thì dịch chuyển một lần hoặc dịch chuyển dần vào
chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ. Song do giá trị nhỏ, thời gian sử dụng ngắn nên có thể
được mua sắm, dự trữ bằng nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp như đối với nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ có vị trí hết sức quan trọng đối với hoạt động sản xuất
_ Việc tổ chức kho tàng, bến bãi thực hiện đúng chế độ bảo quản đối với từng loại
nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ tránh hư hỏng, mất mát, hao hụt, đảm bảo an toàn cũng là một
trong các yêu cầu quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ.
_ Trong khâu dự trữ đòi hỏi doanh nghiệp phải xác định được mức dự trữ tối đa, tối thiểu
để đảm bảo cho quá trình thi công xây lắp được bình thường, không bị ngừng trệ, gián đoạn do
việc cung ứng vật tư không kịp thời hoặc gây ứ đọng vốn do dự trữ quá nhiều.
_ Sử dụng hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở định mức tiêu hao và dự toán chi phí có ý nghĩa
quan trọng trong việc hạ thấp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm nhằm tăng lợi nhuận, tăng
tích luỹ cho doanh nghiệp. Do vậy trong khâu sử dụng cẩn phải tổ chức tốt việc ghi chép, phản
ánh tình hình xuất vật liệu, công cụ dụng cụ đúng trong sản xuất kinh doanh. Định kỳ tiến hành
việc phân tích tình hình sử dụng vật liệu, công cụ dụng cụ cũng là những khoản chi phí vật liệu
cho quá trình sản xuất sản phẩm nhằm tìm ra nguyên nhân dẫn đến tăng hoặc giảm chi phí vật
liệu cho một đơn vị sản phẩm, khuyến khích việc phát huy sáng kiến cải tiến, sử dụng tiết kiệm
vật liệu, công cụ dụng cụ, tận dụng phế liệu…
Tóm lại, quản lý vật liệu, công cụ dụng cụ từ khâu thu mua, bảo quản, dự trữ, sử dụng vật
liệu là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý doanh nghiệp luôn được các
nhà quản lý quan tâm.
1.2.4 Nhiệm vụ của kế toán NVL, CCDC trong doanh nghiệp xây lắp.
Kế toán là công cụ phục vụ việc quản lý kinh tế vì thế để đáp ứng một cách khoa học,
hợp lý xuất phát từ đặc điểm của vật liệu, công cụ dụng cụ; từ yêu cầu quản lý vật liệu, công cụ
dụng cụ; từ chức năng của kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ trong các doanh nghiệp sản xuất cần
thực hiện các nhiệm vụ sau:
+ Tổ chức ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu về tình hình thu mua, vận chuyển, bảo
quản, tình hình nhập, xuất và tồn kho vật liệu. Tính giá thành thực tế vật liệu đã thu mua và nhập
kho, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch thu mua vật liệu tư về các mặt: số lượng, chủng loại,
giá cả, thời hạn nhằm đảm bảo cung cấp kịp thời, đầy đủ, đúng chủng loại cho quá trình thi công
xây lắp.
+ Áp dụng đúng đắn các phương pháp về kỹ thuật hạch toán vật liệu, hướng dẫn, kiểm tra
các bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp thực hiện đầy đủ chế độ hạch toán ban đầu về vật liệu
(lập chứng từ, luân chuyển chứng từ) mở chế độ đúng phương pháp quy định nhằm đảm bảo sử
ấm, hệ thống thu lôi…
+ Vật liệu phụ: Là những loại vật liệu khi tham gia vào quá trình sản xuất, không cấu
thành thực thể chính của sản phẩm. Vật liệu phụ được sử dụng trong sản xuất để làm tăng chất
lượng sản phẩm, hoàn chỉnh sản phẩm hoặc phục vụ cho công tác quản lý, phục vụ thi công, cho
nhu cầu công nghệ kỹ thuật bao gói sản phẩm. Trong ngành xây dựng cơ bản gồm: sơn, dầu,
mỡ… phục vụ cho quá trình sản xuất.
+ Nhiên liệu: Là một loại vật liệu phụ, nhưng có tác dụng cung cấp nhiệt lượng trong quá
trình thi công, sản xuất kinh doanh tạo điều kiện cho quá trình chế tạo sản phẩm có thể diễn ra
bình thường. Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng, khí, rắn như: xăng, dầu, than củi, hơi đốt dùng
để phục vụ cho công nghệ sản xuất sản phẩm, cho các phương tiện máy móc, thiết bị hoạt động.
+ Phụ tùng thay thế: Là những vật tư dùng để thay thế, sửa chữa máy móc thiết bị,
phương tiện vận tải, công cụ, dụng cụ sản xuất…
9
+ Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: Là những vật tư được sử dụng cho công việc
XDCB. Đối với thiết bị xây dựng cơ bản bao gồm cả thiết bị cần lắp, thiết bị không cần lắp, công
cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt vào công trình XDCB.
+ Vật liệu khác: Là các loại vật liệu không được xếp vào các loại trên. Các loại vật liệu
này do quá trình sản xuất loại ra như các loại phế liệu, vật liệu thu hồi do thanh lý…
* Căn cứ vào nguồn gốc nguyên liệu, vật liệu được chia thành:
+ Nguyên liệu, vật liệu mua ngoài
+ Nguyên liệu, vật liệu tự chế biến, gia công
* Căn cứ vào mục đích và nơi sử dụng, nguyên liệu, vật liệu được chia thành:
+ Nguyên liệu, vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất kinh doanh
+ Nguyên liệu, vật liệu dùng cho công tác quản lý
+ Nguyên liệu, vật liệu dùng cho các mục đích khác
1.3.1.2 Phân loại công cụ, dụng cụ.
Công cụ, dụng cụ là những tư liệu lao động không có đủ tiêu chuẩn của TSCĐ về giá trị
và thời gian sử dụng. Tuy nhiên, theo quy định hiện hành, những tư liệu lao động sau đây không
phân biệt giá trị và thời gian sử dụng vẫn được hạch toán là công cụ, dụng cụ:
- Các đà giáo, ván khuôn, công cụ, dụng cụ gá lắp chuyên dùng cho công tác xây lắp.
11
1.3.2 Đánh giá vật tư.
Các loại vật tư thuộc hàng tồn kho của doanh nghiệp, do đó về nguyên tắc đánh giá vật tư
cũng phải tuân thủ nguyên tắc đánh giá hàng tồn kho. Vật tư trong doanh nghiệp có thể được
đánh giá theo trị giá gốc ( hay còn gọi là giá vốn thực tế) và giá hạch toán.
Đánh giá vật liệu, công cụ dụng cụ có ý nghĩa quan trọng trong việc hạch toán đúng đắn
tình hình tài sản cũng như chi phí sản xuất kinh doanh. Đánh giá vật liệu, công cụ dụng cụ là
dùng thước đo tiền tệ để biểu hiện giá trị của vật liệu thực tế, tức là toàn bộ số tiền mà doanh
nghiệp bỏ ra để có được số vật tư hàng hoá đó.
1.3.2.1 Đánh giá vật tư theo trị giá vốn thực tế.
* Giá thực tế vật tư nhập kho:
Tuỳ theo nguồn nhập mà giá thực tế của vật liệu, công cụ dụng cụ được xác định như sau:
_ Đối với vật tư mua ngoài thì giá thực tế nhập kho:
= +
+ -
_ Đối với vật tư do doanh nghiệp tự gia công chế biến:
= +
_ Đối với vật tư thuê ngoài gia công chế biến:
= +
+
_ Đối với vật tư nhận vốn góp liên doanh, vốn góp cổ phần thì trị giá vốn thực tế là giá
được các bên liên doanh, góp vốn đánh giá và chấp thuận.
_ Đối với phế liệu, phế phẩm thu hồi được đánh giá theo giá ước tính.
* Giá thực tế vật tư xuất kho.
Nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ được thu mua và nhập kho thường xuyên từ nhiều
nguồn khác nhau, do đó giá thực tế của từng lần, đợt nhập kho không hoàn toàn giống nhau. Khi
xuất kho kế toán phải tính toán xác định được giá thực tế xuất kho cho từng nhu cầu, đối tượng
12
Giá thực
= x
Trong đó giá đơn vị bình quân gia quyền có thể tính theo một trong các cách sau:
_ Giá đơn vị bình quân cả kỳ dự trữ:
Cách tính này tuy đơn giản, dễ làm nhưng độ chính xác không cao, việc tính toán lại dồn
vào cuối tháng gây ảnh hưởng đến công tác quyết toán.
_ Giá đơn vị bình quân tồn đầu kỳ:
Cách tính này khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình biến động của từng loại vật
liệu, công cụ dụng cụ trong kỳ; tuy nhiên không chính xác vì không tính đến sự biến động của
giá cả vật liệu, công cụ dụng cụ kỳ này.
_ Giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập (bình quân gia quyền liên hoàn):
Giá đơn vị bình quân
sau mỗi lần nhập
=
Giá thực tế từng loại tồn kho sau mỗi lần nhập
Lượng thực tế từng loại tồn kho sau mỗi lần nhập
Giá đơn vị bình
quân cả kỳ
=
Trị giá thực tế tồn đầu kỳ + Trị giá thực tế nhập trong kỳ
Lượng thực tế tồn đầu kỳ + Lượng thực tế nhập trong kỳ
Giá đơn vị bình
quân cuối kỳ trước
=
Trị giá thực tế tồn kho đầu kỳ ( hoặc cuối kỳ trước)
Lượng thực tế tồn đầu kỳ ( hoặc cuối kỳ trước)
13
Giá thực tế
liệu, công cụ dụng cụ xuất. Cuối kỳ phải điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế để có số liệu
ghi vào sổ kế toán tổng hợp và báo cáo kế toán. Việc điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế
tiến hành như sau:
Trước hết phải tính được hệ số giữa giá thực tế và giá hạch toán của vật tư luân chuyển
trong kỳ ( H) theo công thức sau:
H =
Trị giá thực tế vật tư tồn đầu kỳ + Trị giá thực tế vật tư nhập trong kỳ
Trị giá hạch toán vật tư tồn đầu kỳ + Trị giá hạch toán vật tư nhập trong kỳ
Sau đó tính trị giá của vật tư xuất trong kỳ theo công thức:
= x
14
Giá trị thực tế của
vật tư xuất trong
kỳ
Trị giá hạch toán của
vật tư xuất trong kỳ
Hệ số chênh
lệch
Tuỳ thuộc vào đặc điểm, yêu cầu về trình độ quản lý của doanh nghiệp mà trong các
phương pháp tính giá vật tư xuất kho theo đơn giá thực tế hoặc hệ số giá (trong trường hợp sử
dụng giá hạch toán) có thể tính riêng cho từng thứ, nhóm hoặc cả loại vật liệu, công cụ dụng cụ.
1.4 Hạch toán chi tiết vật tư.
Vật liệu, công cụ, dụng cụ là một trong những đối tượng kế toán các loại tài sản cần phải
tổ chức hạch toán chi tiết không chỉ về mặt giá trị mà cả hiện vật, không chỉ theo từng kho mà
phải chi tiết theo từng loại, nhóm, thứ… và phải được tiến hành đồng thời ở cả kho và phòng kế
toán trên cùng cơ sở các chứng từ nhập, xuất kho. Các doanh nghiệp phải tổ chức hệ thống
chứng từ, mở các sổ kế toán chi tiết về lựa chọn, vận dụng phương pháp kế toán chi tiết vật liệu,
công cụ, dụng cụ cho phù hợp nhằm tăng cường công tác quản lý tài sản nói chung, công tác
quản lý vật liệu, công cụ, dụng cụ nói riêng.
1.4.1 Chứng từ sử dụng.
- Phương pháp sổ số dư
Mọi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng. Trong việc hạch toán chi tiết vật
liệu giữa kho và phòng kế toán cần có sự nghiên cứu, lựa chọn phương pháp thích hợp với điều
kiện cụ thể của doanh nghiệp. Và như vậy cần thiết phải nắm vững nội dung, ưu nhược điểm và
điều kiện áp dụng của mỗi phương pháp đó.
1.4.2.1 Phương pháp thẻ song song.
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp dùng giá mua thực tế để ghi
chép kế toán vật tư tồn kho.
- Ở kho: Thủ kho dùng thẻ kho để phản ánh tình hình nhập, xuất, tồn vật liệu, công cụ
dụng cụ về mặt số lượng.
Khi nhận các chứng từ nhập, xuất vật liệu, công cụ dụng cụ, thủ kho phải kiểm tra tính
hợp lý, hợp pháp của chứng từ rồi tiến hành ghi chép số thực nhập, thực xuất vào chứng từ thẻ
kho. Cuối ngày tính ra số tồn kho ghi vào thẻ kho. Định kỳ thủ kho gửi (hoặc kế toán xuống kho
nhận) các chứng từ xuất, nhập đã được phân loại theo từng thứ vật liệu, công cụ dụng cụ cho
phòng kế toán.
- Ở phòng kế toán: Kế toán sử dụng sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ để
ghi chép tình hình nhập, xuất, tồn kho theo chỉ tiêu hiện vật và giá trị. Về cơ bản, sổ (thẻ) kế toán
chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ có kết cấu giống như thẻ kho nhưng có thêm các cột để ghi
chép theo chỉ tiêu giá trị. Cuối tháng kế toán cộng sổ chi tiết vật liệu, công cụ dụng cụ và kiểm
tra đối chiếu với thẻ kho. Ngoài ra để có số liệu đối chiếu, kiểm tra với kế toán tổng hợp cần phải
tổng hợp số liệu trên sổ chi tiết vào Bảng tổng hợp nhập, xuất, tồn kho vật liệu, công cụ dụng cụ
theo từng nhóm, loại vật liệu, công cụ dụng cụ.
16
Phương pháp này đơn giản, dễ thực hiện nên áp dụng thích hợp đối với những doanh
nghiệp có quy mô nhỏ, số luợng nghiệp vụ ít.
SƠ ĐỒ KẾ TOÁN CHI TIẾT VẬT LIỆU, CÔNG CỤ DỤNG CỤ
THEO PHƯƠNG PHÁP THẺ SONG SONG.
* Ghi chú:
- Ghi hàng ngày
- Ghi cuối tháng
Phiếu nhập
kho
Phiếu xuất
kho
Bảng tổng hợp
nhập, xuất, tồn kho
Kế toán
tổng hợp
Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển có ưu điểm là giảm được khối lượng ghi chép của
kế toán do chỉ ghi một kỳ vào cuối tháng, nhưng có nhược điểm là việc ghi sổ vẫn còn trùng lặp,
việc kiểm tra đối chiếu giữa kho và phòng kế toán chi tiến hành được vào cuối tháng do trong
tháng kế toán không ghi sổ. Tác dụng của kế toán trong công tác quản lý bị hạn chế. Phương
pháp sổ đối chiếu luân chuyển được áp dụng thích hợp trong các doanh nghiệp có khối lượng
nghiệp vụ nhập, xuất không nhiều, không bố trí riêng nhân viên kế toán vật tư, do vậy không có
điều kiện ghi chép, theo dõi tình hình kế toán nhập, xuất hàng ngày.
1.4.2.3. Phương pháp sổ số dư.
Phương pháp sổ số dư còn được gọi là phương pháp nghiệp vụ - kế toán. Nội dung của
phương pháp này là sự kết hợp chặt chẽ kế toán vật tư tồn kho với hạch toán nghiệp vụ ở nơi
bảo quản. Phương pháp sổ số dư được áp dụng cho những doanh nghiệp sử dụng giá hạch toán
để kế toán chi tiết vật tư tồn kho.
- Ở kho: Mở các thẻ kho để ghi chép, phản ánh số hiện có và sự biến động của vật tư về
số lượng trên cơ sở các chứng từ nhập, xuất kho. Ngoài ra thủ kho còn phải ghi số lượng vật tư
tồn kho cuối tháng theo từng danh điểm vào sổ số dư.
- Ở phòng kế toán: Định kỳ ngắn nhân viên kế toán phải xuống kho để hướng dẫn và
kiểm tra việc ghi chép nghiệp vụ trên các thẻ kho ở các kho bảo quản, và tính số dư vật tư hiện
còn tại thời điểm đã kiểm tra ngay trên thẻ kho. Cuối tháng, sau khi đã kiểm tra lần cuối kế toán
kê số dư vật tư hiện còn cả về số lượng, và trị giá hạch toán vào bảng kê số dư để đối chiếu với
sổ chi tiết của kế toán.
Phương pháp sổ số dư được áp dụng thích hợp trong các doanh nghiệp có khối lượng
các nghiệp vụ kinh tế (chứng từ nhập, xuất) về nhập, xuất vật liệu diễn ra thường xuyên, nhiều
chứng từ xuất
Bảng luỹ kế nhập,
xuất, tồn kho vật
tư
Kế toán
tổng hợp
Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi việc nhập, xuất vật tư được
thực hiện thường xuyên liên tục căn cứ vào các chứng từ nhập, xuất kho để ghi vào tài khoản vật
tư.
Mọi trường hợp tăng, giảm vật tư đều phải có đầy đủ chứng từ kế toán làm cơ sở pháp lý
cho việc ghi chép kế toán. Các chứng từ ghi tăng, giảm vật tư bao gồm các chứng từ bắt buộc và
các chứng từ hướng dẫn đã được chế độ kế toán quy định cụ thể. Các chứng từ kế toán bắt buộc
phải được lập kịp thời, đúng mẫu quy định và đầy đủ các yếu tố nhằm đảm bảo tính pháp lý để
ghi sổ kế toán. Việc luân chuyển chứng từ cần có kế hoạch cụ thể nhằm đảm bảo công việc ghi
chép kế toán được kịp thời và đầy đủ.
Phương pháp này được sử dụng phổ biến hiện nay ở nước ta vì những tiện ích của nó, bởi
nó có độ chính xác cao, cung cấp thông tin về vật tư một cách kịp thời. Theo phương pháp này,
tại bất kỳ một thời điểm nào kế toán cũng có thể xác định được lượng nhập, xuất, tồn kho từng
loại hàng tồn kho nói chung và vật tư nói riêng.
1.5.1 Tài khoản sử dụng.
* TK 151: Hàng mua đang đi đường
TK này phản ánh trị giá vật tư, hàng hoá doanh nghiệp đã mua, đã thanh toán tiền hoặc
đã chấp nhận thanh toán nhưng chưa nhập kho và số hàng đang đi đường cuối tháng trước.
* TK 152: Nguyên liệu và vật liệu
TK này phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động của nguyên liệu, vật liệu theo giá
gốc.
* TK 153: Công cụ, dụng cụ
TK này phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động của công cụ, dụng cụ trong kỳ
theo giá gốc.
TK 153 có 3 TK cấp 2:
bán hoặc được giảm giá, kế toán ghi:
Nợ TK 111, 112, 331, …
Có TK 152, 153 ( Giá mua chua có thuế )
Có TK 133 (Thuế GTGT được khấu trừ nếu có )
_ Khi mua vật tư, nếu doanh nghiệp thanh toán sớm tiền hàng theo quy định của hợp
đồng thì sẽ được bên bán dành cho một khoản tiền chiết khấu thanh toán, kế toán ghi:
Nợ TK 331: Phải trả người bán
21
Nợ TK 111, 112 …
Có TK 515: Doanh thu hoạt động tài chính
_ Trường hợp vật tư nhập khẩu, doanh nghiệp phải tính thuế nhập khẩu theo giá nhập
khẩu và tính thuế GTGT phải nộp cho NSNN.
+ Căn cứ phiếu nhập kho kế toán ghi:
Nợ TK 152, 153
Có TK 331: Phải trả cho người bán
Có TK 333: Thuế và các khoản phải nộp cho nhà nước
+ Tính thuế GTGT hàng nhập khẩu phải nộp được khấu trừ:
Nợ TK 133: Thuế GTGT được khấu trừ
Có TK 333: Thuế và các khoản phải nộp nhà nước
Đối với vật tư nhập khẩu dùng cho SXKD hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT theo
phương pháp trực tiếp hoặc hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế , hoặc dùng vào hoạt động phúc
lợi, dự án kế toán ghi:
Nợ TK 152, 153 ( Giá có thuế NK và thuế GTGT hàng nhập khẩu)
Có TK 331: Phải trả người bán
Có TK 333: Thuế và các khoản phải nộp nhà nước
_ Các khoản chi phí liên quan đến quá trình thu mua vật tư được tính vào giá vật tư, kế
toán ghi:
Nợ TK 153, 153
Nợ TK 133
Có TK 111, 112, 331 …
vào chi phí SXKD, khi xuất kho công cụ, dụng cụ ghi:
Nợ TK 142: ( CCDC có giá trị lớn và có thời gian sử dụng dưới 1 năm)
Nợ TK 242: ( CCDC có giá trị lớn và có thời gian sử dụng trên 1 năm)
23
Có TK 153: Công cụ, dụng cụ
• Khi phân bổ giá trị CCDC xuất dùng cho từng kỳ kế toán ghi:
Nợ TK 623, 627, 641, 642,…
Có TK 142: Chi phí trả trước ngắn hạn
Có TK 242: Chi phí trả trước dài hạn
• Tính giá trị từng lần phân bổ vào chi phí:
Giá trị CC, DC
phân bổ mỗi lần
=
Giá trị CC, DC xuất dùng
Số lần phân bổ
_ Khi xuất vật tư để góp vốn liên doanh, góp vốn vào công ty liên kết kế toán phản ánh
trị giá vốn góp theo giá Hội đồng liên doanh đã xác định, phần chênh lệch giữa trị giá vốn ghi sổ
với trị giá vốn góp được phản ánh ở TK 811 hoặc TK 711, kế toán ghi:
Nợ TK 222, 223: ( Theo giá đánh giá lại)
Nợ TK 811: ( Chênh lệch giữa giá đánh giá lại nhỏ hơn giá trị ghi sổ)
Có TK 152, 153: ( Theo giá trị ghi sổ)
Có TK 711: ( Chênh lệch giữa giá đánh giá lại lớn hơn giá trị ghi sổ_
Phần tương đương vốn sở hữu của các bên khác trong liên doanh)
Có TK 3387: (Chênh lệch giữa giá đánh giá lại lớn hơn giá trị ghi sổ_
Phần tương đương vốn sở hữu của doanh nghiệp làm liên doanh)
_ Vật tư đã xuất ra sử dụng cho SXKD nhưng không sử dụng hết nhập kho, kế toán ghi:
Nợ TK 152, 153
Có TK 621: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Có TK 623: Chi phí sử dụng máy thi công
Có TK 627: Chi phí sản xuất chung
+ Nếu đánh giá lại nhỏ hơn giá ghi sổ kế toán, phần chênh lệch do đánh giá lại, kế toán
ghi:
Nợ TK 412
Có TK 152, 153
25